ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
------------------
NIÊN LUẬN
VẤN ĐỀ ÁP DỤNG ÁN TỬ HÌNH Ở
VIỆT NAM VÀ TÍNH NHÂN ĐẠO
TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ 2015
Giáo viên hướng dẫn
Sinh viên thực hiện:
TS. Hà Lệ Thủy
Đặng Thị Thanh Nhàn
Mã sinh viên: 13a5011250
Lớp: Luật K37D
1
Huế,6/2016
2
MỤC LỤC
3
điều đó đã mang lại một cái nhìn khác đối với các quốc gia trên thế giới, cái
4
nhìn đầy tính nhân đạo trong pháp luật Việt Nam. Hơn nữa còn mang đến
niềm tin vào vào cuộc sống, tạo ra một phép màu khi sinh ra lần thứ hai một
con người giúp cho họ và gia đình họ mở ra một trang mới trong trong cuộc
sống này, là cơ hội để chuộc lại và suy ngẫm ăn năn về những lỗi lầm mà họ
đã phạm phải.
Và việc quy định giảm hình phạt tử hình đối với một số tội trong Luật
Hình sự 2015 và tính nhân đạo khi ban hành nó sẽ mang đến những vấn đề gì.
Vì những thắc mắc những trăn trở đó đã thôi thúc cá nhân tôi bắt tay vào
nghiên cứu đề tài này trên một góc nhìn và bình diện mới. Đề tài mang tên:
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài.
Đây là một đề tài có rất nhiều người quan tâm đến, nó là một vấn đề
phức tạp ta thấy nó rất quen thuộc nhưng mà nó rất mới lạ cũ mà như mới. Đề
tài vừa mang tính lý luận vừa mang tính thực tiễn và có rất nhiều ý kiến khác
nhau về việc áp dụng hình thức tử hình và tính nhân đạo của nó.
Song song với nhiều ý kiến tiêu cựa thì luôn có những ý kiến trái chiều,
do đó nó luôn là tâm điểm nghiên cứu cho nhiều đè tài nghiên cứu của các
giáo sư tiến sĩ các nhà khoa học nghiên cứu và mỗi người có một ý kiến khác
nhau… Một số người thì cho rằng muốn bảo vệ tính nghiêm minh của pháp
luật, muốn giữ vững công lí thì nên duy trì hình phạt tử hình, việc áp dụng
hình phạt tử hình nhằm trừng trị thích đáng những kẻ phạm tội đặc biệt
nghiêm trọng thông qua đó còn có tác dụng răn đe cảnh báo cho người dân để
người dân không thực hiện những hành vi phạm tội nữa.
Riêng đối với cá nhân tôi lại có những suy nghĩ và cách tiếp cận khác
trong bài niên luận này sẽ có cái nhìn nhân tổng quan vì áp dụng hình phạt tử
hình thông qua việc đan xen đối chiếu so sánh vấn đề áp dụng án tử hình và
tính nhân đạo gtrong Bộ Luật Hình Sự 2015.
-
trong những năm tới đây.
Phần kết luận.
6
B. PHẦN NỘI DUNG
1.1. Khái niệm
- Khái niệm hình phạt tử hình: tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất do
nhà nước áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng để loại trừ
người đó vĩnh viễn ra khỏi đời sống xã hội.
- Hình phạt tử hình là một hiện tượng xã hội mang tính khách quan. Nó
là phương tiện để bảo vệ mình của xã hội chống lại sự vi phạm các điều kiện
tồn tại của nó. Tội phạm đe dọa sự tồn tại của xã hội nên xã hội phải phản ứng
một cách tự nhiên là trừng trị người phạm tội. Hình phạt tử hình còn mang
tính lịch sử, tính giai cấp. Sự tồn tại và phát triển của nó gắn liền với sự phát
triển của lịch sử loài người. Nó là sản phẩm của xã hội phát triển đến một giai
đoạn nhất định mà ở đó xuất hiện nhà nước và pháp luật. Nó là công cụ mà
Nhà nước sử dụng để bảo vệ và củng cố địa vị thống trị của mình.
Theo quy định của Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 tại Điều
35 có quy định tử hình là hình phạt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc
biệt nghiêm trọng
Theo quy định của Bộ luật hình sự 2015 tai khoản 1 Điều 40 có quy
định: tử hình là hình phạt đặc biêt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt
nghiêm trọng thuộc trong nhóm tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, xâm
phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy tham nhũng và một số tội
phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật này quy định.
“ là đạo đức thể hiện tìnhthương yêu với ý thức tôn trọng giá trị phẩm chất
của con người”.Nhân đạo là một phạm trù lịch sử cụ thể. Là một giá trị xã hội
được sản sinh trong quátrình đấu tranh chống cái ác của loài người, đặc biệt
trong thời kỳ đấu tranh vì tự do, bình đẳng, nhân đạo chỉ xuất hiện khi xã hội
phân chia giai cấp, Nhà nước và pháp luậtra đời. Tương ứng với một hình thái
kinh tế - xã hội, có một kiểu quan niệm thống trị vềnhân đạo trong xã hội. Nội
dung, bản chất và quan niệm thống trị đó do các điều kiệnkinh tế, văn hóa xã
hội của các xã hội tương ứng quyết định.Nhân đạo không chỉ là một phạm trù
lịch sử cụ thể mà còn là một phạm trù mang tínhgiai cấp. Trong các xã hội
khác nhau và thậm chí ngay cả trong một xã hội nhất định đãkhông có và
không thể có sự nhận thức và quan niệm thống nhất về nhân đạo. Tưtưởng,
tình cảm, thái độ đối xử của con người trong xã hội bao giờ cũng xuất phát từ
lợiích giai cấp, tầng lớp mà họ làm thành viên. Nhân đạo còn mang cả tính
8
nhân loại thể hiện ở các quan niệm truyền thống của xã hộiloại người được rút
ra từ những quy tắc tối thiểu của đời sống xã hội, những quy tắc từ bao thế kỉ
vẫn được nhắc đi nhắc lại
-
Nguyên tắc nhân đạo trong luật hình sự Việt Nam: nguyên tắc nhân đạo là
nguyên tắc quan trọng của pháp luật Hình sự nhằm đảm bảo tính nhân văn,
bảo vệ những quyền tối thiểu của con người dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào.
Nguyên tắc này thể hiện bản chất Nhà nước của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thể hiện tư
tưởng vì con người của định hướng đi lên nhà nước xã hội chủ nghĩaNguyên
tắc này thể hiện ở việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội chủ yếu
nhằm cải tạo, giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội. Hình phạt không
gây đau đớn về thể xác của người phạm tội. Bộ luật hình sự có nhiều quy định
Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người dưới 18 tuổi khi phạm
tội, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc người đủ 75
tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử.
Không thi hành án tử hình đối với người bị kết án nếu thuộc một trong
các trường hợp sau đây:
+ Phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi;
+ Người đủ 75 tuổi trở lên;
+ Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau
khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ
và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý
tội phạm hoặc lập công lớn.
Trong trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này hoặc trường hợp người
bị kết án tử hình được ân giảm, thì hình phạt tử hình được chuyển thành tù
chung thân.
10
Luật quốc tế
Theo quy định của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị tại
Điều 6
- Mọi người đều có quyền cố hữu là được sống. Quyền này phải được
pháp luật bảo vệ. Không ai có thể bị tước mạng sống một cách tuỳ tiện.
- Ở những nước mà hình phạt tử hình chưa được xoá bỏ thì chỉ được
phép áp dụng án tử hình đối với những tội ác nghiêm trọng nhất, căn cứ vào
luật pháp hiện hành tại thời điểm tội phạm được thực hiện và không được trái
với những quy định của Công ước này và của Công ước về ngăn ngừa và
trừng trị tội diệt chủng. Hình phạt tử hình chỉ được thi hành trên cơ sở bản án
đã có hiệu lực pháp luật, do một toà án có thẩm quyền phán quyết.
- Khi việc tước mạng sống của con người cấu thành tội diệt chủng, cần
bản. Điều đó lý giải vì sao pháp luật ngày nay càng ngày càng có tính nhân
đạo sâu sắc. Vấn đề là ở chỗ, pháp luậttrước đây được xây dựng trên nền tảng
của cơ sở kinh tế hạ tầng thấp kém, do vậy tínhnhân đạo được thể hiện trong
pháp luật cũng thấp hơn ngày nay.
Thứ hai, tồn tại trong một xã hội nhất định với tính cách là những nhân
tố quan trọngđiều chỉnh các quan hệ xã hội, cả nhân đạo và pháp luật đều gắn
liền với lợi ích màtrước hết là lợi ích của giai cấp thống trị về kinh tế và chính
trị trong xã hội đó.
Thứ ba, bởi là những phương tiện quan trọng điều chỉnh hành vi của con
người trong xãhội có giai cấp, cả nhân đạo lẫn pháp luật tồn tại, hoạt động
trong sự tác động, bổ sungcho nhau nhằm duy trì và củng cố trật tự xã hội.
Thứ tư, pháp luật là phương tiện ghi nhận và thực hiện nhân đạo có
hiệu quả nhất. Phápluật ra đời còn là nhằm chuyển tải, chuẩn mực hóa quan
niệm nhân đạo chung của xãhội. Qua pháp luật, các quan niệm, quan điểm tư
tưởng nhân đạo đi vào đời sống xã hộimột cách đầy đủ và mạnh mẽ.Trong bối
cảnh toàn cầu hóa hiện nay, nhiều giá trị nhân đạo đã mang tính toàn cầu
hóa bắt buộc chung.
Điều này được thể hiện trong các điều ước quốc tế về nhân quyền.
Tuynhiên hiện nay vẫn còn có những giá trị nhân đạo ở các quốc gia còn khác
nhau. Điềunày chúng ta có thể giải thích được khi mà cơ sở kinh tế hạ tầng
12
mà yếu tố cốt lõi quyếtđịnh là lực lượng sản xuất của các quốc gia là rất khác
nhau.
Chương II. Vấn đề áp dụng án tử hình ở Việt Nam và tính nhân đạo trong
Bộ luật hình sự 2015
2.1. Đặc điểm và mục đích của án tử hình và tính nhân đạo trong Bộ
luật hình sự 2015
2.1.1. Đặc điểm của án tử hình trong Bộ luật hình sự 2015
năng này.
Hình phạt tử hình tước bỏ quyền được sống - quyền năng tự nhiên,
thiêng liêng, cao quý nhất của con người.
Áp dụng tử hình đối với người phạm tội là nhà nước loại bỏ hoàn toàn sự
tồn tại của họ trong đời sống xã hội vì lợi ích chung của cộng đồng.
Nhìn nhận một cách chính xác hơn thì cũng không có một hình phạt nào
nghiêm khắc hơn hình phạt tử hình, sự tàn khốc và triệt tiêu khả năng tồn tại
của con người khiến cho hình phạt tử hình trở thành khung hình phạt ít được
áp dụng.
Thứ hai, Chính vì sự tàn khốc, khắc nghiệt của hình phạt tử hình mà
nhiều nước trên thế giới và kể cả Việt Nam cũng coi tử hình là hình phạt đặc
biệt, nó chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc một
trong nhóm các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng
con người, các tội phạm về ma túy, tham những và một số tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng khác do Bộ luật hình sự 2015 quy định. Chỉ khi hành vi phạm
tội gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội, người phạm tội ở vào các trường hợp
được BLHS dự liệu trước, cùng với bản án có hiệu lực của Tòa án, việc áp
dụng tử hình mới có giá trị pháp lý thực tế. Và chỉ Tòa án có thẩm quyền mới
có quyền quyết định áp dụng hình phạt tử hình. Đây cũng chính là đòi hỏi của
nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, phản ánh tính nghiêm minh của pháp
luật trong việc phòng ngừa tội phạm chung.
Thứ ba, hình phạt tử hình không đặt ra mục đích cải tạo, giáo dục người
bị kết án, và hình phạt tử hình có tính không thể thay đổi.
Khi áp dụng án tử hình với người phạm tội cơ quan có thẩm quyền đều
cho rằng hành vi của người phạm tội thể hiện rõ học là những đối tượng không
14
thể cải tạo, không thể giáo dục và vì thế họ sẽ phải chết. Khi quyền sống của họ
bị tước đi họ không bao giờ còn tồn tại trên đời để có thể cải tạo giáo dục. Xuất
Thứ hai: nguyên tắc nhân đạo thể hiện ở sự giảm, miễn hoặc tạm đình
chỉ thi hành án phạt tù.
Bộ luật hình sự 2015 có quy định:
Không thi hành án tử hình đối với người bị kết án nếu thuộc một trong
các trường hợp sau đây:
a) Phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi;
b) Người đủ 75 tuổi trở lên;
c) Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau
khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ
và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý
tội phạm hoặc lập công lớn.
2.1.3. Mục đích của việc áp dụng án tử hình và tính nhân đạo trong
Bộ luật hình sự 2015
2.1.3.1. Mục đích của hình phạt tử hình
Mục đích của hình phạt tử hình là sự phản ánh rõ nét bản chất xã hội,
bản chất giai cấp của hình phạt nói chung và hình phạt tử hình nói riêng.
Trước đây, nếu các nhà làm luật quan niệm người phạm tội là kẻ đã gây ra tội
ác và ác giả ác báo, phải trừng trị thích đáng thì sẽ dẫn đến việc lạm dụng
hình phạt tử hình. Các hình thức thi hành hình phạt tử hình trong trường hợp
đó cũng dã man, tàn khốc hơn, thể hiện mục đích “ trả thù” người phạm tội.
Dần dần các quan điểm tiến bộ, nhân đạo về hình phạt tử hình đã thay thế nên
tuy vẫn duy trì ở đa số các nước nhưng hình phạt tử hình chỉ được áp dụng
đối với người phạm tội như là biện pháp cuối cùng và nghiêm khắc nhất để “
trừng trị” họ.
Theo quy định tại Điều 31 Bộ luật hình sự 2015 về mục đích của hình
phạt
Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm
tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc
sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại
bởi vì tử hình là việc tước đi mạng sống của con người tước đi quyền được
hạnh phúc quyền được tồn tại, còn nguyên tăc nhân đạo là việc thể hiện sự tôn
trọng con người luôn đặt những quyền và lợi ích của con người lên trước.
Nhưng hai phạm trù này thực ra nó không mâu thuẫn với nhau nó luôn gắn bó
17
và đi liền với nhau trong những quy định của pháp luật. Việc quy định việc áp
dụng án tử hình đề cao tính răn đe, cảnh cáo thức tỉnh con người không vi
phạm pháp luật không vi phạm đạo đức và mất đi nhân tính của mình thì bên
cạnh đó cùng với việc thừa nhận việc thực hiện hình phạt tử hình thì tính nhân
đạo đã làm dịu đi sự nghiêm khắc và cứng nhắc của nó khi đề cập đến việc
hạn chế hình phạt tử hình đối với một số trường hợp theo quy định tại Điều 31
Bộ luật hình sự 2015 tại khoản 2 và khoản 3 như:
2. Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người dưới 18 tuổi khi phạm
tội, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc người đủ 75
tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử.
3. Không thi hành án tử hình đối với người bị kết án nếu thuộc một trong
các trường hợp sau đây:
a) Phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi;
b) Người đủ 75 tuổi trở lên;
c) Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau
khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ
và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý
tội phạm hoặc lập công lớn.
Hơn nữa về cách thức thi hành án tử hình cũng thể hiện nguyên tắc nhân
đạo của Đảng và nhà nước ta. Theo Luật thi hành án Hình sự năm 2010, thì
cách thức thi hành án tử hình mới được áp dụng là hình thức “tiêm thuốc
độc”. hiểu bản chất của biện pháp thi hành hình phạt tử hình này là tiêm vào
người tử tội một liều thuốc độc. Sở dĩ nhiều nước lựa chọn cách tử hình này
dân gian quen gọi là Bộ Luật Hồng Đức, Bộ luật tiêu biểu cho pháp luật
phong kiến Việt Nam. Ngoài ra còn có Bộ Hoàng Việt Luật Lệ của nhà
Nguyễn. Cả hai hệ thống hình phạt đều thể hiện tính dã man tàn bạo, không
chỉ đày đọa về thể xác mà cả tinh thần. Hình phạt được áp dụng với mọi loại
vi phạm pháp luật không chỉ là chế tài hình sự mà còn áp dụng với cả vi phạm
pháp luật dân sự, hành chính hay hôn nhân gia đình. Điển hình của hai hệ
thống hình phạt là việc quy định về hình phạt ngũ hình cụ thể như sau:
Thứ nhất: Xuy(phạt roi) là hình phạt đánh bằng roi mây nhỏ vào mông
người bị trừng phạt làm cho họ thấy xấu hổ nhục nhã để tự sữa lỗi lầm của
mình. Hình phạt này là nhẹ nhất trong hệ thống hình phạt. Chúng được chia
19
làm năm bậc từ 10 đến 50 roi. Trong Quốc Triều hình luật suy có thể được áp
dụng độc lập ( ví dụ Điều 573, 640,…), cũng có thể là hình phạt áp dụng kèm
theo hình phạt tiền, biếm ( ví dụ Điều 295, Điều 374,…). Cả QTHL và HVLL
thì xuy đều được áp dụng cho cả nam và nữ, tuy nhiên QTHL thì thường áp
dụng cho nữ giới.
Thứ hai là Trượng (đánh bằng gậy) là hình phạt nghiêm khắc hơn hình
phạt bằng roi. Trong HVLL quy định 2 roi thì bằng một trượng, ai phạm tội
nặng hơn 50 roi thì người ta bỏ roi mà xử bằng trượng. Cả QTHL và HVLL
đều quy định phạt bằng trượng có 5 bậc từ 60 đến 100, mỗi bậc là 10 trượng.
Trong QTHL hình phạt này chỉ áp dụng đối với nam giới phạm tội ( ví dụ ở
điều 570, điều 640,…), nhưng cũng có thể là hình phạt áp dụng kèm theo các
tội lưu, tội đồ và tội biếm. Còn HVLL thì nữ giới phạm tội vẫn bị đánh bằng
trượng (tuy phạm vi áp dụng có hạn chế ) cụ thể điều 19 quyển 2 còn dự liệu
đánh trượng đối với nữ phạm nhân, nếu là tội thông gian từ bị bắt lột áo, tội
khác thì cho mặc áo mỏng. Tuy nhiên nữ phạm nhân thì được miễn thích chữ.
Nếu đàn bà phạm tội đồ hay tội lưu thì đánh hẳn 100 trượng, còn dư tội thì
cho chuộc. Điều này cho thấy việc quy định rõ đối tượng bị áp dụng trượng
Cao Bằng. Còn trong HVLL thì hình phạt Lưu được chép đúng như luật nhà
Thanh và chia làm ba bậc, Phạm nhân phải đày đi nơi xa 2000 dặm, 2500 dặm
hoặc 3000 dặm là những khoảng cách giữa nơi sinh sống và nơi phạm tội phải
chấp hành hình phạt. Ví dụ như nếu tỉnh của nạn nhân cư trú là Quảng Nam
mà bị phạt lưu 2000 dặm thì nơi mà người phạm tội phải đi đày là Biên Hòa.
Các phạm nhân được tự do làm việc tuy nhiên người dân xưa thường khiếp sợ
hình phạt này vì đối với họ xa quê là một cực hình và nhiều trường hợp người
đi đày không trở về quê hương được nữa.
Thứ năm là Tử (tội chết) là hình phạt được quy định áp dụng độc lập và
được chia làm ba bậc tùy theo mức nặng nhẹ là: bậc thứ nhất là thắt cổ (giảo),
chém (trảm), bậc thứ hai là chém bêu đầu (trảm kiều), bậc thứ ba là lăng trì
(róc thịt cho chết dần). Như vậy, theo QTHL thì chỉ có tử là hình phạt có khả
năng được áp dụng độc lập. Còn theo HVLL thì tử là hình phạt nghiêm khắc
nhất trong hệ thống ngũ hình. Hình phạt tử hình có hai bậc là giảo( thắt cổ) và
trảm (chém đầu). Những phạm nhân bị xử tội giảo hay tội trảm mà hành hình
ngay thì gọi là giảo quyết và trảm quyết. Điều đặc biệt ở HVLL là không quy
21
định hình thức xử tử bằng lăng trì, điều này phù hợp với phần giải thích trong
bộ luật “ Chết lăng trì là một hình phạt ghê khiếp nhất trong các hình phạt…
Ngày nay vĩnh viễn bỏ nhục hình ấy, vĩnh viễn bỏ chỉ còn giữ lại hình phạt
ghê khiếp ngoài hết thấy mọi ghê khiếp này là bằng cách chém kẻ bất trung,
bất hiếu thôi”. Tuy nhiên tại một số điều luật quy định về tội phạm trong
HVLL lại quy định hình phạt tử hình bằng hình thức lăng trì (Điều 223,
253,254,…). Việc quy định hình phạt bằng hình thức lăng trì là một sự mâu
thuẫn với phần giải thích của bộ luật và điều này tạo ra sự hạn chế nghiêm
trọng trong lịch sử lập pháp hình sự của thời nhà Nguyễn. So với QTHL thì
HVLL quy định hình phạt tử hình nghiêm khắc hơn nhiều, nếu QTHL không
quy định chế định “Tộc tru” (giết cả họ) thì trong HVLL đã chính thức quy
Phàm kẻ mưu phản không làm lợi cho đất nước, mưu hại xã tắc và đại
nghịch không có lợi đối với vua, mưu phá hủy tôn miếu, sơn lăng và cung
tuyết
Chỉ nhúng tay vào âm mưu mà không chia cầm đầu hay tong phạm đã,
hay chưa làm đều bị xử bằng lăng trì( chém ngay).
Và được quy định tại một số quy định khác của Bộ luật này,
Qua đó có thể hiểu được rằng hình phạt tử hình trong giai đoạn phong
kiến là một hình phạt phổ biến, có những quy định tiến bộ về thi hành hình
phạt tử hình về việc áp dụng hình phạt với phụ nữ có những quy định giảm
nhẹ hơn so với đàn ông và được miễn tử hình trong một số trường hợp, hơn
nữa còn có quy định là không được tử hình trong các dịp lễ tết,….
Tuy nhiên, vấn đề thi hành hình phạt tử hình lại không được pháp luật
phong kiến quy định cụ thể rõ rang. Vì vậy, việc thi hành hình phạt tử hình
trên thực tế phụ thuoccj rất nhiều vào các quan lại xét xử. Phần lớn, sau khi
xét xử hình phạt sẽ được thi hành ngay. Thậm chí, sau khi tuyên tử hình bằng
miệng thì hình phạt tử hình đã được thi hành. Đôi khi, thi hành án tử hình
được thực hiện do một câu nói của nhà vua mà không cần qua thủ tục điều tra,
xét hỏi. Do đó việc thi hành hình phạt tử hình oan xảy ra rất nhiều. Việc thực
hiện hình phạt tử hình được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng
đa số đều rất tàn khốc, dã man, gây sự đau đớn về thể chất và tinh thần khi thi
hành đối với phạm nhân( như hỏa thiêu, bỏ vạc dầu, lăng trì, voi đày- ngụa
xé, chém ngang đầu, chém ngang lưng,…)
23
Như vậy hình phạt tử hình ở giai đoạn này cón tùy tiện và thiếu khách
quan
2.3.1.2. Hình phạt tử hình trong luật hình sự thời kì thuộc địa
Ngày 01.9.1858, Pháp tấn công bán đảo Sơn Trà, mở đầu thời kỳ chiếm
đóng Việt Nam. Sau đó, thực dân Pháp nhanh chóng chiếm đóng ba tỉnh miền
được áp dụng đối với người phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng.
Không áp dụng hình phạt này với người chưa thành niên phạm tội, đối với
phụ nữ có thai khi phạm tội hoặc khi bị xét xử. Tử hình được hoãn thi hành
đối với phụ nữ có thai, phụ nữ nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
Trong Phần các tội phạm, Bộ luật Hình sự năm 1985, hình phạt tử hình
được quy định trong 29 điều luật, chiếm 14,89% trên tổng số 195 điều luật về
tội phạm. Ngày 28/12/1989, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật
Hình sự năm 1985 đã quy định thêm 4 hành vi phạm tội về ma túy trong Điều
96a, có mức hình phạt cao nhất là tử hình. Ngày 12/8/1991, Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1985 đã quy định hình phạt tử hình
đối với các tội: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 134); Tội
lừa đảo chiếm đoạt tài sản riêng công dân (Điều 157); Tội nhận hối lộ (Điều
226). Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1985 ngày
22/12/1992 đã quy định hình phạt tử hình đối với Tội buôn lậu hoặc vận
chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới (Điều 97). Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1985 ngày 10/5/1997 đã bổ sung
thêm 06 điều luật quy định các tội: Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn lừa đảo
chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 134a); Tội lạm dụng chức vụ, quyền
hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản riêng công dân (Điều 185e); Tội cưỡng bức, lôi
kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 185m) vào danh mục các
tội phải chịu hình phạt cao nhất là tử hình. Đồng thời, nhà làm luật cũng tách
Điều 96a ra thành 4 điều luật mới (các điều 185b, 185c, 185d, 185đ) và giữ
nguyên hình phạt tử hình đối với các tội này. Điều 112 quy định tội hiếp dâm
cũng được tách ra thành hai tội: Tội hiếp dâm và Tội hiếp dâm trẻ em (Điều
112a) và cũng vẫn giữ nguyên hình phạt tử hình đối với các tội này.
Như vậy, Bộ luật Hình sự năm 1985, sau 4 lần sửa đổi, bổ sung đã quy
định hình phạt tử hình trong 44 điều luật về tội phạm, chiếm tỷ lệ 20,37% trên
tổng số 216 điều luật về tội phạm.
25