Nghiên cứu đặc điểm hình thái, phân loại và các thành phần kháng nguyên chất tiết của sán lá gan lớn Fasciola spp. - Pdf 36

MỤC LỤC

1


DANH MỤC BẢNG

2


DANH MỤC HÌNH

3


PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh sán lá gan lớn là bệnh phổ biến ở trâu bò và các động vật
khác như dê, cừu. Bệnh có khả năng lây truyền qua người do ăn rau
sống mọc dưới nước có chứa nang trùng. Có hai loại sán lá gan lớn là
Fasciola gigantica và Fasciola hepatica. Fasciola gigantica phổ biến ở
những vùng nhiệt đới như Đông Nam Á, Châu Phi, Hawaii, Pakistan và
Thái Lan; còn Fasciola hepatica phổ biến ở Châu Âu, vùng Đông Nam
Châu Phi, Mỹ, Châu Úc và Nhật Bản. Các công trình nghiên cứu của
những tác giả trong nước cho thấy động vật ăn cỏ ở Việt Nam nhất là
trâu bò bị nhiễm sán lá gan cao và đa số là do F. gigantica. Bệnh sán lá
gan làm giảm trọng lượng con vật rõ rệt, giảm phẩm chất của thịt (thịt bị
thấm ướt), giảm sức chống đỡ với các bệnh khác, làm giảm lượng sữa
ở trâu bò nuôi lấy sữa.
Bệnh sán lá gan do Fasciola spp không chỉ gây ra những thiệt hại
nặng nề trong ngành chăn nuôi mà cũng là một căn bệnh truyền lây giữa

thiết bị phức tạp và có thể thực hiện ở hầu hết các phòng thí nghiệm. Việc xác
định loài sán lá gan lớn là cơ sở để lựa chọn, thực hiện các nghiên cứu tiếp theo
nhằm tìm hiểu cơ chế bệnh sinh, nghiên cứu tạo ra các kít huyết thanh chẩn
đoán, nghiên cứu thuốc điều trị, tình hình kháng thuốc… Qua đó góp phần
quan trọng trong công tác phòng chống bệnh do sán lá gan lớn gây ra ở động
vật và ở người phù hợp với điều kiện của từng quốc gia, từng vùng lãnh thổ.
Theo các công trình nghiên cứu khoa học trên thế giới, khi ký sinh
trong cơ thể vật chủ, sán lá gan lớn sẽ tiết ra các chất có đặc tính sinh
học và là kháng nguyên (nên còn gọi là kháng nguyên tiết) đối với thể
chủ. Loại kháng nguyên này được đánh giá là có mức độ đặc hiệu cao
hơn kháng nguyên thân và kháng nguyên bề mặt, do đó việc chẩn đoán
bệnh sán lá gan sẽ chính xác hơn nếu sử dụng loại kháng nguyên này.
Ngoài ra, trong dịch tiết này còn có thành phần cysteine-protease được
5


biết như là một enzyme thiết yếu cho cầu ký sinh giữa ký sinh vật và thể
chủ. Enzyme tinh chế đã được dùng làm vaccine tiêm chủng trên cừu
cho thấy, mặc dù không loại trừ được hoàn toàn sự phát triển của sán lá
gan nhưng kết quả thí nghiệm đã chứng minh có sự giảm hoặc làm mất
hẳn sự xuất hiện của trứng sán trong phân. Điều này cũng góp phần hạn
chế sự lây lan của dịch bệnh, giảm thiệt hại kinh tế.Vì vậy chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài:
Nghiên cứu đặc điểm hình thái, phân loại và các thành phần
kháng nguyên chất tiết của sán lá gan lớn Fasciola spp.



Mục tiêu của đề tài
Xác định đặc điểm hình thái và phân loại sán lá gan lớn Fasciola

Hệ bài tiết rất kém phát triển gồm nhiều ống nhỏ, phân nhánh và thông
7


với hai ống chính. Hai ống này hợp lại ở cuối thân rồi thông ra ngoài qua
lỗ bài tiết. Đặc điểm chính của sán lá gan lớn là sự có mặt của các tế
bào hình ngọn lửa trong hệ bài tiết của sán. Thực quản tương đối ngắn,
ống tiêu hóa khá dài ra tận phần cuối thân sau, phân thành nhiều nhánh.
Dịch hoàn nằm sau buồng trứng và cũng phân nhánh. Hệ thần kinh kém
phát triển gồm 2 hạch thần kinh ở phần đầu sán từ đó phát ra 3 dây thần
kinh đi về phía sau cơ thể. Sán lưỡng tính, bộ phận sinh dục có lỗ nằm
gần giác bụng.
Cơ quan sinh dục đực bao gồm một hay nhiều tinh hoàn kết nối với
một ống đơn thuần hoặc một ống dẫn tinh lớn, nhờ vào một ống ngắn
hoặc ống dẫn tinh. Ống dẫn tinh sẽ kết thúc bằng một cơ quan sinh dục
đực. Cơ quan sinh dục cái bao gồm một buồng trứng duy nhất kết nối
với ống dẫn trứng. Ống dẫn trứng nối với ống noãn hoàng. Ống dẫn
trứng nối tiếp với ootype rồi được bao quanh bởi một khối tuyến ngoại
tiết. Tử cung nằm ở cuối của ootype. Sự thụ tinh hiếm khi xảy ra trong
các loài sán lá. Cũng như nhiều loai sán lá, sán lá gan lớn có thể tự thụ
tinh hoặc thụ tinh chéo, trong cơ thể sán có cả cơ quan sinh dục đực và
cái. Hệ thống sinh dục rất phát triển, tử cũng sán chứa đầy trứng.
PGS.TS Phan Địch Lân (1994), đã phân biệt khái quát hai loài sán
lá gan như sau:
- Một loài có chiều dài thân gấp ba lần chiều rộng, sán dài từ 25 –
75 mm, rộng từ 3 -12mm, vai sán không có hoặc nhìn không rõ rệt,
nhánh ruột chia tỏa ra nhiều nhánh ngang, loài này là F.gigantica.
Hai rìa bên thân sán song song với nhau, đầu cuối của thân tù.
Giác bụng tròn lồi ra. Ruột, tuyến noãn hoàng, buồng trứng và tinh hoàn
đều phân nhánh. Trứng hình bầu dục, màu vàng nâu, phôi bào to đều và

10


2.1.3 Vòng đời của sán lá gan lớn
Sự phân bố các loài ốc - vật chủ trung gian của sán lá gan phụ
thuộc vào các vùng địa lý khác nhau. Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996)
[3], vật chủ trung gian của sán lá Fasciola là các loài ốc nước ngọt
Lymnaea: L. auricularia, L. swinhoei, L. viridis, Agalba truncatula, Radix
ovata.
Phan Địch Lân (1985) [11] đã nghiên cứu đặc điểm sinh học của ốc
- vật chủ trung gian của F.gigantica ở miền Bắc Việt Nam. Tác giả cho
biết, vật chủ trung gian của sán lá Fasciola là hai loài ốc nước ngọt thuộc
giống Lymnaea với tên gọi là ốc vành tai (L.swinhoei) và ốc chanh (L.
viridis). Loài L. swinhoei có vỏ mỏng, dễ vỡ, không có nắp miệng, kích
thước 20 mm, vòng xoắn cuối cùng rất lớn, chiếm gần hết phần thân, vỏ
loe ra như vành tai. Loài L. viridis cũng có vỏ mỏng, không có
nắp miệng, kích thước 10 mm, vỏ dễ vỡ, có 4 - 5 vòng xoắn, vòng xoắn
cuối cùng lớn.
Phan Địch Lân (1994, 2004) cho biết: ốc L. swinhoei phân bố nhiều
hơn ở vùng đồng bằng, trong khi ốc L. viridis phân bố nhiều hơn ở vùng
núi, trung du và ven biển. Theo kết quả nghiên cứu của tác giả thì hai
loài ốc này đều xuất hiện trong cả 12 tháng của năm, nhưng mật độ (tính
trên 1m2 khác nhau theo vùng: vùng đồng bằng, mật độ ốc L. swinhoei
cao hơn và phân bố đều trong năm, còn ốc L. viridis thì xuất hiện với mật
độ cao hơn ở các vùng núi, trung du, ven biển. Từ đó, tác giả nhận xét
rằng, ốc L. swinhoei chịu nước hơn, còn ốc L. viridis chịu cạn hơn.
Theo Nguyễn Trọng Kim và cs (1997), giữa tỷ lệ nhiễm ấu trùng
sán lá gan của ốc - vật chủ trung gian với tỷ lệ nhiễm sán lá gan của
trâu có mối tương quan thuận, nghĩa là nếu tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá
gan ở ốc nước ngọt cao thì tỷ lệ nhiễm sán lá gan của trâu ở khu vực đó

thực quản và ruột phân thành hai nhánh.
Từ khi Miracidium chui vào ốc đến khi phát triển thành Cercaria cần
khoảng 50 - 80 ngày. Sau khi thành thục, cercaria thoát khỏi ốc, ra môi
12


trường ngoài bơi tự do trong nước, có kích thước 0,28 - 0,30 mm chiều
dài và 0,23 mm chiều rộng. Sau vài giờ bơi trong nước cercaria rụng
đuôi, tiết chất nhầy xung quanh thân, chất nhầy gặp không khí khô rất
nhanh. Lúc này cercaria đã biến thành Adolescaria.
Adolescaria hình khối tròn, bên trong chứa phôi hoạt động. Phôi có
giác miệng, giác bụng, ruột phân nhánh và túi bài tiết. Adolescaria
thường ở trong nước hoặc bám vào cây cỏ thuỷ sinh. Nếu trâu, bò, dê nuốt phải
adolescaria vào đến dạ dày và ruột, lớp vỏ ngoài bị phân huỷ, ấu trùng được
giải phóng và di chuyển đến ống mật bằng ba con đường:
- Một số ấu trùng dùng tuyến xuyên chui qua niêm mạc ruột, vào tĩnh mạch
ruột qua tĩnh mạch gan xuyên qua nhu mô vào ống mật.
- Một số ấu trùng khác cũng dùng tuyến xuyên chui qua thành ruột vào
xoang bụng, đến cửa gan xuyên qua vỏ gan vào ống mật.
- Một số ấu trùng từ tá tràng ngược dòng dịch mật để lên ống dẫn mật. Sau
khi vào ống dẫn mật, ấu trùng ký sinh ở đó và phát triển thành sán lá gan trưởng
thành. Theo Skerman (1996), thời gian sán lá gan hoàn thành vòng đời là 92 117 ngày, Fasciola trưởng thành có thể ký sinh trong ống dẫn mật của súc vật
nhai lại từ 3 - 5 năm, có khi tới 11 năm.

Hình : Vòng
sán lá gan

đời của

(Nguồn:

gan sưng lên. Khi sờ vào vùng này con vật có cảm giác đau đớn và chết
dễ dàng vì viêm gan nặng hoặc vì suy kiệt.
Vật mới cảm nhiễm thường viêm gan cấp tính, gan sưng to có màu
nâu sẫm. Bề mặt gan co những vệt, đường đi di hành đỏ thẫm dài 2 –
4mm. Tìm thấy sán non kích thước bé. Sau 2 – 3 tháng cảm nhiễm, có
bệnh tích của viêm gan mãn tính. Gan xơ cứng niêm mạc ống mật dày
lên nhiều do mô liên kết tăng sinh làm bề mặt gan chai cứng, xù xì. Niêm
mạc ống mật tăng sinh tạo ra các u. Viêm ống mật mãn tính.
14


Hình : Bệnh tích do sán lá gan lớn gây nên
 Chẩn

đoán bệnh

Việc chẩn đoán có thể tiến hành trên trâu bò còn sống hoặc đã chết,
tùy điều kiện thực tế mà áp dụng biện pháp phù hợp.
- Đối với trâu bò còn sống: Để chẩn đoán bệnh do sán lá Fasciola
gây ra, thường áp dụng các biện pháp như chẩn đoán lâm sàng, kết hợp
đặc điểm dịch tễ học, xét nghiệm phân con vật nghi bệnh và chẩn đoán
miễn dịch học.
Triệu chứng lâm sàng của bệnh sán lá gan thường thấy nhất là: kiệt
sức, thiếu máu ỉa chảy, suy nhược, rụng lông...các biểu hiện trên không
chỉ thấy ở bệnh do Fasciola gây nên. Vì vậy triệu chứng lâm sàng không
phải là căn cứ duy nhất để kết luận bệnh.
Chú ý đến tính chất vùng có đủ điều kiện thích hợp cho sán phát
triển, tuổi trâu bò bệnh. Song, những dẫn liệu này chỉ là những thông tin
cần xem xét trong các chẩn đoán chứ không phải là cơ sở quan trọng
nhât trong chẩn đoán.


nghiệm phân, cần phân biệt trứng sán lá và trứng Paramphistimum kí
sinh ở dạ cỏ (phân biệt về màu sắc, hình dạng, tế bào noãn hoàng và
kích thước ).
Phương pháp miễn dịch học để phát hiện trâu bò nhiễm Fasciola
spp đã được sử dụng là: dùng kháng nguyên tiêm nội bì, căn cứ vào
phản ứng ở nơi tiêm để kết luận. Các phương pháp khác như: phương
pháp miễn dịch men ELISA, miễn dịch huỳnh quang.... Tuy nhiên, do khó
khăn về phương tiện và việc chế kháng nguyên chuẩn nên các phương
pháp này còn ít được dùng trong bệnh kí sinh trùng nói chung và bệnh
sán lá gan nói riêng.
- Đối với trâu bò chết:
Khi trâu bò chết, mổ khám tìm sán lá Fasciola spp ở giai đoạn ấu
trùng và trưởng thành trong ống dẫn mật, gan, xoang bụng.... Phương
pháp này chính xác hơn cả, vì tìm thấy cả sán lá non trong giai đoạn di
hành.
 Phòng

bệnh:

Cơ sở khoa học để đưa ra phòng bệnh sán lá gan lớn nói chung là
phải được hiểu cụ thể vòng đời sinh họ của sán lá gan lớn, của ốc
Lymnaea – vật chủ trung gian truyền bệnh, vật chủ cuối cùng là trâu bò...
+ Chống phát tán mầm bệnh: Ủ phân diệt trứng sán, làm tinh sạch
“tinh khiết” ốc ký chủ trung gian. Áp dụng biện pháp chia lô chăn thả, quy
hoạch bãi chăn gia súc không bị nhiễm sán, kiểm tra gia súc để phân
loại tẩy sán trước khi thả vào bãi.
+ Diệt mầm bệnh: Tẩy sán lá gan trong cơ thể gia súc theo lịch dựa
vào chu trình sinh học của sán. Những cơ sở giống 3 tháng tẩy 1 lần;
các cơ sở ô nhiễm nặng tẩy 2 lần/năm; cơ sở ô nhiễm nhẹ tẩy 1 lần/1

- Giai đoạn mật (trưởng thành): Có thể kéo dài nhiều năm do
Fasciola sp có xu hướng di chuyển đến lòng ống mật chủ và phát triển
thành sán trưởng thành ở đó. Trên đường đi sán ăn mô gan kí chủ gây
ra các triệu chứng nặng. Gan to, vàng da, thiếu máu ( một con sán
trưởng thành hút khoảng 2ml máu một ngày). Đôi khi sán non có thể lọt
vào tĩnh mạch về đại tuần hoàn và định vị ở những nơi xa như mô dưới
da, phổi, mắt ...(trường hợp kí sinh trùng lạc chỗ). Sau ba tháng sán đã
định vị trong ống mật. Người bệnh sẽ có triệu chứng viêm gan mật mãn,
tiếp tục bị mệt mỏi, sút cân, biếng ăn... Giai đoạn này, số bạch cầu ái
18


toan lại giảm nhiều. Trong phân cũng như dịch mật người bệnh bắt đầu
có thể tìm thấy những trứng sán. Nhưng thực tế số trứng rất ít và cũng ít
khi xét nghiệm này được chỉ định. Bệnh tiếp tục kéo dài trong nhiều năm,
nếu để tồn lưu lâu ngày sẽ bị các bệnh mãn tính cảu đường mật và có
thể dẫn đến biến chứng xơ gan, vỡ gan, suy gan, đau bụng dai dẳng,
mất sức lao động và cuối cùng có thể dẫn đến tử vong.
 Chẩn

đoán bệnh

Ở người, việc chẩn đoán sán lá gan vẫn gặp rất nhiều khó khăn do
có nhiều triệu chứng lâm sàng và bệnh tích không rõ ràng. Bệnh rất khó
chẩn đoán về mặt hình ảnh học (kể cả bằng siêu âm hay chụp CT scan
gan) dễ dẫn đến xử lý không đúng nguyên nhân gây bệnh. Bởi khi ấu
trùng xuyên qua các cơ quan, bộ phận trong cơ thể, các tổn thương có
thể gây triệu chứng không rõ rệt.
Khi thấy có các triệu chứng đã nêu ở trên, người bệnh cần đi xét
nghiệm và chẩn đoán sán lá gan lớn.

20


Đặc điểm tổn thương chủ mô gan trên siêu âm: dạng thâm nhiễm là
phổ biến, có thể gọi là thâm nhiễm gan do sán lá gan lớn. Các tổn
thương gọi là áp-xe có thể chỉ là chỗ nang hóa, điều này phù hợp với
hình ảnh chụp CT-scan. Dấu hiệu dãn và dày vách đường mật hiếm gặp,
có thể do tổn thương vẫn còn ở giai đoạn sớm. Dấu hiệu tích tụ dịch
dưới bao gan không gặp thường xuyên và tổn thương ở phân thùy 5-6
cũng không phải là qui luật.
Nguyên nhân tổn thương: Kích thước Fasciola trung bình 3.0 x 1.8
cm, về lý thuyết có thể quan sát được trên siêu âm như ngoại vật trong
gan, nhưng chưa lần nào được phát hiện. Dù sao cần tìm sán lá gan
trong tổn thương gan để có được chẩn đoán xác định và đặc hiệu nhất.
Nếu được phát hiện sớm, việc điều trị nhiễm sán lá gan lớn khá dễ
dàng.
 Điều trị

+ Dùng Dehydro – Emetine hoặc Chlorhydrate Emetine, mặc dầu
thuốc này có nhiều tác dụng phụ (gây liệt cơ, suy tim...); bệnh nhân phải
nằm viện tối thiểu 10 ngày nhưng vẫn phải sử dụng vì thị trường trong
nước chưa có thuốc nào thuận tiện hơn. Hiện nay, có xu hướng sử dụng
triclabendazole.
+ Theo dõi bệnh nhân sau điều trị thi thấy tỷ lệ bạch cầu toan tính
trong máu và hình ảnh siêu âm gan có xu hướng trở lại bình thường
sớm hơn hiệu giá huyết thanh miễn dịch. Đến tháng 9, tỷ lệ bạch cầu
toan tính trong máu của 70% bệnh nhân trở lại mức bình thường sớm
hơn hiệu giá huyết thanh miễn dịch. Sau một năm điều trị, hiệu giá
kháng thể vẫn còn cao (trên 91,96%) nên không thuận lợi để theo dõi
hiệu quả điều trị.

khu vực có liên quan trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của ốc – vật
chủ trung gian của sán lá gan lớn. Điều kiện ẩm ướt, mưa nhiều tạo ra
môi trường nước, giúp ốc nước ngọt Lymnaea sống và sinh sản thuận
lợi.
22


- Trịnh Văn Thịnh và cs (1978), Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999), đều
cho rằng, gia súc nhai lại nhiễm sán lá gan thường tăng lên vào mùa vật
chủ trung gian phát triển. Những năm mưa nhiều, tỷ lệ nhiễm sán lá gan
tăng lên so với những năm nắng ráo khô hạn. Mùa vụ gắn liền với sự
thay đổi thời tiết, khí hậu. Mùa hè thu, số gia súc bị nhiễm sán lá gan lớn
tăng cao hơn mùa khác trong năm. Cuối mùa đông bệnh sán lá gan lớn
thường phát triển.
- Yếu tố địa hình: vùng và địa hình là hai khái niệm khác nhau, song có
liên quan chặt chẽ với nhau. Các vùng khác nhau có địa hình không
giống nhau. Địa hình là yếu tố quan trọng quyết định sự khác nhau giữa
các vùng.
- Các vùng khác nhau trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đều
thuộc 4 loại địa hình: ven biển, đồng bằng, trung du và miền núi.
- Hầu hết các nhà kí sinh trùng học đều thống nhất cho rằng, gia súc
nhai lại ở vùng đồng bằng nhiễm sán nhiều nhất, tỷ lệ nhiễm và cường
độ nhiễm giảm dần với đàn gia súc nhai lại ở vùng ven biển, vùng trung
du và miền núi. Về nguyên nhân dẫn đến quy luật này, các tác giả Trịnh
Văn Thịnh (1930, Phạm Văn Khuê và cs, 1996; Soulsby, 1982; Kaufman,
1996 đều giải thích: vùng đồng bằng có nhiều ao hồ, kênh, rạch, có điều
kiện cho ốc – vật chủ trung gian sinh sống và phát triển. Các kiểu địa
hình khác thì vấn đề này hạn chế hơn so với vùng đồng bằng.
- Phan Địch Lân và cs ( 1985), đã khảo sát đặc điểm sinh học của ốc –
vật chủ trung gian của sán lá gan lớn sống ở miền bắc Việt Nam cho

thiếu máu do xuất huyết, có thể chết do mất máu.
Tác động cơ giới của sán lá còn tiếp tục khi sán lá đã vào óng dẫn
mật, tiếp tục tăng lên về kích thước và phát triển thành sán lá trưởng
thành. Sán lá trưởng thành thường xuyên kích thích niêm mạc ống mật
bằng các gai cutin trên cơ thể , gây viêm ống mật, mật ứ lại không xuống
ruột được sẽ tràn vào máu gây hiện tượng hoàng đản.
Trong quá trình kí sinh, sán lá thường xuyên tiết độc tố. Độc tố tác
24


động vào thành ống mật và mô gan, gây biến đổi đại thể và vi thể, làm
tăng quá trình viêm. Đồng thời, độc tố của sán lá còn hấp thu vào máu
gây hiện tượng trúng độc toàn thân, gây hủy hoại máu, làm biến chất
protein trong máu, làm Albumin giảm, Globulin tăng. Độc tố của sán lá
còn làm tăng nhiệt độ cơ thể, tăng bạch cầu, tác động vào thần kinh làm
cho con vật có triệu chứng thần kinh...
Một tác động quan trọng của Fasciola khi kí sinh ở vật chủ là chiếm
đoạt dinh dưỡng. Dinh dưỡng của sán lá gan là máu trâu bò mà nó kí
sinh. Bằng phương pháp phóng xạ, người ta đã thấy mỗi sán lá kí sinh ở
ống dẫn mật lấy 0,2ml máu mỗi ngày. Như vậy, nếu trâu bò nhiễm ít sán
lá thì vai trò chiếm đoạt dinh dưỡng không rõ, nhưng nếu mỗi trâu bò có
hàng trăm, hàng nghìn sán lá kí sinh thì lượng máu mất đi rất nhiều.
Ngoài các tác động gây bệnh trên, trong khi di hành, sán lá non còn
mang theo các loại vi trùng từ bên ngoài vào máu, gan và những cơ
quan khác, gây những bọc mủ hoặc gây bệnh truyền nhiễm ghép với
bệnh sán lá gan.
Tất cả những tác động kể trên của sán lá Fasciola làm cho sức đề
kháng của cơ thể trâu, bò giảm sút nghiêm trọng, dễ mắc các bệnh khác,
hoặc làm cho các bệnh đang có trong cơ thể trâu bò nặng thêm lên.
Daves ( 1958) nhận xét rằng, gia súc bị suy nhược và thiếu máu là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status