Xây dựng mô hình quản lý rác thải sinh hoạt dựa vào cộng đồng tại xã Sơn Diệm huyện Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh - Pdf 36

MỤC LỤC


DANH MỤC BẢNG BIỂU


DANH MỤC HÌNH ẢNH


DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
CTRSH
UBND

Chất thải rắn sinh hoạt
Ủy ban nhân dân

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận chuyên ngành quản lý môi trường môi trường,
tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo ThS. Phạm Thị Hồng Phương đã
tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình viết khóa luận tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong khoa Môi Trường Trường Đại Học Tài Nguyên Và Môi Trường Hà Nội đã tận tình truyền đạt
kiến thức trong thời gian học tập tại khoa. Với vốn kiến thức được tiếp thu
trong quá trình học, không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận
mà còn là hành trang quý báu để tôi bước vào đời một cách vững vàng tự tin.
Tôi xin chân thành cảm ơn UBND xã Sơn Diệm, UBND huyện Hương
Sơn tỉnh Hà Tĩnh đã tạo điều kiện cho tôi điều tra, khảo sát để có dữ liệu viết
luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể nhân dân và các cán bộ đia phương
thôn 1 xã Sơn Diệm đã tạo điều kiện cho tôi điều tra, khảo sát để có dữ liệu
thực hiện khóa luận này.
Mặc dù tôi đã rất cố gắng hoàn thành bản luận văn bằng tất cả sự nhiệt

nay là 117.259 người. Với tình hình kinh tế ngày càng phát triển kéo theo rác
thải thải ra môi trường ngày càng nhiều đặc biệt là rác thải sinh hoạt của
người dân địa phương.


7

Rác thải sinh hoạt là một trong những nguyên nhân trực tiếp gây ra ô
nhiển môi trường nếu chúng ta không biết quản lý một cách đúng đắn. Nhưng
nếu chúng ta biết cách quản lý phù hợp và tận dụng nó sẻ trở thành nguồn tài
nguyên có giá trị thông qua tái chế và tái sử dụng đồng thời tạo ra thu nhập
cho người dân. Trong các chủ thể tham gia quản lý rác thải, cộng đồng có vai
trò rất quan trọng. Xuất phát từ những vấn đề đó mà em đã quyết định chon
nghiên cứu đề tài: “Xây dựng mô hình quản lý rác thải sinh hoạt dựa vào
cộng đồng tại xã Sơn Diệm huyện Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh” làm đồ tốt
nghiệp


8

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan về rác thải sinh hoạt

“ Rác thải sinh hoạt là những chất thải có liên quan đến các hoạt động
của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan,
trường học, các trung tâm dịch vụ, thương mại. Rác thải sinh hoạt có thành
phần bao gồm kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá, cao su, chất
dẻo, thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, xương động vật, tre, gỗ, lông
gà lông vịt, vải, giấy, rơm, rạ, xác động vật, vỏ rau quả vv…”
1.1.1 Vấn đề rác thải sinh hoạt trên thế giới

(megatonnes) hàng năm. Các bãi mở chính là nguyên nhân đe dọa nghiêm
trọng tới môi trường và sức khỏe con người. Tại Mỹ, năm 1970 tổng lượng
chất thải rắn sinh hoạt đô thị phát sinh ước tính là 121,1 triệu tấn, trong khi đó
năm 2010, tổng lượng RT sinh hoạt đô thị phát sinh tại Mỹ vào khoảng 254
triệu tấn, tăng gấp 2,1 lần so với năm 1970. Châu Á có mức tăng trưởng kinh
tế và đô thị hoá nhanh trong vài thập kỷ qua. Vấn đề chất thải rắn là một trong
những thách thức môi trường mà các nước trong khu vực phải đối mặt. Lượng
phát sinh chất thải đô thị một số nước Châu Á vào khoảng từ 0,2kg đến 1,7
kg/người/ngày.
Theo nguyên tắc thì các nước có thu nhập cao có lượng phát sinh chất
thải rắn đô thị cao. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây ở các nước đang phát
triển cho thấy, tỷ lệ phát sinh chất thải tính theo các mức thu nhập khác nhau
lại không theo nguyên tắc này. Theo kết quả nghiên cứu của Cơ quan Hợp tác
quốc tế Nhật Bản (JICA, 1997), tỷ lệ phát sinh chất thải rắn đô thị ở Philipin
theo các nhóm người có thu nhập khác nhau là: thu nhập cao: 0,37- 0,55
kg/người/ngày, thu nhập trung bình: 0,37 - 0,60 kg/người/ngày và thu nhập
thấp: 0,62 - 0,90 kg/người/ngày. Tương tự, các kết quả phân tích tỷ lệ phát
sinh chất thải rắn đô thị theo GDP tính trên đầu người của các nước thuộc
OECD, Hoa Kỳ và Ôxtrâylia được xếp vào nhóm các nước có tỷ lệ phát sinh


10

cao; nhiều nước thuộc Liên minh châu Âu được xếp vào nhóm có tỷ lệ phát
sinh trung bình và Thụy Điển, Nhật Bản được xếp vào nhóm có tỷ lệ phát sinh
thấp (UN, 2005).
Có nhiều nguyên nhân để giải thích các trường hợp này. Thứ nhất là,
không thống kê được đầy đủ tổng lượng chất thải được tái chế do các hoạt
động của khu vực tái chế không chính thức hoặc do phương thức tự tiêu huỷ
chất thải ở các nước đang phát triển. Khu vực tái chế không chính thức ở các

thị (0,3 kg/người/ngày so với 0,7 kg/người/ngày), thành phần chủ yếu chất
thải nông thôn là chất hữu cơ dễ phân hủy (đối với chất thải nông nghiệp
99%; đối với chất thải sinh hoạt gia đình ở nông thôn là 65% trong khi đó
thành thị là 50%) (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2010). Thành phần và khối
lượng chất thải rắn của nước ta được trình bày trong bảng 1.1
Bảng 1.1. Thành phần và khối lượng chất thải rắn ở Việt Nam năm 2010
Phân loại
Chất thải
sinh hoạt
Chất thải
công
nghiệp
nguy hại
Các chất
thải y tế
Chất thải
phi nông
nghiệp

Nguồn

Thành
phần
Thức ăn,
nhựa, giấy,
thủy tinh

Các khu
thương
mại gần


21.500

8.266.000

7.172.000

15.459.900

Nguồn: Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam, 2013
b. Tình hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị của Việt Nam


12

Hiện nay mới chỉ có gần 3/4 rác thải đô thị Việt Nam được thu gom. Các
đô thị có tỉ lệ thu gom chất thải cao là các đô thị đã thực hiện tốt việc xã hội
hóa trong thu gom và vận chuyển rác thải sinh hoạt. Cả nước hiện có khoảng
150 đơn vị hoạt động tổng hợp hoặc chuyên ngành trong lĩnh vực quản lý chất
thải rắn ở 93 thành phố và thị xã, trong đó chỉ có một số doanh nghiệp tư nhân
còn lại là các doanh nghiệp công ích và đơn vị sự nghiệp hành chính có thu
(Cục bảo vệ môi trường, 2009)
Thành phố Hồ Chí Minh được coi là 1 trong 2 thành phố đi đầu trong cả
nước về xã hội hóa công tác thu gom vận chuyển chất thải. Thu gom vận
chuyển chất thải rắn do Công ty môi trường đô thị quản lý chung. Công ty thu
gom 55- 60% lượng chất thải rắn. Còn lại là các đơn vị môi trường đô thị của
các quận huyện thu gom khoảng 20% và các hợp tác xã vận tải thu gom
khoảng 20-25%. Tỷ lệ tham gia vào công tác thu gom vận chuyển chất thải
sinh hoạt giữa các thành phần tư nhân và nhà nước ở Tp. Hồ Chí Minh là 40%
và 60% (8).

vận chuyển chất thải. Chi phí tiêu huỷ chất thải tương đối thấp. Khó khăn chủ
yếu đối với việc đảm bảo tính bền vững của các hoạt động đầu tư chủ yếu vẫn
là chi phí tài chính để vận hành các hệ thống quản lý chất thải.
c. Quản lý chất thải rắn sinh hoạt nông thôn
Hiện nay nhà nước mới chủ yếu đầu tư quản lý chất thải rắn đô thị, việc
quản lý chất thải rắn khu vực nông thôn còn thiếu nhiều khâu từ cơ chế, chính
sách đến trang thiết bị, cơ sở hạ tầng. Đã xuất hiện một số mô hình về quản lý
chất thải rắn nông thôn, tuy vậy mới dừng lại ở các mô hình thí điểm từ
nghiên cứu đề tài khoa học, dự án thí điểm hoặc tự phát do dân quá bức xúc
mà đứng ra tổ chức. Từ những lý do trên mà tỷ lệ chất thải rắn được thu gom
rất thấp, chất thải rắn khu vực nông thôn hiện nay chủ yếu là đổ lộ thiên và
đốt thủ công.


14

Kết quả điều tra của dự án từ các huyện cho thấy tỷ lệ thu gom rác thải
sinh hoạt rất thấp, đặc biệt ở các huyện miền núi như Eakar - Đăc Lắc: 2,7%
và vùng biển như Giao Thủy – Nam Định: 3,64% (Bảng 1.2).
Bảng 1.2. Tỷ lệ thu gom chất thải rắn ở một số huyện
Huyện
Thuận Thành Bắc Ninh
Nho Quan –
Ninh Bình
Bình Xuyên
-Vĩnh Phúc
Giao Thủy –
Nam Định

Tỉ lệ thu gom



15

Bảng 1.3. Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt ở một số thị trấn
Thị trấn

Tỷ lệ thu gom
RTSH (%)

Hồ -Bắc Ninh

55

Nho Quan –Ninh Bình

65

Hương Canh-Vĩnh Phúc

15

Tam Điệp - Ninh Bình

50

Thị trấn

Tỷ lệ thu
gom RTSH

thị trấn, xã như: đổ bữa bãi ven đường; các gia đình tự xử lý và đổ thành bãi
rác lộ thiên (Bảng 1.4 và Bảng 1.5).
Bảng 1.4. Thống kê các biện pháp xử lý chất thải rắn ở một số thị trấn
Đơn vị: % khối lượng rác


16

Địa
phươn
g

Hồ

Nho
Qua
n

Hươn
g
Canh

Vân
Đình

Quất
Lâm

Lâm


5

10

45

23,33

55

65

15

50

15

70

30

42,56

Giải pháp
Đổ ven
đương
Gia đình tự
xử lý
Bãi rác lộ


An
Mỹ

Giao
Yến

Ngọc Trung
Thanh bình

Giải pháp
Đổ ven đương
Gia đình tự xử lý
Bãi rác lộ thiên

45
90
0
50
44,29
20
10
30
25
34,29
35
0
70
25
20

lên hệ miễn dịch gây ra các bệnh tim mạch, tê liệt hệ thần kinh, giảm khả
năng trao đổi chất trong máu, ung thư và có thể di chứng di tật sang thế hệ thứ
3... Chất thải nông nghiệp, đặc biệt chất thải chăn nuôi đang là một trong
những vấn đề bức xúc của người nông dân.
Có những vùng, chất thải chăn nuôi đã gây ô nhiễm cả không khí,
nguồn nước, đất và tác động xấu đến sức khoẻ người dân ở nông thôn. Trong
một điều tra tại tỉnh Thái Nguyên đối với 113 hộ gia đình chăn nuôi từ 20 con
lợn trở lên đã cho thấy gần 50% các hộ có nhà ở gần chuồng lợn từ 5-10m và
giếng nước gần chuồng lợn 5m thì tỷ lệ nhiễm giun đũa, giun tóc, giun móc
và số trứng giun trung bình của người chăn nuôi cao gần gấp hai lần tỷ lệ
nhiễm ký sinh trùng đường ruột của người không chăn nuôi và có sự tương


18

quan thuận chiều giữa tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đường ruột với ký sinh trùng
trong đất ở các hộ chăn nuôi ( Đại học Y khoa Thái Nguyên, 2015).
1.3. Mô hình quản lý rác thải sinh hoạt dựa vào cộng đồng
1.3.1 Cơ sở lý luận quản lý rác thải sinh hoạt dựa vào cộng đồng
* Khái niệm về cộng đồng và tổ chức cộng đồng
Có nhiều khái niệm khác nhau về cộng đồng. Thông thường, cộng đồng
được hiểu là tập hợp những người có chung lịch sử hình thành, có chung địa
bàn sinh sống, có cùng luật lệ và quy định hay tập hợp những người có cùng
những đặc điểm tương tự về kinh tế - xã hội và văn hoá.
Cũng có quan niệm khác, cộng đồng là một nhóm người có chung sở
thích và lợi ích, có chung địa bàn sinh sống, có chung ngôn ngữ (hoặc loại
ngôn ngữ) và có những đặc điểm tương đồng.
Hiện nay ở nước ta, thuật ngữ cộng đồng đã được sử dụng khá phổ biến
trong đời sống kinh tế xã hội. Cộng đồng có thể là một nhóm nhỏ dân cư (ví
dụ như cộng đồng dân cư ở một thôn, xã, cộng đồng những người tái chế chất

- Tổ chức cộng đồng thành lập theo quy định pháp lý về kinh tế, hợp tác,
như: tổ hợp tác, hợp tác xã,…
* Khái niệm về sự tham gia của cộng đồng
Có nhiều cách hiểu khác nhau về sự tham gia của cộng đồng:
Paul (1987) cho rằng, phát triển cộng đồng là một quá trình tích cực mà
cồng đồng tác động đến hướng và việc thực hiện dự án phát triển nhằm nâng
cao phúc lợi của họ về mặt thu nhập, phát triển cá nhân, niềm tin cá nhân hoặc
các giá trị khác mà họ mong muốn.
Tổ chức phát triển Quốc tế Canada (CIDA) quan niệm tham gia cộng
đồng là thu hút các nhóm đối tượng mục tiêu vào các khâu của chu trình dự
án từ thiết kế, thực hiện và đánh giá dự án với mục tiêu nhằm xây dựng năng


20

lực của người nghèo để duy trì được cơ sở hạ tầng và kết quả mà dự án đã tạo
ra được trong quá trình thực hiện, và tiếp tục phát triển sau khi tổ chức hay cơ
quan tài trợ rút khỏi dự án. Cách tiếp cận này được sử dụng khá phổ biến
trong các lĩnh vực, các dự án trên thế giới.
a. Trách nhiệm của cộng đồng trong việc quản lý môi trường RTSH
Xây dựng “hương ước”, quy định của cộng đồng dân cư về quản lý môi
trường: Phí môi trường (rác thải, nước thải)
- Bàn bạc thống nhất có sự tham gia của cả cộng đồng với đầy đủ các
thành phần sống trong khu dân cư (các thành phần trong hệ thống chính trị,
đoàn thể, các hội,...) về quy hoạch, bố trí bãi đổ rác thải, chôn lấp rác, xử lý
rác, nhà xưởng nghiền phân.
- Quy chế giám sát của cộng đồng việc thực hiện các quy định của cộng
đồng về quản lý MT.
b. Lập kế hoạch có sự tham gia của cộng đồng
Hiện nay, rất nhiều hình thức lập kế hoạch có sự tham gia khác nhau liên

phương.
- Tuyên truyền vận động người dân và chính quyền hưởng ứng việc thu
gom, xử lý rác.
- Lên phương án khả thi về xây dựng và tổ chức thực hiện.
- Dựa trên phương án khả thi, phân bổ nguồn kinh phí do Tổ chức ủng hộ
và phần kinh phí do tỉnh, huyện và nhân dân cần phải đóng góp để thực
hiện.
- Tổ chức đội thu gom, vận chuyển và xử lý rác.
- Tuyên truyền, tập huấn cho người dân từ khâu phân loại khi bỏ rác vào
thùng và có thói quen đổ rác như ở các thành phố.


22

- Việc phân loại rác được tiến hành từ các gia đình, tại trạm tiếp tục lựa
chọn, phân loại tiếp trong quá trình tập kết, đổ rác.
- Xây dựng trạm xử lý rác cho nông thôn đảm bảo quy chuẩn kĩ thuật môi
trường.
1.4. Tổng quan về điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội xã Sơn Diệm
1.4.1. Vị trí địa lý xã Sơn Diệm
Sơn Diện là 1 xã miền núi thuộc huyện Hương Sơn, nằm về phía tây bắc
của tỉnh Hà Tĩnh:
+ Phía bắc giáp xã Sơn Quang.
+ Phía tây giáp xã Sơn Tây.
+ Phía bắc giáp thị trấn Phố Châu
+ Phía nam giáp xã Sơn Hàm
Xã bao gồm 9 thôn với tổng điện tích tự nhiên 3.680,49ha dân số hiện
nay là 11.684 người
1.4.2. Điều kiện tự nhiên
+ Khí hậu: Khí hậu xã Sơn Diệm không có sự khác biệt với khí hậu của

- Trên địa bàn xã có 4 trường học: 02 trường mầm non, 01 trường tiểu
học, 01 trường THCS; 01 trạm y tế, 01 phòng khám đa khoa khu vực; 9/9 nhà
văn hóa thôn, có 09 thôn có cụm loa phát thanh.
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu


24

Xây dựng mô hình quản lý rác thải sinh hoạt dựa vào cộng đồng tại xã
Sơn Diệm huyện Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
-

Thời gian: 01/12/2015 đến 21/01/2016
Không gian: Trên địa bàn xã Sơn Diệm
2.2 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu
2.2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Xây dựng được quy trình thực hiện mô hình quản lý rác thải sinh hoạt
dựa vào cộng đồng
- Áp dụng mô hình quản lý rác dưa vào cộng đồng tại xã Sơn Diệm
huyện Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh
2.2.2 Nội dung nghiên cứu
Đánh giá hiện trạng công tác quản lý rác thải tại xã Sơn Diệm huyện
Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh
+ Nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt
+ Thành phần chất thải rắn sinh hoạt
+ Lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt

thôn 5 mỗi thôn sẻ tương ứng với 10 phiếu
+ 10 phiếu dành cho cán bộ địa phương
Với 10 phiếu điều tra dự kiến sẻ khảo sát 4 thôn là thôn 1 (3 phiếu), thôn
2 (2 phiếu), thôn 3 (2 phiếu) và thôn 5 (3 phiếu)

2.3.3 Phương pháp tham vấn cộng đồng (PRA)
Là cách thức và phương pháp được dùng để tiếp cận thực hiện một quá
trình thông tin hai chiều giữa người dân giưa cộng đồng và nhóm công tác
PRA (nhóm phát triển cộng đồng ở ngoài vào cộng đồng) để nhằm thu hút và
khuyến khích tính chủ động tham gia, tính sáng tạo và trí tuệ của mọi người



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status