Tình hình kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn lậu phân lập được tại bệnh viện da liễu trung ương từ 102015 32016 - Pdf 36

1

ĐẶT VẤN ĐÊ
Bệnh lậu là một trong những bệnh LTQĐTD phổ biến ở nước ta và nhiều
nước trên thế giới. Căn nguyên gây bệnh là vi khuẩn lậu có tên khoa học là
Neisseria gonorrhoeae và được Neisser mô tả lần đầu tiên vào năm 1879.
Theo thông báo của WHO 2011, hàng năm trên thế giới có khoảng 448
triệu người mới mắc các bệnh LTQĐTD ở độ tuổi 15-49, trong đó có khoảng
87,7 triệu người bị bệnh lậu. Tính riêng khu vực Đông Nam Á, hàng năm có
tới 70,8 triệu người bị bệnh LTQĐTD trong đó số người mắc bệnh lậu là 22,7
triệu người [1].Ơ Việt Nam, theo thống kê của ngành Da liễu năm 2012 có
305.234 người bị bệnh LTQĐTD trong đó có 6.625 người bị bệnh lậu.
Vi khuẩn lậu ngoài gây các bệnh lý tại hệ sinh dục tiết niệu như viêm
niệu đạo, viêm tiền liệt tuyến, viêm âm đạo, viêm vòi trứng… thì còn có khả
năng gây viêm kết mạc ở trẻ sơ sinh, viêm khớp…. Mặc dù bệnh không gây
tử vong, nhưng nếu không điều trị kịp thời, điều trị không đúng phác đồ hoặc
vi khuẩn đã kháng thuốc thì sẽ gây ra nhiều biến chứng nặng nề mà quan
trọng nhất là dẫn đến vô sinh ở người lớn. Từ lâu việc điều trị bệnh lậu bằng
kháng sinh đã cho kết quả tốt. Tuy nhiên, do tình trạng sử dụng kháng sinh
tùy tiện đã làm gia tăng tính kháng kháng sinh của vi khuẩn lậu.
Chương trình giám sát kháng kháng sinh của vi khuẩn lậu ở khu vực
châu Á-Thái Bình Dương 2012 đã phân lập 9.744 chủng tại 19 quốc gia và
vùng lãnh thổ. Sự kháng kháng sinh của vi khuẩn lậu với nhóm quinolon đang
ở mức độ cao: Ấn Độ 97,3%, Hồng Kông 96,7%, Việt Nam 96,5%, Phillippin
96,6%, Hàn Quốc 92,7%, Trung Quốc 89,4%, Nhật Bản 72,5% [2]. Ơ Việt
Nam, theo nghiên cứu của Phạm Thị Lan và cộng sự năm 2011, tỷ lệ kháng
của vi khuẩn lậu trên invitro với ciprofloxacin 98%, penicillin 48%,
tetracyclin 28% [3].


2

thế kỉ thứ IV và thứ V trước Công nguyên, Hippocrates đã viết rất nhiều về
bệnh lậu. Ông gọi bệnh lậu cấp là “chứng đái són đau”. Ơ châu Âu, những
hiểu biết về bệnh lậu và những bệnh LTQĐTD khác còn rất ít cho tới cuối
thời kì Trung cổ. Sau khi bệnh giang mai lan tới châu Âu vào cuối thế kỉ XV,
có sự nhầm lẫn đáng kể về mối quan hệ giữa bệnh lậu và bệnh giang mai. Cho
tới khi nhà hoa liễu Pháp, Philippe Ricorod (1799-1889), phân biệt được hai
bệnh này bằng một loạt các thực nghiệm.
Hiểu biết thực sự về căn nguyên gây bệnh lậu chỉ được sáng tỏ sau mô
tả của Neisser (1855-1916) về Neisseri gonorrhoeae vào năm 1879 và nuôi
cấy được vi khuẩn lần đầu tiên trên môi trường nhân tạo của Leistikow và
Loeffler vào năm 1882. Năm 1962, môi trường Thayer-Martin ra đời đã tạo
điều kiện thuận lợi cho việc chẩn đoán và làm tăng tỷ lệ phát hiện vi khuẩn
lậu bằng nuôi cấy.
1.1.2. Tình hình nhiễm vi khuẩn lậu và sự kháng kháng sinh của vi khuẩn
lậu trên thế giới
1.1.2.1. Tình hình nhiễm vi khuẩn lậu trên thế giới
Tại Mỹ, mỗi năm ước tính có khoảng 820.000 trường hợp mới mắc vi
khuẩn lậu và bệnh lậu đứng hàng thứ 2 trong những bệnh truyền nhiễm tại
quốc gia này [4]. Ơ Nga, tỷ lệ mắc vi khuẩn lậu là 68,47/100000 người và con
số này là 34,60/100.000 tại nước Anh. Tỷ lệ nhiễm vi khuẩn lậu tại Colombia
lên đến 25% trong tổng số các bệnh lây truyền qua đường tình dục [5].


4

1.1.2.2. Tình hình kháng kháng sinh của vi khuẩn lậu trên thế giới
Việc dùng kháng sinh điều trị bệnh lậu đã cho kết qủa tốt, song do việc
sử dụng kháng sinh không theo chỉ định của bác sĩ ở những nước đang phát
triển đã tạo điều kiện làm gia tăng sự đề kháng kháng sinh thông thường sử
dụng trong điều trị bệnh lậu. Sự kháng kháng sinh của vi khuẩn lậu đã được

2009
5014
285
5,7%
2010
5672
362
6,4%
Tổng
20262
1946
9,6%
1.1.3.2. Tình hình kháng kháng sinh của vi khuẩn tại Việt Nam
Theo Lê Văn Hưng, nghiên cứu tình hình kháng kháng sinh tại viện Da
Liễu Quốc gia qua 3 năm 2005, 2006, 2007 cho kết quả như sau [10].


5

Năm
KS
Penicillin
Ciprofloxacin
Tetracyclin
Azithromycin
Cefotaxim
Spectomycin
Ceftriaxone

2005 (n=162)

49,6%[11], Mỹ(2006): 13,3%[12], Nam Phi 7%[13], tỷ lệ kháng thấp hơn
Nga (2007) azithromycin 2,3%, spectomycin 0,9%[11].
1.2. Đặc điểm sinh học
1.2.1.
-

Hình thể và cấu trúc

Hình thể : Vi khuẩn lậu là những cầu khuẩn, hình hạt cà phê, bắt mầu
Gram(-), đứng thành đôi, hai mặt dẹt quay vào nhau, có kích thước 0,6µm
x 0,8µm, khoảng cách giữa hai cầu khuẩn bằng 1/5 chiều rộng. Khi ở trong
tế bào bạch cầu đa nhân trung tính, vi khuẩn lậu là loại vi khuẩn độc chiếm
tế bào (có nó thì không có loại vi khuẩn nào sống trong tế bào). Có thể bắt
gặp một cặp, hai cặp, bốn cặp hoặc nhiều hơn, có khi lèn chặt vào bạch cầu
đa nhân trung tính thoái hóa. Vi khuẩn lậu không sinh nha bào, không có
lông, không có tiêm mao, một số chủng có pili.

-

Cấu trúc:

+ Pili: pili hay còn gọi là nhung mao, là cấu trúc phụ của vi khuẩn có vai trò
quan trọng trong chức năng bám dính, dưới kính hiển vi điện tử, pili xếp
thành từng sợi hoặc thành từng tập hợp, có khả năng bám rộng tới vài
micromet ở trên bề mặt tế bào. Pili làm tăng sự bám dính vào các mô vật chủ,


6

chúng gắn tốt hơn vào tế bào biểu mô trụ ở người so với tế bào sừng và gắn


từng tuýp: kháng nguyên lipopolysaccharide (LPS) là kháng nguyên ngoài
màng, nhưng chúng không có ý nghĩa trong chẩn đoán bệnh.
Vi khuẩn lậu có pili, ở dạng T1 và T2 có mất pili. Pili giúp vi khuẩn lậu
bám vào tế bào, giúp cho trao đổi vật liệu di truyền giữa những chủng có pili.


7

Trong các nghiên cứu về vật liệu di truyền đáng quan tâm nhất là 3 dạng
plasmid:
-

Loại 1: plasmid 24,5 Md có khả năng hoạt hóa các plasmid khác.

-

Loại 2: plasmid 2,6 Md chưa có chức năng rõ ràng.

-

Loại 3: plasmid quy định sinh β-lactamase, đây là plasmid quy định
tính kháng kháng sinh của vi khuẩn lậu. Có nhiều plasmid β-lactamse
trên loại vi khuẩn này gây bệnh ở các nước trên thế giới, chúng có
trọng lượng phân tử thay đổi 4,4 Md; 3,2 Md; 2,9 Md.

1.3.
1.3.1.

Cơ chế bệnh sinh[14],[15]

tế bào biểu mô nhờ các tiêm mao đặc biệt là N-methylphenylamin (Type 4)
mà các tiểu đơn vị chính của nó là PilE. Sau sự bám dính ban đầu vi khuẩn
bước vào giai đoạn thứ 2 là giai đoạn liên kết trung gian qua protien P.II
( được biết đến là protein Opa) của màng ngoài, protein này cần thiết cho sự
gắn kết chặt chẽ hơn và cho sự xâm nhập vào các tế bào biểu mô. Protein ở
màng ngoài vi khuẩn lậu P.I (được gọi là Por) cho phép các chất hoàn tan đi
qua màng ngoài vi khuẩn. Tuy nhiên P.I cũng có vai trò trong độc lực của vi
khuẩn lậu, cho phép vi khuẩn lậu tồn tại trong các đại thực bào. P.I cũng được
chứng minh là có khả năng ức chế sự thực bào, giết chết vi khuẩn của đại thực
bào. LOS ở màng ngoài vi khuẩn được cho là căn nguyên dẫn đến hầu hết các
triệu chứng ở bệnh nhân mắc bệnh lậu. LOS của vi khuẩn gây ra phản ứng
viêm dữ dội. Tiếp đó, các bổ thể được hoạt hóa, các đại thực bào được thu hút
tới để tiến hành hoạt động thực bào, sau đó các đại thực bào này tự phân giải
để trở thành một trong các thành phần của mủ. Yếu tố hoại tử u (TNF) được
tạo ra dưới tác dụng của LOS ngay tại nơi xảy ra phản ứng viêm, được cho là
nguyên nhân chính gây tổn thương ống dẫn trứng. Pmp(P.III) là một protein
ngoài màng được tìm thấy ở tất cả các chủng vi khuẩn lậu, không trải qua sự
biến đổi kháng nguyên và được tìm thấy trong một phức hợp với Por và LOS.
Kháng thể kháng Rmp, được tạo ra bởi sự nhiễm vi khuẩn lậu hoặc E.Coli,


9

đều có xu hướng ngăn chặn các kháng thể kháng khuẩn chống lại Por và LOS;
trên thực tế kháng thể kháng Rmp làm tăng tính nhạy cảm với vi khuẩn lậu.
Bên cạnh đó, vi khuẩn lậu có hệ thống thu gom sắt rất phát triển cho
phép vi khuẩn này lấy sắt từ vật chủ trong suốt quá trình tăng trưởng, tạo điều
kiện cần thiết cho sự xâm lấn của vi khuẩn lậu. Trong điều kiện hàm lượng sắt
thấp, vi khuẩn bộc lộ 2 thụ thể transferrin (Tbp1 và Tbp2) và một thụ thể
lactoferrin (Lbp) có trong màng ngoài, những thụ thể này, có khả năng lấy sắt

nhiễm trùng ở cổ tử cung không có biểu hiện triệu chứng, bên cạnh đó nhiễm
trùng niệu đạo không triệu chứng cũng xuất hiện ở nam giới, những đối tượng
này là nguồn lây nhiễm quan trọng cũng như có nguy cơ cao phát triển thành
bệnh lậu có biến chứng. Điều này đã đặt ra một vấn đề lớn bởi những trường
hợp này mang bệnh nhưng chưa được xác nhận và trở thành nguồn lây nhiễm
cho người lành.
Ơ nam giới vi khuẩn lậu có thể xâm nhập vào tuyến tiền liệt gây viêm
tuyến tiền liệt hoặc lan rộng đến tinh hoàn dẫn tới viêm tinh hoàn. Còn ở nữ
giới thông qua tử cung vi khuẩn lậu có thể lan tới ống dẫn trứng và buồng
trứng. Sự viêm nhiễm đến các cơ quan như tinh hoàn, vòi trứng và buồng
trứng có thể dẫn tới tình trạng vô sinh, trong một số trường hợp có thể xuất
hiện nhiễm vi khuẩn lậu lan tỏa. Những hình thức mắc bệnh lậu lan tỏa phổ
biến nhất là viêm da, viêm khớp, viêm nội tâm mạc và viêm màng não.
Viêm nhiễm trực tràng do vi khuẩn lậu xuất hiện ở 1/3 số phụ nữ viêm
cổ tử cung. Trong khi đó, bệnh lậu trực tràng ở người đồng tính nam hầu hết
là do giao hợp qua đường hậu môn và thường có biểu hiện triệu chứng rõ ràng
hơn. Đối với những trường hợp này, bạn tình của họ cũng cần được điều trị để
tránh tái nhiễm.
Nhiễm khuẩn mắt do vi khuẩn lậu có thể dẫn đến những hậu quả
nghiêm trọng như sẹo hoặc thủng giác mạc. Bệnh này thường gặp nhất ở trẻ
sơ sinh, những trẻ tiếp xúc với dịch tiết âm đạo của người mẹ mang bệnh
trong quá trình sinh đẻ.


11

1.3.3. Cơ chế phòng vệ của tổ chức
Sự nhiễm trùng kích thích phản ứng viêm và đáp ứng miễn dịch tại chỗ
(IgA). Phản ứng viêm khi nhiễm trùng là cơ chế bảo vệ của tổ chức tuy nhiên
nó cũng biểu hiện tình trạng bệnh lý của bệnh. Các kháng thể có trong huyết

Nguồn lây
- Bệnh

thường lây truyền trực tiếp qua quan hệ tình dục không bảo vệ:

đường âm đạo, hậu môn và sinh dục - miệng.
- Mẹ mắc bệnh lậu nếu không được điều trị có thể lây nhiễm cho trẻ sơ
sinh khi đẻ gây viêm kết mạc mắt.
1.5. Biểu hiện lâm sàng
1.5.1. Ở nam giới
1.5.1.1. Lậu cấp
- Thời kì ủ

bệnh trung bình 3-5 ngày, có thể sớm nhất là 1 ngày, chậm

nhất là 2 tuần. Thời gian này vẫn có khả năng lây cho người khác.
- Biểu hiện cấp tính: sớm nhất là cảm giác khó chịu dọc niệu đạo kèm
theo đái dắt, đái buốt, đái ra mủ. Miệng sáo, quy đầu viêm đỏ, có mủ chảy ra
tự nhiên hoặc chảy ra khi vuốt dọc từ gốc dương vật, kèm theo bệnh nhân có
thể sốt, mệt mỏi.
1.5.1.1. Lậu mạn: biểu hiện lâm sàng thường khó nhận biết, tuy nhiên có thể thấy các
triệu chứng như đái ra mủ, thường thấy vào buổi sáng (gọi là giọt mủ ban
mai), cũng có thể đái buốt không rõ ràng, bệnh nhân có cảm giác nóng rát dọc
niệu đạo, đái dắt do viêm niệu đạo sau, có thể có các biến chứng như áp xe, viêm
tiền liệt tuyến, viêm túi tinh…
1.5.2. Ở nữ giới
1.5.2.1. Lậu cấp
Thời kì ủ bệnh thường kéo dài hơn, trung bình 5-7 ngày. Lâm sàng
thường âm thầm không rõ ràng. Khám bộ phận sinh dục có thể thấy mủ tại vị
trí âm hộ, lỗ niệu đạo viêm đỏ, các lỗ tuyến Skène, Bartholin đỏ, cổ tử cung

Tìm kháng thể kháng lậu bằng kháng thể đơn dòng gắn huỳnh quang.
Tìm IgM bằng ELISA để chẩn đoán nhiễm vi khuẩn lậu ngoài đường
sinh dục.

1.7. Phòng và điều trị
1.7.1. Điều trị
- Nguyên tắc điều trị: điều trị đồng thời Chlamydia, điều trị sớm, đúng phác
đồ, điều trị cả bạn tình đồng thời tuân thủ chế độ điều trị không quan hệ tình dục,


14

không làm thủ thuật tiết niệu trong thời gian điều trị. Xét nghiệm huyết thanh
giang mai và HIV trước và sau điều trị để phát hiện sàng lọc hai bệnh này.
- Phác đồ điều trị:
+ Cefixime 400mg, uống liều duy nhất hoặc
+ Ceftriaxone 25mg, tiêm bắp liều duy nhất hoặc
+ Spectinomycin 2g tiêm bắp liều duy nhất

1.7.2. Phòng bệnh
- Tuyên

truyền, giáo dục cho cộng đồng biết được nguyên nhân, cách thức

lây truyền và cách phòng bệnh.
- Hướng dẫn tình dục an toàn: chung thủy một vợ một chồng. Sử dụng bao
cao su khi quan hệ tình dục: dùng đúng cách và thường xuyên, đặc biệt các
đối tượng có nguy cơ cao như gái mại dâm, khách làng chơi. Thực hiện
chương trình 100% sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục.


Lam kính, giá cất lam, giá phơi lam, bút viết lam kính
Nước muối sinh lí 0,9%, thuốc nhuộm Gram
Tủ ấm nuôi cấy vi khuẩn, đèn cồn và cồn 90o
Thước đo vòng ức chế của kháng sinh với vi khuẩn
Các khoanh giấy kháng sinh của hãng Oxiod.

2.2.2. Môi trường phân lập vi khuẩn[16], [17]
Môi trường Thayer-Martin: thạch GC chứa 10% Hemoglobin Powder của
hãng BBL-Mỹ.
- Chuẩn

bị: hỗn hợp thạch GC: 36g/ 1L, nước cất 2 lần có pH=7,3:500mlx2,

Hemoglobin Power : 10g/1L


16

- Cách

pha chế: cho hỗn hợp thạch hòa vào 500ml nước cất 2 lần, trộn đều, đun

cách thủy cho hết thạch, hấp ướt 121oC trong 15 phút, lắc đều và để nguội
xuống 50oC. Cho 100ml nước cất 2 lần vào Hemoglobin Powder, trộn đều đến
tan hết, cho đủ 500ml nước cất, hấp ướt 121oC trong 15 phút, lắc đều và để
nguội xuống 50oC. Khi thạch nguội xuống 50 oC cho 1% chất tăng sinh, 1%
chất ức chế, tiếp theo cho dung dịch Hemoglobin Powder, lắc đều, phân phối
ra các hộp petri. Bảo quản môi trường tủ lạnh 4-8 oC, sử dụng trong vòng 10
ngày.
Môi trường Thayer-Martin làm kháng sinh đồ: pha chế như môi

17

2.3.2.2. Kỹ thuật lấy bệnh phẩm[16],[17]: theo tài liệu xét nghiệm Da liễu,
Bộ Y tế, Bệnh viện Da liễu Trung ương, quy trình kỹ thuật lấy bệnh phẩm của
WHO (2013):
Ở nữ giới: lấy bệnh phẩm chủ yếu ở niệu đạo và cổ tử cung, 2 tuyến
Skène, 2 tuyến Bartholin. Ngoài ra còn lấy bệnh phẩm ở hậu môn, họng, da,
mắt nếu có yêu cầu của bác sĩ lâm sàng.
Cổ tử cung: làm ẩm mỏ vịt bằng nước cất vô trùng, đặt mỏ vịt để bộc lộ

-

cổ tử cung, dùng tăm bông vô trùng đưa sâu vào cổ tử cung 2-3cm, để 5-10
giây cho dung dịch ngấm vào tăm bông, dàn mỏng trên tiêu bản.
-

2 bên của tuyến Skène, 2 bên của tuyến Bartholin: lấy bệnh phẩm bằng

que cấy hoặc tăm bông vô trùng rồi dàn đều bệnh phẩm lên tiêu bản.
-

Niệu đạo: dùng que cấy tăm bông vô trùng loại nhỏ đưa sâu vào niệu

đạo khoảng 1,5-2cm rồi xoay nhẹ tăm bông, để khoảng 5-10 giây cho dịch tiết
ngấm vào băng bông. Rút tăm bông ra một cách nhẹ nhàng và dàn mỏng và
đều với đường kính 10mm lên lam kính sạch đã đánh thứ tự hoặc tên tuổi
bệnh nhân.
Ở nam giới: bệnh nhân bộc lộ bộ phận sinh dục, vuốt từ gốc dương vật
lên, dùng bông thấm nước cất vô trùng lau bỏ phần mủ ở ngoài niệu đạo trước
khi lấy bệnh phẩm. Dùng tăm bông vô trùng đưa sâu vào lỗ niệu đạo 1,5-2cm,

Gram thấy song cầu hạt cà phê bắt màu Gram(-) đa hình thái.
+ Test

oxidase: dương tính. Dùng pipette Pasteur hơ qua trên ngọn lửa

đèn cồn, lấy khuẩn lạc nghi ngờ phết lên giấy thấm Whatman No 1 kích thước
2,5x0,5 cm đã được làm ẩm 2-3 giọt thuốc thử Tetramethyl Pphenylendiamin hydrochloride 1%. Vi khuẩn lậu cho kết quả dương tính với
test oxidase: Trong vòng 5 giây sau khi thấm vi khuẩn lậu lên giấy thấm
Whatman, giấy thấm chuyển từ màu đỏ hồng sang tím đậm vì những vi khuẩn
có men oxidase khi tiếp xúc với Tetramethyl P-phenylendiamin và sự có mặt
của oxy ngoài không khí sẽ làm chuyển màu giấy thấm.
+ Test cơ chất enzyme chromogenic


19

Chuẩn bị: bộ kit BactiaCard Neisseria của hãng sản xuất remell-Mỹ,
nước cất 2 lần 1lọ 6ml có chứa cất bảo quản, chất tạo màu có thành phần
0,02% p-dimethylaminocinnamaldehyde, chủng vi khuẩn lậu cần thử.
Các bước tiến hành (theo đúng thường quy của hướng dẫn kit)
Kiểm tra tính thuần khiết của chủng nuôi cấy được sau 18-48h trên môi
trường Thayer-Martin, nếu nghi ngờ cụm colon không thuần khiết cần tiến
hành nuôi cấy trên thạch chocolate. Các chủng chấp nhận được cho thử
nghiệm bao gồm test oxidase dương tính, nhuộm gram thấy song cầu khuẩn
gram(-) hình thái phù hợp với N. gonorrhoeae, N.lactamica và N.meningitidis.
Nhỏ vào mỗi vòng tròn test một giọt nước cất 2 lần được cung cấp trong bộ
kit. Phết khuẩn lạc phân lập được trên mỗi vòng tròn test. Ủ ở nhiệt độ phòng
trong 2 phút. Quan sát vòng tròn IB cho kết quả màu xanh lá cây là dương
tính. Nếu IB âm tính, tiếp tục ủ ở nhiệt độ phòng thêm 13 phút (tổng thời gian
kiểm tra là 15 phút). Quan sát vòng tròn BGAL cho màu xanh lá cây là kết

3x108 vi khuẩn/1ml). Dùng pipette Pasteur hút huyền dịch láng đều lên bề mặt
đĩa thạch có đường kính 9 cm với độ dày 4 cm. Hút bỏ huyền dịch thừa, để


20

khô mặt thạch ở nhiệt độ phòng. Đặt các khoanh giấy kháng sinh lên mặt đĩa
thạch, để khoảng 10 phút rồi đặt vào tủ ấm ủ ở tủ ấm 35-36 0C, 3-10% CO2, độ
ẩm >70%. Đọc kết quả sau 18-24 giờ, đo đường kính vùng ức chế tính bằng
mm. Đo đường kính vình ức chế. Nếu vùng ức chế không tròn đều thì chọn
rìa nào tròn nhất để đo đường kính. So bảng (CLSI 2010).
Bảng 2.1. Các loại kháng sinh và giới hạn đường kính vòng vô khuẩn xếp
loại mức độ nhạy cảm của N. gonorrhoeae
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9

Kháng sinh
Penicillin G
Azithromycin
Cefotaxim
Ceftriaxon
Ciprofloxacin

CXM
CFM

Đường kính vòng vô khuẩn
R
≤ 26
≤ 13
≤ 27
≤ 14
≤ 30
≤25
-

(mm)
I
27-46
14-17
28 – 40
15 – 17
31-37
26-30
-

S
≥ 47
≥ 18
≥ 31
≥ 35
≥ 41
≥ 18


6,4%

Âm tính

1171

93,6%

Tổng

1251

100%


22

Nhận xét: Tỷ lệ nhiễm vi khuẩn lậu là 6,4%.3.1.2. Tỷ lệ nhuộm soi dương
tính
Bảng 3.2. Tỷ lệ nhuộm soi dương tính (n=1.251)
Nhuộm soi
Kết quả
Số bệnh nhân

Tỷ lệ(%)

Dương tính

76

Nam giới

798

66(82,5%)

8,3

Nữ giới

453

14(17,5%)

3,1

Tổng

1251

80(100%)


23

Biểu đồ 3.2.Tỷ lệ bệnh nhân dương tính theo giới
Nhận xét: Tỷ lệ nhiễm vi khuẩn lậu ở nam giới là 8,3% chiếm tỷ lệ cao
82,5% tổng số bệnh nhân dương tính với vi khuẩn lậu, còn ở nữ giới tỷ lệ nhiễm là
3,1% chiếm 17,5% trong tổng số bệnh nhân dương tính với vi khuẩn lậu.



23

28,8%

41-50

6

7,5%

>50

1

1,2%

Tổng

80

100%

Nhóm tuổi

Biểu đồ 3.3. Tỷ lệ bệnh nhân dương tính theo nhóm tuổi
Nhận xét: Số lượng bệnh nhân đến khám bệnh tập trung chủ yếu ở
nhóm tuổi 21-30 tuổi (56,3%) và 31-40 tuổi (28,8%), bên cạnh đó kết quả
cũng ghi nhận 2 trường hợp mắc bệnh lậu ở trẻ dưới 10 tuổi (2,5%).


100%


25

Nhận xét: trong 80 bệnh nhân nhiễm vi khuẩn lậu, có 73 bệnh nhân có
số lượng bạch cầu >10, chiếm 91,3%; có 7 trường hợp bạch cầu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status