Hoạt động tạo việc làm cho người khuyết tật
tại huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình (Khảo sát
tại hai xã Yên Thắng và Khánh Thịnh)
Ngô Thị Bích Phượng
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Đại học Quốc gia Hà Nội
Luận văn ThS. Công tác xã hội: 60 90 01 01
Người hướng dẫn : TS. Nguyễn Thế Huệ
Năm bảo vệ: 2013
97 tr .
Abstract. Trình bày những đặc điểm của người khuyết tật như độ tuổi, giới tính, tình
trạng hôn nhân, tình trạng khuyết tật, hoàn cảnh kinh tế gia đình. Đó là những yếu tố
ảnh hưởng đến đến quá trình học nghề và tìm kiếm việc làm của người khuyết tật tại
hai cơ sở tư nhân trên địa bàn xã Yên Thắng và Khánh Thịnh huyện Yên Mô. Qua việc
khảo sát 100% số người khuyết tật bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu tại hai cơ sở tư
nhân trên địa bàn xã Yên Thắng và Khánh Thịnh, đi sâu nghiên cứu cách thức, phương
pháp dạy nghề và tạo việc làm của hai cơ sở tư nhân trên hai xã khác nhau. Mỗi một
cơ sở tư nhân có một cách thức cũng như hướng đi khác nhau trong quá trình dạy nghề
và tạo việc làm nhưng đều đem lại những hiệu quả nhất định. Cơ sơ Yên Thắng
chuyên về một nghề may mặc trong khi đó cơ sở tại Khánh Thịnh nhận nhiều loại hình
công việc hơn cho người khuyết tật. Tuy nhiên đó lại là những công việc không ổn
định và thu nhập của người khuyết tật còn khả năng lao động còn thấp. Từ thực trạng
trên, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần thúc đẩy hoạt động tạo việc
làm cho người khuyết tật tại huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình mà cụ thể là tại hai cơ sở
tư nhân Yên Thắng và Khánh Thịnh. Đề tài đã chỉ ra được vai trò vô cùng quan trọng
của nhân viên công tác xã hội trong hoạt động tạo việc làm cho người khuyết tật hiện
nay đặc biệt là ứng dụng trong hai cơ sở tạo việc làm cho người khuyết tật tại huyện
Yên Mô.
Keywords.Công tác xã hội; Người khuyết tật; Việc làm
Content.
1. Lý do chọn đề tài
khuyến nghị và giải pháp giúp hoạt động tạo việc làm cho người khuyết tật đạt hiệu
quả cao hơn nữa.Luận văn giới hạn việc nghiên cứu hoạt động tạo việc làm cho người
khuyết tật tại 2 cơ sở tư nhân trên địa bàn hai xã Yên Thắng và Khánh Thịnh của
Huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.
2. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Để có được việc làm trong nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt và
nhiều áp lực với người bình thường đã khó nhưng với người khuyết tật - một trong
những nhóm người “yếu thế” của xã hội điều đó càng trở nên khó khăn hơn. Bởi yếu tố
khiến người khuyết tật không thể cạnh tranh trong quá trình tìm kiếm việc làm lại nằm
ở chính những khiếm khuyết mà họ đang mang trong mình. Nhưng hơn ai hết, người
khuyết tật là người có mong muốn được hoà nhập với cộng đồng để đóng góp vào sự
phát triển của xã hội một cách mạnh mẽ. Điều đầu tiên họ cần có việc làm, có thu nhập
để nuôi sống bản thân, giảm áp lực cho gia đình và xã hội. Việc làm không chỉ đem lại
niềm vui, thu nhập cho người khuyết tật mà còn là cầu nối giúp họ tự tin, hòa nhập với
cuộc sống. Vì vậy, vấn đề tạo việc làm cho người khuyết tật luôn là vấn đề mang tính
thời sự và cần được sự quan tâm của tất cả các Quốc gia, dân tộc và mọi công dân trên
thế giới, trong đó có Việt Nam.
Theo điều tra của Tổ chức Lao Động Quốc Tế, ở Việt Nam, rất ít người khuyết
tật có việc làm và thu nhập ổn định, rất nhiều người vẫn phải làm những công việc phi
chính thức. So với các nhóm lao động khác, tỷ lệ thất nghiệp ở nhóm khuyết tật cao
hơn nhiều, lên tới 30%.
Theo số liệu thống kê của Bộ Lao Động Thương Binh và Xã Hội, tỉ lệ người
khuyết tật ở nông thôn là 87,27% trong tổng số người khuyết tật. Đa số người khuyết
tật sống ở khu vực này thuộc diện nghèo và cận nghèo. Số người khuyết tật còn lại
trong độ tuổi lao động là 61%, trong đó 40% còn khả năng lao động, nhưng trong số
này chỉ còn 30% đang tham gia lao động tạo thu nhập cho bản thân và gia đình, chủ
yếu làm các nghề nông – lâm – ngư nghiệp có thu nhập thấp so với các công việc khác.
Từ thực trạng trên cho thấy vấn đề dạy nghề và tạo việc làm cho người khuyết
chức năng lao động cho người khuyết tật, đào tạo, dạy nghề cho người khuyết tật trên
cơ sở quan điểm chung tay: Nhà nước/cộng đồng/gia đình cùng chăm lo đời sống, việc
làm cho người khuyết tật. Tạo việc làm cho người khuyết tật phải xã hội hóa, đa dạng
hóa dưới nhiều hình thức khác nhau như sắp xếp việc làm cho người khuyết tật ở các
cơ quan hành chính sự nghiệp và ở các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Ổn định và
phát triển các cơ sở kinh doanh dành riêng cho người khuyết tật. Hỗ trợ, tạo điều kiện
cho người khuyết tật tự hành nghề. Ở cấp độ vĩ mô, luận án khuyến nghị Nhà nước
hoàn thiện luật pháp và chương trình, chính sách liên quan đến người khuyết tật. Xây
dựng và phát triển hệ thống tổ chức của người khuyết tật, tổ chức vì người khuyết tật,
nâng cao nhận thức của xã hội về việc làm, đời sống cho người khuyết tật. Luận án đưa
ra một quy trình đồng bộ để giải bài toán việc làm cho người khuyết tật, mỗi một biện
pháp đều dựa trên quan điểm và cách nhìn nhận đúng đắn, thống nhất về vai trò, vị thế
của người khuyết tật trong xã hội vì vậy mỗi một giải pháp đều liên quan chặt chẽ với
nhau; để tạo việc làm thành công thì trước hết cần phải chăm sóc sức khỏe, phục hồi
chức năng rồi sau đó mới dạy nghề, những cơ sở sản xuất kinh doanh được tạo điều
kiện tốt nhất để có thể đáp ứng nhu cầu được học nghề của người khuyết tật. Sau khi
người khuyết tật được trang bị những kiến thức, kỹ năng hành nghề thì sẽ được sắp
xếp, bố trí việc làm phù hợp với dạng nghề được học. Luận án đã chỉ ra tỉ mỉ và chi tiết
những cách thức tạo việc làm cho người khuyết tật nước ta trên quan điểm đồng bộ
chung tay của Nhà nước, cộng đồng, gia đình và bản thân của người khuyết tật. Tuy
nhiên, đó là những giải pháp chung nhất để tạo việc làm cho người khuyết tật ở nước
ta. Trên thực tế của đời sống xã hội, ở mỗi địa phương, mỗi vùng miền trên cả nước
đều có những đặc điểm khác nhau về địa lý, tự nhiên, về trình độ phát triển kinh tế,
văn hóa xã hội, về tập tục làm ăn, sinh sống. Bao nhiêu tỉnh thành là bấy nhiêu nền văn
hóa, bấy nhiêu phong tục tập quán, lối sống qua hàng nghìn đời nây, vì vậy việc áp
dụng mỗi giải pháp đó như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất lại phụ thuộc vào rất nhiều
yếu tố, chính sách của Đảng và Nhà nước hiện nay. Nhưng việc thực thi chính sách, sự
quan tâm của mỗi cộng đồng, gia đình hoặc thậm chí ngay cả bản thân của những
3.1 Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu này đi sâu vào phân tích cho các lý thuyết xã hội học như: lý thuyết
hệ thống, lý thuyết nhu cầu để từ đó tìm ra cơ sở thực tiễn giải thích cho các lý thuyết.
Việc kiểm định những lý thuyết này sẽ góp phần đem lại một cái nhìn thực tiễn, đầy đủ
hơn với hệ thống tri thức của chuyên ngành công tác xã hội.
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Câu hỏi làm thế nào để người khuyết tật tự nuôi sống bản thân, tự tin hòa nhập
cộng đồng trong bối cảnh hiện nay luôn cần được cả cộng đồng tìm lời giải. Sự hỗ trợ
của cộng đồng thông qua các quỹ, các phong trào dường như mới dừng ở việc “cho
con cá” chưa phải “cho cần câu” do vậy vẫn chưa thực sự tìm được lời giải bền vững
nhất, lâu dài nhất. Người khuyết tật cần phải được dạy nghề và tạo việc làm để phát
huy hết khả năng và sự sáng tạo. Giai đoạn hiện nay, Yên Mô đang có những hoạt
động tạo việc làm cho người khuyết tật bước đầu đem đến những kết quả tích cực để
nhằm khắc phục tình trạng người khuyết tật đang trong độ tuổi lao động, còn khả năng
lao động nhưng không có việc làm.
Nghiên cứu hướng đến tìm hiểu thực trạng hoạt động tạo việc làm cho người
khuyết tật tại huyện Yên Mô của chủ hai cơ sở tư nhân tại xã Yên Thắng và Khánh
Thịnh, từ đó giúp cho các cơ sở tư nhân đang có xu hướng tạo việc làm cho người
khuyết tật có thêm một số dữ liệu và giải pháp trong việc nâng cao chất lượng những
hoạt động tạo việc làm cho người khuyết tật đồng thời chỉ ra vai trò của nhân viên
công tác xã hội trong hoạt động thực tiễn cụ thể nhất.
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động tạo việc làm cho người khuyết tật tại hai cơ sở tư nhân thuộc huyện
Yên Mô, tỉnh Ninh Bình
4.2. Khách thể nghiên cứu
Cơ sở tư nhân tạo việc làm cho người khuyết tật và người khuyết tật tại hai cơ
sở thuộc xã Khánh Thịnh và Yên Thắng, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.
trên địa bàn hai xã.
Từ đó tìm ra những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động tạo việc làm.
Đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tạo
việc làm cho người khuyết tật đặc biệt là vai trò của nhân viên công tác xã hội.
8. Giả thuyết nghiên cứu
-Hoạt động tạo việc làm cho người khuyết tật của hai xã được triển khai bằng
những cách thức khác nhau, ngành nghề khác nhau
-Phần lớn những người khuyết tật cho rằng hoạt động tạo việc làm tại hai cơ sở
có nhiều tác động tích cực và mang đến những kết quảtốt
- Khó khăn khi thực hiện hoạt động tạo việc làm cho người khuyết tật tại đây:
thị trường đầu ra cho sản phẩm, thiếu cơ sở hạ tầng, thời gian dạy nghề dài.
9. Phương pháp nghiên cứu
9.1. Phương pháp luận nghiên cứu
9.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin
Chủ nghĩa Mác – Lênin giúp chúng ta có cách nhìn đúng đắn và toàn diện về
thế giới khách quan. Trong đó, chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử đã phát hiện những quy luật cơ bản thể hiện sự luận giải và là nguyên tắc cho nhiều
khoa học nói chung. Con người là một thực thể thống nhất giữa các yếu tố sinh vật và
xã hội, đồng thời: “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá
nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những
quan hệ xã hội”. Bản chất con người theo quan điểm của Mác được hình thành và thể
hiện ở những con người hiện thực. Là những con người cụ thể sống trong những điều
kiện cụ thể, những mặt khác nhau tạo nên bản chất con người. Ngoài ra tất cả các mối
quan hệ xã hội đều góp phần hình thành nên bản chất con người. Các quan hệ này có vị
trí vai trò khác nhau nhưng không tách rời nhau mà tác động qua lại lẫn nhau. Từ đó
phát triển con người là một điểm mấu chốt để phát triển kinh tế xã hội.
9.1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta
Nhà nước luôn có những chính sách, chế độ tạo điều kiện thuận lợi cho người
trên địa bàn xã Khánh Thịnh và Yên Thắng; 2 chủ sử dụng lao động khuyết tật, 2 cán
bộ Phòng lao động thương binh và xã hội huyện, từ đó làm rõ hơn vấn đề đang nghiên
cứu.
9.2.3. Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi.
Cũng tuân theo những nguyên tắc cơ bản của việc xây dựng bảng hỏi, tuy nhiên
phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi có những yêu cầu tỉ mỉ và chi tiết hơn
như: tất cả các câu hỏi cần phải được diễn đạt sao cho khi đọc lên ai cũng hiểu được ý
nghĩ của nó và sẵn sàng cung cấp thông tin, việc trình bày cũng phải rõ ràng, sạch đẹp
để thể hiện sự tôn trọng đối với người được nghiên cứu.
Luận văn sử dụng phương pháp điều tra khảo sát qua phiếu trưng cầu ý kiến với
kích thước mẫu là 76 mẫu.
9.2.4 Phương pháp quan sát
Quan sát rất có giá trị khi nghiên cứu bản chất sâu lắng của hiện tượng, nghiên
cứu về những nguyên nhân, động cơ của những hoạt động, nghiên cứu về cơ cấu của
các mối quan hệ trong nhóm xã hội.
Trong luận văn, phương pháp quan sát được sử dụng để ghi lại những nguyện
vọng, mong muốn, mức độ hài lòng từ bản thân của người khuyết tật và của người sử
dụng lao động khuyết tật tại hai cơ sở Yên Thắng và Khánh Thịnh.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đàm Hữu Đắc (1996), Những biện pháp chủ yếu tạo việc làm cho người tàn tật
ở Việt Nam, Luận án phó tiến sỹ khoa học kinh tế.
2. Eric Rosenthal và Viện quốc tế bảo vệ người khuyết tật tâm thần (12/2009),
“Quyền của trẻ em khuyết tật tại Việt Nam: Đưa luật pháp Việt Nam phù hợp
với công ước quốc tế về quyền của Người khuyết tật, UNICEF guidelines”
3. Vũ Thị Bích Hạnh, Nguyễn Thị Thúy Hành (2005), Tổ chức của người khuyết
tật- một phương thức góp phần phát triển chương trình phục hồi dựa vào cộng
đồng, Hà Nội.
4. Bộ Lao Động Thương Binh và Xã Hội (2011), Báo cáo kết quả thực hiện Đề án
Nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia, Hà Nội.
18. Nguyễn Thị Hải Vân (2009), Tình hình thực hiện pháp luật và chính sách về
việc làm cho người khuyết tật, Cục việc làm- Bộ Lao động Thương Binh và Xã
Hội.
19. Dạy nghề/việc làm cho người khuyết tật Việt Nam (2008), Nhà xuất bản
Lao động xã hội.
20. Hồng Minh (2005), Tạo việc làm cho người khuyết tật – kinh nghiệm từ một dự
án quốc tế, Tạp chí Lao động- xã hội, số 264, tr.32-33
21. Tuấn Cường (2004), Định hướng sửa đổi, bổ sung chính sách tạo việc làm cho người
khuyết tật tại Việt Nam, Tạp chí Lao động-xã hội, số 237, tr.32-37.
22. Ngô Thị Bích Phượng (2013), Người khuyết tật huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình,
Tạp chí Người cao tuổi, số 60, tr.26-27-28.
23. Viện Nghiên cứu Phát triển xã hội, (2008), Người khuyết tật ở Việt Nam, kết
quả điều tra xã hội tại Thái Bình, Quảng Nam, Đà Nẵng và Đồng Nai”, NXB
Chính trị quốc gia.
24. Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc Hội khóa XI (2006), Báo cáo kết quả giám
sát thực hiện chính sách pháp luật về người cao tuổi, người tàn tật, dân số, Nhà
xuất bản Lao động-Xã hội, Hà Nội.
25. Văn phòng tư vấn hỗ trợ người tàn tật Việt Nam (ODTA) (2007) – Việc làm cho
người khuyết tật, Bộ Lao động thương binh và Xã hội, Hà Nội.
26. Xu hướng lao động và xã hội Việt Nam 2009/10 (2010), Viện Khoa học Lao
động - Xã hội, Hà Nội.
TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG NƯỚC NGOÀI
27. Disaled-word.com/disability/statistics/,
“World
Facts