ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------*----------------
ĐẶNG THU THỦY
ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ NAM LÃNH ĐẠO
PHONG TRÀO THANH NIÊN
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2011
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------*----------------
ĐẶNG THU THỦY
ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ NAM LÃNH ĐẠO
PHONG TRÀO THANH NIÊN
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2011
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
Mã số: 60.22.03.15
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trịnh Thị Hồng Hạnh
Tiểu kết chương 3.......................................................................................... 111
KẾT LUẬN .................................................................................................. 113
1
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 116
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong tiến trình lịch sử đấu tranh cách mạng lâu dài, vẻ vang của dân
tộc, các thế hệ thanh niên Việt Nam đã trải qua mọi hi sinh, gian khổ nhưng
cũng đầy khí phách hào hùng. Chính sức trẻ của các thế hệ thanh niên trong
mọi thời đại lịch sử đã mang lại sức mạnh cho dân tộc vượt qua thử thách.
Ngay từ khi thành lập, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đoàn Thanh niên Cộng
sản Hồ Chí Minh đã lấy lý tưởng của Đảng làm lý tưởng phấn đấu của mình,
lấy đường lối cách mạng của Đảng làm đường lối chung cho mọi hoạt động
của thanh niên Việt Nam, lấy sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây
dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng quê hương giàu đẹp, văn minh làm mục tiêu
phấn đấu.
Thực tế lịch sử tỏ rõ, thanh niên luôn là lực lượng xung kích trong các
cuộc đấu tranh cách mạng, có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự
triển của xã hội. Thanh niên có mặt trong mọi tầng lớp, mọi giai cấp, mọi lĩnh
vực hoạt động của đời sống xã hội. Họ là lực lượng ở trong độ tuổi sung sức
nhất về thể chất và phát triển trí tuệ, luôn không ngừng đổi mới, năng động,
sáng tạo, khẳng định bản thân. Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh thực
sự là một tổ chức chính trị - xã hội của thanh niên Việt Nam được thành lập
và sức mạnh của mình cống hiến cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc
và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Trong công cuộc đổi mới đất nước, trước tình hình xã hội, đất nước và
con người có những bước phát triển, thay đổi tích cực thì kinh tế thị trường
hội có những diễn biến phức tạp. Một số cấp ủy đảng chưa quan tâm chỉ đạo,
đôn đốc, kiểm tra việc tổ chức thực hiện các phong trào thanh niên…Đặc biệt,
trong bối cảnh hiện nay, thanh niên đang đứng trước nhiều cơ hội, thuận lợi
lớn, nhưng cũng phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức do ảnh hưởng
3
từ thông tin đa chiều, chịu tác động từ những hiện tượng xấu trong xã hội.
Các thế lực thù địch đang tìm mọi cách lôi kéo, tha hóa thanh niên. Thực tế đó
đòi hỏi các cấp ủy đảng thường xuyên đổi mới, tăng cường lãnh đạo đối với
thanh niên đặc biệt là phát triển hoạt động các phong trào thanh niên.
Vì vậy, nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Nam đối với
phong trào thanh niên từ đó rút ra những kinh nghiệm nhằm nâng cao hơn nữa
hiệu quả lãnh đạo phong trào thanh niên của Đảng bộ tỉnh trong thời kỳ đổi
mới là một việc làm cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Vì lí do trên,
tôi lựa chọn vấn đề: “Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo phong trào thanh niên
từ năm 2001 đến năm 2011” làm đề tài luận văn Thạc sỹ, chuyên ngành Lịch
sử Đảng cộng sản Việt Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng
định thanh niên là đội dự bị tin cậy của Đảng, là lực lượng nòng cốt và bảo vệ
Tổ quốc. Do đó, Đảng luôn coi công tác thanh niên nói chung trong đó có
phong trào thanh niên là một bộ phận không thể tách dời công tác xây dựng
Đảng.
Nghiên cứu về công tác thanh niên nói chung, phong trào thanh niên
nói riêng, khẳng định vai trò và sức mạnh của thế hệ trẻ, cho tới nay đã có
nhiều công trình khoa học, nhiều bài viết, tác phẩm đề cập tới tiêu biểu là: Hồ
Chí Minh (1966), Thanh niên với chủ nghĩa anh hùng cách mạng do Nhà xuất
bản Thanh niên xuất bản; Hồ Chí Minh (1978), Về vai trò và nhiệm vụ của
dục, rèn luyện thanh niên theo tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng
cộng sản Việt Nam (2003), Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội; TS
Dương Tự Đam (2005), Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng với công tác thanh
niên trong sự nghiệp Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước, Nhà xuất bản
Thanh niên, Hà Nội; Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
(2008), Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ
5
đẩy mạnh Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa, Nhà xuất bản Thanh niên, Hà
Nội; Ts Hoàng Đình Tuệ (2009), Tuyên truyền truyền thống cách mạng cho
thế hệ trẻ trên báo chí của Đảng, thực trạng và giải pháp, Đề tài khoa học,
Hà Nội…Nhìn chung, các tác phẩm đều khẳng định, trong suốt tiến trình lãnh
đạo cách mạng, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm tới thanh niên,
đánh giá cao vai trò, vị trí của thanh niên, đồng thời đề ra nhiều chủ trương
giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức thanh niên thanh lực lượng hùng hậu,
trung thành, kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.
Ngoài các công trình khoa học trên, nghiên cứu về tình hình thanh niên
và phong trào thanh niên dưới sự lãnh đạo của Đảng còn có một số luận văn
Thạc sĩ, các đề tài, tiếp cận và nghiên cứu vấn đề dưới những phạm vi, góc độ
khác nhau, qua đó cung cấp nguồn tư liệu để tham khảo và kế thừa trong quá
trình xây dựng luận văn, như: Đặng Mạnh Trung (2004), Đảng bộ Đồng Nai
lãnh đạo công tác đoàn và phong trào thanh niên thời kỳ 1986 – 2002, Luận văn
Thạc sĩ Lịch sử, Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị, Đại
học Quốc gia Hà Nội; Ngô Thị Khánh (2007), Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh
đạo công tác thanh niên từ năm 1986 đến năm 2006, Luận văn Thạc sĩ Lịch
sử, Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Thị Khánh Ly
(2008), Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lãnh đạo công tác Đoàn và phong trào thanh
niên (2001 – 2007), Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, Đại học KHXH&NV, Đại học
- Chủ trương của Đảng về phong trào thanh niên, chủ trương và sự chỉ
đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Nam đối với phong trào thanh niên từ năm 2001 đến
năm 2011;
- Kết quả phong trào thanh niên dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh;
- Đánh giá thành công, hạn chế từ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, đúc rút
một số bài học kinh nghiệm về quá trình lãnh đạo phong trào thanh niên của
Đảng bộ tỉnh Hà Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
7
Luận văn nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Nam đối với
phong trào thanh niên.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Nam đối với
phong trào thanh niên qua các hoạt động tuyên truyền, giáo dục đoàn viên,
thanh niên; tổ chức các hoạt động, các phong trào cụ thể tạo môi trường giáo
dục, rèn luyện đoàn viên, thanh niên góp phần thực hiện các nhiệm vụ chính
trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh …
Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Hà Nam.
Về thời gian: Nghiên cứu các vấn đề trên từ năm 2001 đến năm 2011.
5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
5.1. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện chủ yếu bằng các phương pháp: phương pháp
lịch sử và phương pháp logic. Ngoài ra tác giả còn sử dụng các phương pháp
khác nhau như: phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê…
5.2. Nguồn tư liệu
Luận văn khai thác tư liệu chủ yếu từ các nguồn:
Chương 1: Quá trình lãnh đạo phong trào thanh niên của Đảng bộ tỉnh
Hà Nam từ năm 2001 đến năm 2005.
Chương 2: Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo đẩy mạnh phong trào thanh
niên từ năm 2006 đến năm 2011.
Chương 3: Nhận xét và một số kinh nghiệm.
9
Chương 1
QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO PHONG TRÀO THANH NIÊN CỦA ĐẢNG
BỘ TỈNH TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005
1.1.Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và phong trào
thanh niên của tỉnh Hà Nam trước năm 2001
1.1.1.Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
Điều kiện tự nhiên
Hà Nam vốn thuộc phủ Lỵ Nhân, thuộc trấn Sơn Nam, năm 1831 vua
Minh Mạng quyết định lập các tỉnh thì Phủ Lỵ Nhân đổi là phủ Lý Nhân
thuộc tỉnh Hà Nội, xứ Bắc Kỳ. Ngày 20-10-1890, toàn quyền Đông Dương ra
nghị định thành lập tỉnh Hà Nam. Từ đó đến nay, đã có nhiều lần chia tách và
sát nhập tỉnh, nhiều sự điều chỉnh về địa giới hành chính đã diễn ra: năm
1965, Hà Nam sát nhập với Nam Định thành tỉnh Nam Hà và Nam Hà sát
nhập với Ninh Bình vào năm 1975 thành tỉnh Hà Nam Ninh rộng lớn, rồi lại
chia tách tỉnh Nam Hà và Ninh Bình như cũ vào năm 1992 và ngày 6 tháng
11 năm 1996 tỉnh Hà Nam được tái lập gồm các huyện Thanh Liêm, Kim
Bảng, Bình Lục, Lý Nhân, Duy Tiên và thành phố Phủ Lý [3, tr.8].
Nằm ở phía Tây Nam đồng bằng châu thổ sông Hồng, trong vùng trọng
điểm kinh tế Bắc Bộ, tọa độ 200 vĩ Bắc và giữa 1050 – 1100 kinh độ Đông, Hà
Nam là cửa ngõ phía Nam của Thủ đô. Phía Bắc giáp với Hà Tây (nay là Hà
Nội), phía Đông giáp với Hưng Yên và Thái Bình, phía Nam giáp với tỉnh
mùa khô thiếu nước và mùa mưa thường bị bão gây ngập úng.
Về tài nguyên: Ngoài tài nguyên đất, Hà Nam còn có nguồn tài nguyên
khoáng sản phong phú, trữ lượng không nhỏ, chủ yếu là các loại đá vôi dùng
làm nguyên liệu cho sản xuất xi măng, vôi, sản xuất bột nhẹ và sản xuất vật
liệu xây dựng. Cùng với tài nguyên khoáng sản, địa hình và điều kiện tự nhiên
đa dạng đã tạo cho Hà Nam có nhiều cảnh quan và quần thể tự nhiên đẹp,
thuận lợi cho phát triển các ngành du lịch sinh thái, du lịch thắng cảnh, nghỉ
11
ngơi, điều dưỡng sức khỏe và du lịch kết hợp với nghiên cứu khoa học. Ngũ
Động Sơn, núi Cấm ở Thi Sơn, động Khả Phong, hồ Tam Chúc, dốc Ba
Chồm (huyện Kim Bảng); cảnh quan thiên nhiên ở Đọi Sơn – Điệp Sơn
(huyện Duy Tiên); Kẽm Trống, núi Tiên (huyện Thanh Liêm); hệ sinh thái
nông nghiệp ở huyện Bình Lục, Lý Nhân…là nguồn tài nguyên du lịch quan
trọng, quý giá để phát triển ngành du lịch nói riêng, phát triển kinh tế - xã hội
nói chung của tỉnh.
Điều kiện kinh tế - xã hội
*Về kinh tế
Với diện tích đất tự nhiên khoảng 840km2, trong đó đất nông nghiệp
chiếm khoảng 70% diện tích đất tự nhiên, vì vậy nền kinh tế chủ yếu dựa vào
phát triển nông nghiệp. Các diện tích mặt nước đều tận dụng để nuôi trồng
thủy sản. Các ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản có tốc độ tăng trưởng khá
cao (5,6%/năm).
Tuy nhiên, diện tích vùng chiêm trũng rất lớn (hằng năm chỉ cấy được
một vụ lúa và rất bấp bênh). Diện tích đất sản xuất nông nghiệp vốn đã ít, lại
manh mún, và phân tán trong nhiều hộ gia đình, rất khó khăn cho quá trình cơ
khí hóa, điện khí hóa nông nghiệp.
Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, các ngành công nghiệp ở Hà Nam
Hà Nam có nguồn nhân lực dồi dào với những con người vốn cần cù,
thông minh, anh dũng trong đấu tranh cách mạng, có trình độ văn hóa, có khả
năng tiếp nhận và áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật – công nghệ vào quá trình
sản xuất. Lực lượng lao động khoa học – kỹ thuật dồi dào với khoảng trên
26.000 người, chiếm gần 3,5% dân số có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên,
số lao động có trình độ trung cấp khoảng 17.500 người và sơ cấp, công nhân
kỹ thuật gần 12.000 người. Tính chung cả tỉnh, tỷ lệ lao động qua đào tạo của
lực lượng lao động từ 17,2% năm 2001 và tăng lên 35% năm 2010. Bình quân
13
tỉ lệ lao động qua đào tạo tăng 1,78%/năm. Số người trong độ tuổi có khả
năng lao động nhưng chưa có việc làm hiện còn trên 13.000 người chiếm trên
4% lực lượng lao động có khả năng lao động [6, tr.16].
Từ tình hình trên đặt ra những yêu cầu cấp bách cho Đảng bộ Hà Nam
cần phải quan tâm phát triển hoạt động phong trào thanh niên, giúp thanh niên
học tập, qua các phong trào làm sao tạo việc làm mới để đảm bảo việc làm
cho người lao động đặc biệt là lực lượng thanh niên.
*Lịch sử đấu tranh cách mạng
Hà Nam là vùng đất có bề dày truyền thống lịch sử văn hóa. Nơi đây là
vùng đất “Địa linh nhân kiệt” được nhiều người biết đến với di sản “văn hóa
Liễu Đôi” nổi tiếng, vùng “thánh địa Tiền Lê Bảo Thái” đã được Nhà nước
công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia; vùng đất của những võ
tướng, danh nhân như Cao Thị Liên, Lê Hoàn, Trần Trọng Bình, Đinh Công
Tráng, Phó bảng Trương Công Giai, Hoàng giáp Lê Tung, thám hoa Nguyễn
Quốc Hiệu, tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến, Nam Cao, Nguyễn Hữu
Tiến…Những truyền thống đó lại được phát huy mạnh mẽ khi Đảng ra đời,
lãnh đạo cuộc đấu tranh chống thực dân, phong kiến đế quốc giành độc lập
cho dân tộc và tự do hạnh phúc cho nhân dân.
chiến đấu chống các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, tích cực chi viện
cho miền Nam, góp phần làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ
cứu nước của dân tộc Việt.
Từ năm 1975, Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo nhân dân tiến hành xây
dựng và phát triển quê hương theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong đấu
tranh cách mạng cũng như trong lao động sản xuất, cùng với nhân dân toàn
tỉnh, thanh niên Hà Nam đã thể hiện vai trò nòng cốt, đi đầu của mình, sẵn
sàng đem sức trẻ cống hiến cho quê hương, đất nước. Dưới sự lãnh đạo của
Đảng, Đảng bộ tỉnh Hà Nam đã phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp
15
hóa, hiện đại hóa, tạo nên một diện mạo mới trong nền kinh tế, xã hội tỉnh
Hà Nam.
1.1.2. Phong trào thanh niên của tỉnh Hà Nam trước năm 2001 và
những vấn đề đặt ra
Khái niệm công tác thanh niên
Công tác thanh niên là một bộ phận quan trọng trong công tác quần
chúng của Đảng, bao gồm toàn bộ những hoạt động của Đảng, Nhà nước và
các chủ thể xã hội khác, trong đó có Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh,
Hội Liên Hiệp Thanh niên Việt Nam và Hội Sinh viên Việt Nam nhằm tác
động một cách đồng bộ để bồi dưỡng, tổ chức, động viên thanh niên phát huy
mọi tiềm năng, thế mạnh, tạo điều kiện cho thanh niên phát triển, cống hiến
và trưởng thành vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội
chủ nghĩa.
Bản chất và nội dung cơ bản của công tác thanh niên bao gồm một hệ
thống các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; Nghị
quyết, chương trình, kế hoạch của Đoàn Thanh niên và các chủ thể xã hội
khác cùng với các phương thức, giải pháp thích hợp trong sự phối hợp và
Liên đoàn Lao động, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Hội Liên hiệp
Thanh niên và Hội sinh viên Đoàn Thanh niên các tỉnh là đơn vị tổ chức thực
hiện các chủ trương, chính sách của Đảng về phong trào thanh niên.
Chủ trương của Đảng về phong trào thanh niên trước năm 2001
Thanh niên là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thanh niên cũng là lực lượng kế thừa sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân
tộc. Công tác vận động thanh niên là nhiệm vụ chính trị đặc biệt của Đảng,
bảo đảm cho sự phát triển hiện tại và tương lai của dân tộc. Nghị quyết số 26NQ/TW của Bộ Chính trị (Khóa V – 1985): “Đảng và Nhà nước coi công tác
thanh niên là bộ phận quan trọng của chiến lược kinh tế - xã hội. Bởi thanh
niên là tài nguyên vô giá của quốc gia nên trong các chương trình, kế hoạch
17
cần có nội dung biện pháp và sự đầu tư chính đáng cho công tác phát triển
thanh niên” [13, tr.21].
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12/1986), Đảng đã đề ra
đường lối đổi mới toàn diện. Để tăng cường sức chiến đấu và năng lực tổ
chức thực hiện của Đảng, Đại hội nêu rõ Đảng phải đổi mới về nhiều mặt: đối
mới tu duy, trước hết là tư duy kinh tế, đổi mới tổ chức, đổi mới đội ngũ cán
bộ; đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác.
Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, có tiềm năng hùng hậu, kế thừa
tinh hoa truyền thống dân tộc và những thành quả cách mạng, có trình độ học
vấn cao hơn trước, tầm nhìn rộng, nhạy cảm với thời cuộc, giàu lòng yêu
nước, tư duy năng động, thực tế, có khát vọng mau chóng đưa đất nước vượt
qua nghèo nàn, lạc hậu, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội văn minh. Do
đó, trong Nghị quyết của Bộ Chính trị ngày 13/3/1991, Đảng đã xác định:
“Đảng, Nhà nước và toàn dân ta phải hết lòng bồi dưỡng và phát huy tiềm
năng và vai trò chủ động của thanh niên trên mọi lĩnh vực của công cuộc đổi
mới. Coi đó là nhiệm vụ ưu tiên trong chiến lược con người. Xây dựng môi
động giỏi, sống có văn hóa và giàu lòng yêu nước. Cổ vũ thanh niên Việt
Nam nuôi dưỡng hoài bão lớn, tự lực tự cường, năng động, sáng tạo, làm chủ
khoa học và công nghệ mới, vươn lên ngang tầm với thời đại, sánh vai cùng
thanh niên các nước trên thế giới.
Về việc phát huy lực lượng và tiềm năng của thế hệ trẻ: Nghị quyết tập
trung vào những vấn đề cơ bản như: giải quyết việc làm, tăng thu nhập và cải
thiện đời sống cho thanh niên. Đảng có nhiều chính sách khuyến khích thanh
niên hăng say lập nghiệp và tự tạo việc làm, mở rộng việc cho các gia đình
vay vốn, sản xuất kinh doanh. Đẩy mạnh xuất khẩu lao động, mở rộng mạng
lưới dạy nghề và giới thiệu việc làm cho thanh niên.
19
Về việc xây dựng lực lượng chính trị mà trọng tâm là xây dựng Đoàn
Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh vững mạnh về chính trị tư tưởng và tổ
chức, thực sự là đội dự bị tin cậy của Đảng.
Sau ba năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành
Trung ương Đảng, phong trào thanh niên có những bước tiến mới, những thế
mạnh của thanh niên như trình độ học vấn, sự năng động, nhạy bén, lòng yêu
quê hương đất nước được phát huy, là một trong những yếu tố quan trọng
thúc đẩy sự phát triển mọi mặt của đất nước.
Ngày 30-3-1996, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra chỉ thị 66CT/TW về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban
Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII “Về công tác thanh niên trong thời kỳ
đổi mới”. Trong đó nhấn mạnh vai trò lãnh đạo của Đảng đối với phong trào
thanh niên, cần phải tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với
Đoàn thanh niên và công tác thanh niên ở từng cấp, ở mọi địa bàn, đối tượng,
thực sự coi xây dựng Đoàn là một bộ phận quan trọng của công tác xây dựng
Đảng.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (từ 28-6 – 1-7-1996)
xây dựng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”. “Cuộc hành quân theo bước chân
những người anh hùng”, “Theo chân Bác”…Các hoạt động thiết thực trên
đã thu hút hàng vạn thanh niên Hà Nam Ninh tham gia. Thông qua đó, ý
thức cách mạng và tinh thần chiến đấu của thanh niên được nâng cao, tuổi
trẻ Hà Nam Ninh nhận thức được vai trò, trách nhiệm của mình đối với quê
hương, đất nước.
Trên mặt trận xây dựng và phát triển kinh tế: phong trào “Ba xung kích
làm chủ tập thể”, “Lao động tình nguyện vượt mức kế hoạch” được triển khai
có hiệu quả ở tất cả các ngành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.
21
Trên mặt trận sản xuất nông nghiệp: điểm nổi bật trong phong trào thi
đua của thanh niên nông thôn là trên mặt trận thủy lợi. Thanh niên đóng vai
trò là lực lượng nòng cốt trong các đội thủy lợi 202, thanh niên sẵn sàng đảm
nhận những khâu xung yếu, những công việc khó khăn, nặng nề nhất, phấn
đấu vượt chỉ tiêu định mức. Các hoạt động “Cánh đồng tăng sản”, “Mở hội thi
tài” được mở ra nhằm khuyến khích thanh niên tích cực tham gia công tác
khai hoang, mở rộng diện tích đất nông nghiệp…
Phong trào “Lao động tình nguyện vượt mức kế hoạch” trong thanh
niên công nghiệp cũng được triển khai rộng khắp ở hầu hết các nhà máy, xí
nghiệp, công trường, nông trường….thu hút hàng vạn công nhân trẻ tham gia.
Các hoạt động “Luyện tay nghề, thi thợ giỏi”, “Tổ đội khoa học kỹ thuật trẻ”,
“Câu lạc bộ thanh niên”, “Xe máy thanh niên”… được tổ chức hầu hết trong
các nhà máy, xí nghiệp, công trường, nông trường quốc doanh. Phong trào
sáng tạo và tiết kiệm được duy trì và hoạt động tốt thông qua các ban khoa kỹ
thuật trẻ.
Cùng thi đua với thanh niên khối nông – công nghiệp, thanh niên khối
cơ quan hành chính, sự nghiệp đã không ngừng cải tiến lề lối làm việc, thực
thực hiện tốt các chương trình hành động cách mạng của thanh niên:
Tuổi trẻ xung kích, sáng tạo trên mặt trận phát triển kinh tế, thực hiện
thắng lợi ba chương trình mục tiêu về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng
và hàng xuất khẩu.
Tuổi trẻ đi đầu thực hiện chính sách xã hội và đấu tranh cho công bằng
xã hội.
Tuổi trẻ xung kích trên mặt trận quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.
Tuổi trẻ học tập và tiến quân vào khoa học kỹ thuật.
Nhìn chung, phong trào thanh niên tỉnh có nhiều chuyển biến tích cực,
thanh niên tham gia vào mọi mặt của đời sống xã hội, góp phần phát triển
kinh tế xã hội.
23