Đảng lãnh đạo hoạt động ngoại giao văn hóa của việt nam với liên minh châu âu ( EU) từ năm 2000 đến năm 2014 - Pdf 36

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NÔI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------------------------------

NGÔ MINH THẢO

ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO VĂN HÓA
CỦA VIỆT NAM VỚI LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU)
TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2014

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội, 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NÔI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------------------------------

NGÔ MINH THẢO

ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO VĂN HÓA
CỦA VIỆT NAM VỚI LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU)
TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2014

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 03 15

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Văn Thịnh


thành cám ơn.
Tác giả luận văn
Ngô Minh Thảo


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1.Lý do chọn đề tài ....................................................................................... 1
2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề ....................................................................... 3
3. Mục đích nghiên cứu ............................................................................... 9
4.Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu ............................................................. 10
5.Phƣơng pháp nghiên cứu, nguồn tƣ liệu .............................................. 11
6.Đóng góp của luận văn ........................................................................... 11
7.Bố cục ....................................................................................................... 12
Chƣơng 1: ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO VĂN HÓA
CỦA VIỆT NAM VỚI LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU) TỪ NĂM 2000
ĐẾN NĂM 2005 ............................................................................................. 13
1.1. Khái quát chung về ngoại giao văn hóa ............................................ 13
1.1.1. Các khái niệm cơ bản ..................................................................... 13
1.1.2. Vai trò của ngoại giao văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa ....... 17
1.2. Chủ trƣơng và sự chỉ đạo ngoại giao văn hóa của Đảng từ năm
2000 đến 2005 ............................................................................................. 19
1.2.1. Quan điểm, chủ trương của Đảng.................................................. 19
1.2.2. Quá trình chỉ đạo thực hiện ........................................................... 23
Tiểu kết chương 1 ....................................................................................... 30
Chƣơng 2: ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO VĂN HÓA
CỦA VIỆT NAM VỚI LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU) TỪ NĂM 2006
ĐẾN NĂM 2014 ............................................................................................. 32
2.1. Chủ trƣơng và sự chỉ đạo ngoại giao văn hóa của Đảng từ năm
2006 đến năm 2010..................................................................................... 32


DANH MỤC BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
CNH – HĐH

Công nghiệp hóa – hiện đại hóa

EU

Liên minh châu Âu

NVNONN

Người Việt Nam ở nước ngoài


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn hóa vẫn luôn được coi là một trong những lĩnh vực quan trọng của xã
hội bên cạnh kinh tế, chính trị. Đặc biệt, trong thời đại hiện nay, khi hội nhập,
toàn cầu hóa diễn ra sôi nổi, văn hóa ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn ở
mỗi quốc gia, dần trở thành động lực và mục tiêu của phát triển kinh tế, chính
trị, xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam đã sớm khẳng định vai trò của văn hóa
“vừa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là động lực, vừa là mục tiêu thúc
đẩy sự phát triển của kinh tế xã hội”.
Ngoại giao văn hóa đã được một số nước tiến hành từ lâu đời, coi đó là
một dạng “sức mạnh mềm”, “quyền lực mềm” (soft power), có vai trò quan
trọng trong việc nâng cao vị thế quốc tế và sức mạnh ngoại giao của nước
mình trên trường quốc tế. Từ cuối thế kỷ XX đến nay, cùng với sự biến đổi
của tình hình thế giới, ngày càng có nhiều quốc gia quan tâm và công nhận vị
trí của ngoại giao văn hóa trong nền ngoại giao hiện đại.

các nước EU được coi là đối tác quan trọng của Việt Nam trên nhiều lĩnh vực:
chính trị, kinh tế.
Vì nhiều lý do, từ khi bắt đầu xác lập quan hệ ngoại giao, văn hoá
không phải là lĩnh vực được ưu tiên trong quan hệ Việt Nam – EU. Tuy nhiên
trong thời gian gần đây hai bên bắt đầu có những hoạt động giao lưu, trao đổi
văn hóa với mật độ ngày càng dày đặc. Năm 2005, Việt Nam đã thông qua đề
án tổng thể Quan hệ Việt Nam - Liên minh châu Âu, tiếp đó là Chương trình
hành động đến 2010 và định hướng tới 2015 với mục tiêu đưa quan hệ Việt
Nam - EU trở thành "Quan hệ đối tác toàn diện và bền vững, trên tinh thần ổn
định lâu dài và tin cậy lẫn nhau, vì hòa bình, hợp tác và phát triển phồn vinh
trong các thập kỷ tới của thế kỷ 21". Trong bối cảnh hai bên đang tích cực
tiến hành phát triển mối quan hệ đa dạng, toàn diện, ngoại giao văn hóa sẽ
ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam
với EU.

2


Vì những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Đảng lãnh đạo hoạt động ngoại
giao văn hóa của Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU) từ năm 2000 đến
năm 2014” làm đề tài luận văn chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt
Nam của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Khái niệm ngoại giao văn hóa đã sớm xuất hiện trên thế giới, hoạt
động ngoại giao văn hóa đã được tiến hành ở nhiều nước từ lâu. Tuy nhiên,
gần đây khái niệm này mới được nhắc đến nhiều ở Việt Nam, những công
trình nghiên cứu về nó còn ít. Trong quá trình khảo sát tư liệu, tác giả nhận
thấy các công trình nghiên cứu này có thể chia thành ba nhóm như sau:
Nhóm 1: Những công trình nghiên cứu về văn hóa, ngoại giao văn hóa,
giao lưu văn hóa nói chung.

Trong “Ngoại giao văn hóa: bắt đầu từ khái niệm” của tác giả Hoàng
Vinh Thành trên tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 1 năm 2009 có bàn về khái
niệm ngoại giao văn hóa và các khái niệm liên quan khác như: văn hóa ngoại
giao, văn hóa đối ngoại.
Trong bài: “Ngoại giao Việt Nam hiện đại trong thời kỳ hội nhập” của
Phạm Gia Khiêm trên Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 1 năm 2009 đã phân
tích nội hàm của khái niệm ngoại giao văn hóa và vị trí của ngoại giao văn
hóa trong nền ngoại giao hiện đại Việt Nam.
Tác giả Phạm Thái Việt trong bài “Quan hệ công chúng và ngoại giao
văn hóa” trên Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 3 năm 2009 đã bàn về mối quan
hệ giữa quan hệ công chúng và ngoại giao văn hóa.
Trong bài viết “Ngoại giao văn hóa và truyền thống văn hóa đối ngoại
trong bối cảnh hội nhập quốc tế” trên Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 1 năm
2009, tác giả Đặng Thị Thu Hương đã nghiên cứu về ngoại giao văn hóa và
mối quan hệ của nó với hoạt động thông tin đối ngoại.
Tác giả Lê Thanh Bình trong bài “Xu hướng văn hóa – truyền thông
thế giới tác động đên báo chí, ngoại giao văn hóa quốc tế đương đại và
khuyến nghị cho Việt Nam” trên Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 2 năm 2009

4


đã trình bày về ngoại giao văn hóa như một trong những xu hướng văn hóa –
truyền thông thế giới và đưa ra những khuyến nghị cho ngoại giao văn hóa
Việt Nam.
Bài viết “Yếu tố văn hóa trong quan hệ quốc tế hiện đại của Dương
Quốc Thanh” trên Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 1 năm 2009 đã phân tích
một số trường hợp yếu tố văn hóa đóng vai trò quan trọng trong quan hệ quốc
tế, từ đó đề xuất một số gợi ý cho ngoại giao văn hóa Việt Nam trong bối
cảnh hiện đại.

tế, phục vụ hòa bình, hội nhập và phát triển bền vững; tác giả Nguyễn Văn
Tình đã đề cập đến mục tiêu và những loại hình chính của ngoại giao văn hóa
cũng như một số cơ chế phối hợp hiệu quả nhằm huy động mọi nguồn lực cho
các hoạt động ngoại giao văn hóa.
Bài viết “Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về mở rộng giao lưu
văn hóa trong thời kỳ đổi mới” của tác giả Nguyễn Danh Tiên in trên Tạp chí
Lịch sử Đảng số 12 năm 2005 trình bày một số quan điểm của Đảng, Nhà
nước về vấn đề văn hóa, giao lưu văn hóa trong thời kỳ đổi mới.
Trong những bài viết của Bộ trưởng ngoại giao Phạm Gia Khiêm như
“Đẩy mạnh công tác ngoại giao văn hóa nhằm góp phần thực hiện thắng lợi
đường lối đối ngoại của Đảng”, (Tạp chí Thông tin đối ngoại, số 62, 5/2009);
“Ngoại giao Việt Nam năm 2008: bước tiến mới và phương hướng năm
2009”, (Tạp chí Thông tin đối ngoại, số 37); “ Tiếp tục triển khai thành công
đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng lần thứ 10”,(Tạp chí Lịch sử Đảng, số
1 (28), 1/2009) có đề cập đến tầm quan trọng của ngoại giao văn hóa nói
chung trong hoạt động ngoại giao và những phương hướng để tiến hành công
tác ngoại giao văn hóa hiện nay.
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quan hệ quốc tế: “Ngoại giao văn hóa
Việt Nam trong thời kỳ đổi mới” của tác giả Đỗ Lan Phương (bảo vệ năm
2009) trình bày một số cơ sở hoạch định chính sách, đường lối chính sách,

6


thực tiễn triển khai công tác ngoại giao văn hóa từ khi bắt đầu thời kỳ đổi mới
đến năm 2009, vai trò của Bộ Ngoại giao trong việc thực hiện hoạt động
ngoại giao văn hóa.
Trong luận văn thạc sĩ của Thạc sĩ Trần Thị Thúy Hà “Hoạt động
ngoại giao văn hóa của Đảng và Nhà nước Việt Nam 1986-2009” (bảo vệ
năm 2009) đã trình bày sâu về khái niệm ngoại giao văn hóa và các hoạt động

Đồng thời tác giả phân tích một số nguyên nhân tại sao văn hóa không được
các nhà hoạch định chính sách giữa Việt Nam và EU quan tâm. Tác giả cũng
chỉ ra những dấu hiệu cho thấy quá trình ấm dần của những giao lưu, trao đổi
văn hóa giữa hai bên.
Nhiều công trình đã khái quát quá trình giao lưu văn hóa giữa Việt
Nam và các nước thành viên EU như: “Vài nét về quan hệ văn hóa Pháp –
Việt” của tác giả Đặng Việt Bích in trên Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 7
năm 1997; “Về mối quan hệ về văn hóa Đức và Việt Nam” của tác giả Đặng
Việt Bích in trong Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 8 năm 1999.
Trong bài viết “Việt Nam và Liên minh châu Âu trong bối cảnh hiện
tại” in trên tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội: Khoa học xã hội và
Nhân văn tập 30, số 2, tác giả Michael Reiterer đã trình bày một cách khái
quát về quan hệ Việt Nam – EU trong bối cảnh thay đổi của thế giới và khu
vực. Tuy nhiên, tác giả chủ yếu chỉ chú trọng phân tích mối quan hệ của hai
bên về hợp tác kinh tế, an ninh mà chưa đi sâu vào các quan hệ văn hóa giữa
Việt Nam và EU.
Các công trình trên đã đề cập đến mối quan hệ văn hóa giữa Việt Nam
với Liên minh châu Âu cũng như giữa Việt Nam với một số nước thành viên
trong Liên minh châu Âu nhưng chỉ dừng lại ở mức độ khái quát, có tính chất
gợi mở, chưa đi sâu phân tích hoạt động ngoại giao văn hóa giữa Việt Nam
với Liên minh châu Âu; cũng như vai trò của sự lãnh đạo của Đảng đối với
hoạt động đó.

8


Tổng hợp cả ba nhóm công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, tác
giả nhận thấy các tác giả chủ yếu đề cập đến ngoại giao văn hóa ở các khía
cạnh khác nhau như khái niệm, nội hàm, vai trò, vị trí. Một số công trình bắt
đầu đi sâu phân tích các chính sách ngoại giao văn hóa của Đảng. Tuy nhiên

+ Làm rõ quá trình thực hiện chủ trương của Đảng trong hoạt động
ngoại giao văn hóa của Việt Nam với EU. Chỉ ra những kết quả của việc thực
hiện chủ trương này.
+ Đánh giá và rút ra những kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng trong
hoạt động ngoại giao văn hóa Việt Nam với EU.
4.Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam với hoạt động ngoại giao văn hóa của Việt Nam với Liên
minh châu Âu (EU).
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận văn nghiên cứu chủ trương chung của Đảng về
ngoại giao văn hóa. Đồng thời luận văn xem xét sự chỉ đạo cụ thể của Nhà
nước Việt Nam đối với hoạt động ngoại giao văn hóa của Việt Nam với EU.
Ngoại giao văn hóa có nội hàm khá rộng lớn. Trong khuôn khổ luận
văn thạc sĩ chỉ tập trung làm rõ một số hoạt động chính yếu: ngoại giao văn
hóa của Việt Nam với EU thông qua các Chương trình Ngày Việt Nam ở
nước ngoài, các kênh hợp tác quốc tế (UNESCO), thông tin đối ngoại, hoạt
động du lịch, thông qua cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài…
Để tạo điểm nhấn, ngoài những thông tin chung về EU, luận văn sẽ
khai thác thông tin ở một vài quốc gia cụ thể như Pháp, Đức, Italia, Anh.
Về thời gian: Tập trung vào giai đoạn từ 2000 đến 2014.

10


5.Phƣơng pháp nghiên cứu, nguồn tƣ liệu
5.1. Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận: Dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng chủ yếu phương pháp lịch

với Liên minh châu Âu (EU) từ năm 2000 đến năm 2005
Chương 2: Đảng lãnh đạo hoạt động ngoại giao văn hóa của Việt Nam
với Liên minh châu Âu (EU) từ năm 2006 đến năm 2014
Chương 3: Một vài nhận xét và kinh nghiệm

12


Chƣơng 1: ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO VĂN HÓA
CỦA VIỆT NAM VỚI LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU)
TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2005
1.1. Khái quát chung về ngoại giao văn hóa
1.1.1. Các khái niệm cơ bản
Văn hóa
Khái niệm “văn hoá” đã được bàn luận từ xa xưa. Các học giả, nhà
nghiên cứu với các góc nhìn khác nhau đã đưa ra rất nhiều khái niệm của
riêng mình. Đặc biệt, khi quá trình toàn cầu hóa và quốc tế hóa diễn ra mạnh
mẽ, đồng thời với đó là việc giữ gìn bản sắc văn hóa riêng. Vấn đề văn hoá
càng được quan tâm rộng rãi và sâu sắc. Có thể kể đến một số định nghĩa tiêu
biểu như:
Trên thế giới, ở phương Tây, trong tiếng Anh, văn hóa là culture, trong
tiếng Đức là kultur, trong tiếng Nga là kultura. Những chữ này có chung gốc
Latinh là cultus animi có nghĩa là trồng trọt tinh thần. Như vậy, cultus có
nghĩa là văn hóa được hiểu với hai khía cạnh: trồng trọt, thích ứng với tự
nhiên, khai thác tự nhiên và giáo dục, đào tạo cá thể hay cộng đồng đề họ phát
triển những giá trị nhân văn và có những phẩm chất tốt đẹp.
Trong công trình Việt Nam văn hóa sử cương, học giả Đào Duy Anh
quan niệm: “Văn hóa là cách sinh hoạt của con người.” [1; tr.10] Hiểu theo
định nghĩa này tức là tất cả các mặt ăn, ở, đi lại, đến cách cư xử của con người
đều tựu chung lại là văn hóa.

được những nét đặc sắc riêng trong nền văn hóa của mình, phát huy được
những lợi thế sẵn có của mình trong hợp tác kinh tế quốc tế, mà còn làm quen
với những yếu tố văn hóa ngoại lai và nhận biết những yếu tố nào trong số đó
có ích lợi có thể bổ sung những mặt còn chưa phát triển đầy đủ hoặc chưa có
trong nền văn hóa bản địa để sử dụng và những yếu tố nào thì không.
Lợi ích căn bản và lâu dài mà giao lưu văn hóa đem lại là thúc đẩy sự
phát triển của mỗi nền văn hóa. Lịch sử cho thấy, không một nền văn hóa nào

14


có thể phát triển nhanh hoặc vượt bậc mà không có sự giao lưu với nền văn
hóa khác. Giao lưu văn hóa làm cho những cộng đồng, những quốc gia dân
tộc đóng kín trở nên mở hơn, đã mở trở nên ngày càng mở hơn. Giao lưu văn
hóa là cơ sở bước đầu để thực hiện ngoại giao văn hóa sau này.
Nếu như trong quá khứ, giao lưu văn hóa chủ yếu thể hiện qua sự tác
theo chiều từ Tây sang Đông mà ít có ảnh hưởng ngược lại. Thì đến thế kỷ
XXI, các nền văn hóa phương Đông đã có tác động mạnh hơn, thể hiện trong
khái niệm “đối thoại văn hóa”.
Văn hóa ngoại giao
Văn hóa ngoại giao nặng về cách ứng xử có trình độ cao, biểu hiện văn
minh, đồng thời thể hiện thuần phong mỹ tục. Còn có thể gọi đó là phong thái
ngoại giao. Đó là một yêu cầu trước hết đối với cán bộ ngoại giao, đó cũng là
yêu cầu đối với mọi người từ lãnh đạo đến cán bộ trong tiếp xúc đối ngoại.
Ngoại giao văn hóa
Giống như văn hóa, khái niệm ngoại giao văn hóa đến nay vẫn chưa
được thống nhất. Theo từ điển Bách khoa toàn thư Wikipedia: ngoại giao văn
hóa là thuật ngữ để chỉ “một hình thức ngoại giao với một loạt những phương
sách làm cơ sở cho hoạt động thực tiễn một cách hiệu quả; những phương
sách này bao gồm sự thừa nhận và hiểu biết rõ ràng về động lực văn hóa của

khía cạnh văn hóa khác, với mục đích tăng cường hiểu biết lẫn nhau [164]
Việt Nam xác định nội hàm của ngoại giao văn hóa là “bông hoa đào
năm cánh” bao gồm năm yếu tố Mở đường- Xúc tác- Quảng bá- Vận độngTiếp thu. Các yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại nhau. “Mở
đường, khai thông quan hệ với các nước và khu vực chưa có nhiều quan hệ
với Việt Nam; xúc tiến, tăng cường và làm sâu sắc hiểu biết với các quốc gia;
quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam trên trường quốc tế; vận
động để Việt Nam có nhiều di sản được UNESCO công nhận và tiếp thu tinh
hoa văn hóa nhân loại để làm giàu bản sắc văn hóa dân tộc.” [6]

16


Tựu chung lại, ngoại giao văn hóa có thể được xem như một trong ba
trụ cột của nền ngoại giao hiện đại, xây dựng, quảng bá hình ảnh quốc gia đến
thế giới nhằm tăng cường hiểu biết, quan hệ với nước ngoài, nâng cao vai trò,
vụ thế của quốc gia dân tộc. Đồng thời thông qua hoạt động ngoại giao văn
hóa, quốc gia cũng tiếp thu văn hóa, văn minh quốc tế làm giàu, bổ sung cho
văn hóa dân tộc.
1.1.2. Vai trò của ngoại giao văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa
Từ xa xưa, các quốc gia đã tiến hành giao lưu văn hóa. Tuy nhiên,
trong lịch sử, vai trò của văn hóa thường bị đánh giá thấp hơn so với chính trị,
quân sự và các thể chế khác. Những hoạt động ngoại giao văn hóa sơ khai có
lẽ là việc trao đổi lễ vật và vật phẩm văn hóa giữa giới cầm quyền các nước.
Cho đến ngày nay, khi hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ, vai trò của ngoại
giao văn hóa mới được coi trọng hơn.
Vai trò của ngoại giao văn hóa trong nền ngoại giao hiện đại liên quan
chặt chẽ đến một khái niệm khác gọi là sức mạnh mềm hay quyền lực mềm.
Theo Giáo sư Joseph Nye - giáo sư Đại học Harvard của Mỹ - người
được coi là cha đẻ của thuyết “sức mạnh mềm”, thì sức mạnh tổng hợp của
một quốc gia gồm có “sức mạnh cứng” (hard power, gồm sức mạnh quân sự,

sức mạnh mềm chỉ được triển khai hiệu quả khi bản thân quốc gia đó tạo ra
được những giá trị đích thực, nhất là về văn hóa, được nhiều người thừa nhận,
mến mộ và chia sẻ.
Thực tế ngoại giao văn hóa chính là một dạng sức mạnh mềm. Ngoại
giao văn hóa tạo nên nền tảng tin tưởng giữa dân tộc này với dân tộc khác, để
từ đó các nhà hoạch định chính trị, kinh tế, và quân sự có thể tìm kiếm sự
đồng thuận và hợp tác. Trong xu thế hòa bình, sự phụ thuộc giữa các quốc gia
trên thế giới ngày càng sâu sắc, vai trò của ngoại giao văn hóa ngày càng trở
nên quan trọng và được quan tâm hơn bao giờ hết.
Bước vào thế kỷ XXI, nhiều nước đã thực hiện ngoại giao văn hóa một
cách có hiệu quả như Singapho, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Trung Quốc…

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status