ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KẾ TOÁN - KIỂM TOÁN
------------------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Đề tài:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG
TÁC KẾ TOÁN CÔNG NỢ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
XÂY DỰNG – GIAO THÔNG THỪA THIÊN HUẾ
VÕ THỊ THƯƠNG
Khóa học: 2012 - 2016
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KẾ TOÁN - KIỂM TOÁN
------------------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Đề tài:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG
TÁC KẾ TOÁN CÔNG NỢ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
XÂY DỰNG – GIAO THÔNG THỪA THIÊN HUẾ
Sinh viên thực hiện:
Võ Thị Thương
Giáo viên hướng dẫn:
Huế, tháng 05 năm 2016
Sinh viên
Võ Thị Thương
3
MỤC LỤC
4
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
5
BĐSĐT
Bất động sản đầu tư
BHTN
Bảo hiểm thất nghiệp
BHXH
Bảo hiểm xã hội
BHYT
KPCĐ
Kinh phí công đoàn
NCC
Nhà cung cấp
NSNN
Ngân sách nhà nước
SDCK
Số dư cuối kỳ
SDĐK
Số dư đầu kỳ
SXKD
Sản xuất kinh doanh
TK
Tài khoản
TNHH
7
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Đề tài “Thực trạng và giải pháp hoàn thiện công tác kế toán công nợ tại
Công ty Cổ phần Xây dựng - Giao thông Thừa Thiên Huế” gồm 3 phần:
- Phần I: Là phần mở đầu chủ yếu giới thiệu về lí do chọn đề tài, phạm vi tìm
hiểu và cách thức nghiên cứu đề tài.
- Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu gồm 3 chương:
Chương 1: Nội dung của chương này nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận về công
tác kế toán công nợ nhằm làm cơ sở để thực hiện các mục tiêu tiếp theo của đề tài.
Chương 2: Chương này giới thiệu về công ty, nêu lên đặc điểm sản xuất kinh doanh
của công ty, làm rõ chức năng, nhiệm vụ, tình hình tài sản nguồn vốn, kết quả kinh doanh
cũng như bộ máy quản lý, bộ máy kế toán của công ty trong những năm qua.
Nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng công tác kế toán công nợ của công ty trong
tháng 12 năm 2015 bằng việc tìm hiểu về tài khoản, chứng từ, hệ thống sổ sách sử
dụng cũng như quá trình luân chuyển chứng từ, cách thức hạch toán các khoản phải
thu như phải thu của khách hàng, thuế GTGT được khấu trừ, dự phòng nợ phải thu khó
đòi và các khoản phải trả như phải trả cho người bán, thuế GTGT đầu ra thông qua
một số nghiệp vụ phát sinh từ đó có thể đánh giá được tình hình công nợ của công ty.
Chương 3: Chương này nhằm đưa ra những ưu điểm và nhược điểm của công ty
trong công tác kế toán nói chung và công tác kế toán công nợ nói riêng. Từ đó, đề xuất
một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán tại công ty.
- Phần III: Bao gồm đánh giá tổng quát về những mặt đạt được và chưa đạt được
của đề tài nghiên cứu. Đồng thời, đưa ra một số kiến nghị góp phần hoàn thiện những
mặt chưa đạt được đó của đề tài.
8
để đảm bảo và hạn chế đến mức thấp nhất các khoản nợ tồn đọng, thúc đẩy nhanh quá
trình thanh toán và tốc độ chu chuyển vốn luôn là một vấn đề thu hút sự chú ý quan
tâm của các cấp lãnh đạo và những người làm công tác kế toán. Đối với Công ty Cổ
phần Xây dựng – Giao thông Thừa Thiên Huế, bộ phận kế toán công nợ cũng có vai
trò quan trọng như vậy.
Công ty Cổ phần Xây dựng - Giao thông Thừa Thiên Huế là một doanh nghiệp
vừa hoạt động trong lĩnh vực xây dựng cơ bản vừa hoạt động ở lĩnh vực giao thông
vận tải, kinh doanh xăng dầu, ...Trong những năm qua, công ty luôn cố gắng mở rộng
quy mô, khắc phục khó khăn, giữ vững chỗ đứng của mình trên thị trường. Tuy nhiên,
công tác thanh toán và quản lý công nợ ở công ty còn gặp phải nhiều vấn đề như tìm
đối tác kinh doanh phù hợp, công tác thu hồi nợ gặp nhiều khó khăn, thủ tục thanh
toán còn phức tạp, khả năng thanh toán chậm …
Kế toán công nợ tuy không phải là một đề tài mới mẻ nhưng tại Công ty cổ phần
Xây dựng – Giao thông Thừa Thiên Huế trong mấy năm trở lại đây thì chưa có một
sinh viên nào thực hiện nghiên cứu về mảng đề tài này.
Xuất phát từ thực tế trên cùng quá trình nghiên cứu tìm hiểu thực tế tại công ty,
em đã chọn đề tài: “ Thực trạng và giải pháp hoàn thiện công tác kế toán công nợ
tại Công ty Cổ phần Xây dựng - Giao thông Thừa Thiên Huế”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm các mục tiêu sau:
Thứ nhất, hệ thống hóa một số lý luận, lý thuyết liên quan đến kế toán công nợ
trong doanh nghiệp.
Thứ hai, tìm hiểu, đánh giá về thực trạng công tác kế toán công nợ tại Công ty cổ
phần Xây dựng – Giao thông TT Huế.
Thứ ba, đưa ra một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán công nợ tại
công ty.
10
công nợ của công ty cũng như thu thập các thông tin cần thiết phục vụ cho việc hoàn
11
chỉnh khóa luận.
- Phương pháp quan sát: Quan sát và ghi chép những công việc mà các nhân viên
trong phòng kế toán thực hiện.
Phương pháp xử lí số liệu:
- Phương pháp so sánh: So sánh, đối chiếu các chỉ tiêu qua từng năm để thấy
được sự biến động của từng chỉ tiêu. Phương pháp này áp dụng trong trường hợp đánh
giá tình hình lao động và kết quả kinh doanh của công ty.
- Phương pháp phân tích số liệu: Là phương pháp dựa trên số liệu đã thu thập và
so sánh, tiến hành đánh giá các vấn đề liên quan đến tình hình công nợ của công ty.
- Phương pháp tổng hợp số liệu: Tổng hợp những thông tin đã thu thập, tính toán
được để rút ra những đánh giá và kết luận cần thiết.
- Phương pháp hạch toán kế toán: Là phương pháp sử dụng các chứng từ kế toán,
tài khoản, sổ sách để hệ thống hóa và kiểm soát những thông tin về các nghiệp vụ kinh
tế phát sinh. Phương pháp này được sử dụng xuyên suốt quá trình thực hiện đề tài.
6. Kết cấu của đề tài
Đề tài gồm có 3 phần, được trình bày như sau:
Phần I: Đặt vấn đề
Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu
Trong phần II có 3 chương sau đây:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán công nợ trong doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng công tác kế toán công nợ tại Công ty cổ phần Xây dựng –
Giao thông Thừa Thiên Huế.
Chương 3: Biện pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán công nợ tại Công ty cổ
chưa đòi được, tính cả các khoản nợ chưa đến hạn thanh toán.
Các khoản phải thu của doanh nghiệp bao gồm: Phải thu khách hàng, phải thu
nội bộ, thuế GTGT được khấu trừ, phải thu khác, dự phòng phải thu khó đòi, trong đó
13
phải thu khách hàng là khoản phải thu chiếm vị trí quan trọng trong tổng giá trị tài sản
của doanh nghiệp, vì vậy việc theo dõi khoản mục này có ý nghĩa quan trọng.
1.1.1.2. Khái niệm các khoản phải trả
Khoản phải trả là một khoản mục kế toán thể hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp
phải trả toàn bộ số nợ ngắn hạn của mình cho các chủ nợ. Trong bảng cân đối kế toán,
khoản phải trả được gọi là khoản nợ của doanh nghiệp. Cũng giống như tài sản, nợ của
doanh nghiệp được chia làm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. Nợ dài hạn là các khoản nợ và
các nghĩa vụ về mặt tài chính khác mà doanh nghiệp phải trả sau một khoảng thời
gian từ một năm trở lên kể từ ngày lập bảng cân đối kế toán.
Nợ ngắn hạn là khoản nợ mà doanh nghiệp phải thanh toán trong khoảng thời
gian từ một năm trở xuống. Nợ ngắn hạn bao gồm khoản phải trả và các khoản nợ dài
hạn đến hạn trả.
Theo đoạn 18, chuẩn mực chung (VAS 01): “Nợ phải trả là nghĩa vụ hiện tại của
doanh nghiệp phát sinh từ các giao dịch và sự kiện đã qua mà doanh nghiệp phải thanh
toán từ các nguồn lực của mình”.
Theo đoạn 42, chuẩn mực chung (VAS 01) về tiêu chuẩn ghi nhận nợ phải trả:
“Nợ phải trả được ghi nhận trong Bảng cân đối kế toán khi có đủ điều kiện chắc chắn
là doanh nghiệp sẽ phải dùng một lượng tiền chi ra để trang trải cho những nghĩa vụ
hiện tại mà doanh nghiệp phải thanh toán, và khoản nợ phải trả đó phải xác định được
một cách đáng tin cậy”.
1.1.1.3. Quan hệ thanh toán
tổ chức bộ máy kế toán tại doanh nghiệp.
Với chức năng thông tin và kiểm tra tình hình thanh toán các khoản phải thu, các
khoản phải trả, kế toán công nợ góp phần lành mạnh hóa tình hình tài chính của doanh
nghiệp. Điều này có ý nghĩa rất lớn trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp. Nếu doanh nghiệp hoạt động tốt, tình hình tài chính khả quan, doanh nghiệp sẽ
15
ít bị chiếm dụng vốn và lượng vốn doanh nghiệp đi chiếm dụng có khả năng chi trả khi
đến hạn, tạo tính chủ động về vốn, đảm bảo cho quá trình kinh doanh thuận lợi. Ngược
lại, tình hình tài chính khó khăn sẽ dẫn đến tình trạng chiếm dụng vốn lẫn nhau kéo
dài, đơn vị mất tính chủ động trong kinh doanh và khi không còn khả năng thanh toán
sẽ dẫn đến phá sản doanh nghiệp.
1.1.2.3. Nhiệm vụ của kế toán công nợ
Nhiệm vụ của kế toán công nợ là theo dõi, phân tích, đánh giá, tham mưu để cấp
quản lý có những quyết định đúng đắn trong hoạt động của doanh nghiệp. Cụ thể:
- Tính toán, ghi chép, phản ánh chính xác, kịp thời, đầy đủ từng khoản nợ phải
thu- nợ phải trả theo từng đối tượng về số nợ phải thu- nợ phải trả, số nợ đã thu- nợ đã
trả, số nợ còn phải thu – phải trả.
- Kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc chấp hành chế độ, quy định về quản lý các
khoản nợ phải thu- nợ phải trả.
- Tổng hợp và xử lý nhanh thông tin về tình hình công nợ trong hạn, đến hạn, quá
hạn và công nợ có khả năng khó trả, khó thu để quản lý tốt công nợ, góp phần cải thiện
tốt tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Đối với các khoản công nợ có gốc ngoại tệ cần phải theo dõi cả về nguyên tệ và
quy đổi theo đồng tiền Việt Nam. Cuối mỗi kỳ đều phải điều chỉnh số dư theo tỷ giá
hối đoái thực tế.
Phải chi tiết theo cả chỉ tiêu giá trị hiện vật đối với các khoản nợ bằng vàng, bạc,
3) Khi lập Báo cáo tài chính, kế toán căn cứ kỳ hạn còn lại của các khoản phải
thu để phân loại là dài hạn hoặc ngắn hạn. Việc xác định các khoản cần lập dự phòng
phải thu khó đòi được căn cứ vào các khoản mục được phân loại là phải thu ngắn hạn,
dài hạn của Bảng cân đối kế toán.
4) Kế toán phải xác định các khoản phải thu thỏa mãn định nghĩa của các khoản
mục tiền tệ có gốc ngoại tệ (được hướng dẫn chi tiết ở tài khoản 413 – Chênh lệch tỷ
giá hối đoái) để đánh giá lại cuối kỳ khi lập Báo cáo tài chính.
17
Theo Điều 50, Thông tư số 200/2014/TT – BTC về nguyên tắc kế toán các khoản nợ
phải trả được quy định như sau:
1) Các khoản nợ phải trả được theo dõi chi tiết theo kỳ hạn phải trả, đối tượng phải
trả, loại nguyên tệ phải trả và các yếu tố khác theo nhu cầu quản lý của doanh nghiệp.
2) Việc phân loại các khoản phải trả là phải trả người bán, phải trả nội bộ, phải
trả khác được thực hiện theo nguyên tắc:
a) Phải trả người bán gồm các khoản phải trả mang tính chất thương mại phát
sinh từ giao dịch mua hàng hóa, dịch vụ, tài sản và người bán (là đơn vị độc lập với
người mua, gồm cả các khoản phải trả giữa công ty mẹ và công ty con, công ty liên
doanh, liên kết). Khoản phải trả này gồm cả các khoản phải trả khi nhập khẩu thông
qua người nhận ủy thác (trong giao dịch nhập khẩu ủy thác).
b) Phải trả nội bộ gồm các khoản phải trả giữa đơn vị cấp trên và đơn vị cấp dưới
trực thuộc không có tư cách pháp nhân hạch toán phụ thuộc.
c) Phải trả khác gồm các khoản phải trả không có tính thương mại, không liên
quan đến giao dịch mua, bán, cung cấp hàng hóa dịch vụ:
- Các khoản phải trả liên quan đến chi phí tài chính, như: Khoản phải trả về lãi
vay, cổ tức và lợi nhuận phải trả, chi phí hoạt động đầu tư tài chính phải trả.
- Các khoản phải trả do bên thứ ba chi hộ, các khoản tiền bên nhận ủy thác nhận của
các bên liên quan để thanh toán theo chỉ định trong giao dịch ủy thác xuất nhập khẩu.
a) Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản nợ phải thu và tình hình thanh toán
các khoản nợ phải thu của doanh nghiệp với khách hàng về tiền bán sản phẩm, hàng
hóa, BĐS đầu tư, TSCĐ, các khoản đầu tư tài chính, cung cấp dịch vụ. Tài khoản này
còn dùng để phản ánh các khoản phải thu của người nhận thầu XDCB với người giao
thầu về khối lượng công tác XDCB đã hoàn thành. Không phản ánh vào tài khoản này
các nghiệp vụ thu tiền ngay.
b) Khoản phải thu của khách hàng cần được hạch toán chi tiết cho từng đối
tượng, từng nội dung phải thu, theo dõi chi tiết kỳ hạn thu hồi (trên 12 tháng hay
không quá 12 tháng kể từ thời điểm báo cáo) và ghi chép theo từng lần thanh toán. Đối
tượng phải thu là các khách hàng có quan hệ kinh tế với doanh nghiệp về mua sản
19
phẩm, hàng hoá, nhận cung cấp dịch vụ, kể cả TSCĐ, bất động sản đầu tư, các khoản
đầu tư tài chính.
c) Bên giao ủy thác xuất khẩu ghi nhận trong tài khoản này đối với các khoản
phải thu từ bên nhận ủy thác xuất khẩu về tiền bán hàng xuất khẩu như các giao dịch
bán hàng, cung cấp dịch vụ thông thường.
d) Trong hạch toán chi tiết tài khoản này, kế toán phải tiến hành phân loại các
khoản nợ, loại nợ có thể trả đúng hạn, khoản nợ khó đòi hoặc có khả năng không thu
hồi được, để có căn cứ xác định số trích lập dự phòng phải thu khó đòi hoặc có biện
pháp xử lý đối với khoản nợ phải thu không đòi được.
đ) Trong quan hệ bán sản phẩm, hàng hoá, cung cấp dịch vụ theo thoả thuận giữa
doanh nghiệp với khách hàng, nếu sản phẩm, hàng hoá, BĐS đầu tư đã giao, dịch vụ
đã cung cấp không đúng theo thoả thuận trong hợp đồng kinh tế thì người mua có thể
yêu cầu doanh nghiệp giảm giá hàng bán hoặc trả lại số hàng đã giao.
e) Doanh nghiệp phải theo dõi chi tiết các khoản nợ phải thu của khách hàng theo
từng loại nguyên tệ.
- Doanh thu của số hàng đã bán bị người
mua trả lại (có thuế GTGT hoặc không có
thuế GTGT)
- Số tiền chiết khấu thanh toán và chiết
khấu thương mại cho người mua
SDCK: Số tiền còn phải thu của khách
hàng ở cuối kỳ
21
SDCK: Số tiền của khách hàng ứng
trước còn ở cuối kỳ
Sơ đồ hạch toán:
TK 131
TK 635
(2)
TK 511, 515
TK 413
(1)
TK 521
(11a)
(7)
TK 133
Sơ đồ 1.1. Kế toán phải thu của khách hàng
22
Giải thích sơ đồ:
(1) Doanh thu bán sản phẩm, hàng hoá, cung cấp dịch vụ chịu thuế GTGT chưa
thu được ngay bằng tiền (kể các khoản phải thu về tiền bán hàng xuất khẩu của bên
giao ủy thác)
(2) Số chiết khấu thanh toán phải trả cho người mua do người mua thanh toán tiền
mua hàng trước thời hạn quy định
(3) Phản ánh các khoản giảm trừ doanh thu cho khách hàng để định kỳ điều chỉnh
giảm doanh thu gộp
(4) Nhận được tiền do khách hàng trả, nhận tiền ứng trước của khách hàng theo
hợp đồng bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ
(5) Bù trừ nợ
(6) Căn cứ vào biên bản xử lý xóa nợ ghi nhận khoản nợ phải thu khó đòi phát
sinh thực sự không thể thu được phải xử lý xoá sổ
(7) Khách hàng không thanh toán bằng tiền mà thanh toán bằng hàng (theo
phương thức hàng đổi hàng), căn cứ vào giá trị vật tư, hàng hoá nhận trao đổi (tính
theo giá trị hợp lý ghi trong Hoá đơn GTGT hoặc Hoá đơn bán hàng của khách hàng)
trừ vào số nợ phải thu của khách hàng
(8) Thu nhập do thanh lý, nhượng bán TSCĐ chưa thu tiền
(9) Phản ánh các khoản chi hộ khách hàng
(10) Phản ánh số tiền khách hàng phải trả theo tiến độ kế hoạch đã ghi trong hợp
đồng căn cứ vào hóa đơn được lập
định số thuế GTGT được khấu trừ và không được khấu trừ theo quy định của pháp luật
về thuế GTGT.
c) Số thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ được tính vào giá trị tài sản được
mua, giá vốn của hàng bán ra hoặc chi phí sản xuất, kinh doanh tuỳ theo từng trường
hợp cụ thể.
d) Việc xác định số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ, kê khai, quyết toán, nộp
thuế phải tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật về thuế GTGT.
24
Cách xác định thuế GTGT đầu vào :
Số thuế GTGT
đầu vào
=
Giá mua chưa thuế của
hàng hóa dịch vụ chịu thuế
x
Thuế suất thuế GTGT của
hàng hóa, dịch vụ đó
Với:
Giá mua chưa có thuế GTGT=
Giá thanh toán (tiền bán vé, tem bưu điện)