ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ PHÁT TRIỂN
------
Môn: Phân Tích Chính Sách
Nông Nghiệp
Tên đề tài: Chính Sách Giải Quyết Việc Làm Cho Người
Khuyết Tật ở huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế
SINH VIÊN THỰC HIỆN:
GIẢO VIÊN HƯỚNG DẪN
Nguyễn Thị Thùy Phương
TS. Phan Văn Hòa
Lớp: K46A-KTNN
Huế, tháng 12/2015
MỤC LỤC
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việc làm cho người lao động là một trong những vấn đề xã hội có tính chất toàn cầu, là mối
tỉnh Thừa Thiên Huế
Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế
+ Về thời gian: đề tài tập trung nghiên cứu các chính sách giải quyết việc làm trong giai
đoạn những năm gần đây
4
4. Phương pháp nghiên cứu
-
Phương pháp luận duy vật biện chứng
Phương pháp thống kê
Phương pháp so sánh
Phương pháp phân tích, tổng hợp, thu thập và xử lý thông tin.
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
5
1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của chính sách
a) Cơ sở ra đời của chinh sách
Việc làm là một trong những nhu cầu cơ bản của con người để đảm bảo cuộc sống và sự
phát triển toàn diện. Quyền lao động và đảm bảo việc làm của người lao động đã được khẳng
định trong Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đã được cụ thể hoá trong Bộ
luật Lao động đầu tiên ở nước ta. Việc làm, giải quyết việc làm cho người lao động là một trong
những ưu tiên hàng đầu trong các chính sách phát triển kinh tế – xã hội của nước ta. Đặc biệt,
người khuyết tật là những người có những khiếm khuyết, không được hoàn thiện như người bình
6
ĐƠN VỊ
SỐ NKT
1
Xã Lộc Bồn
18
10
Xã Lộc Thủy
27
2
Xã Lộc Sơn
13
11
Xã Lộc Tiến
9
14
Xã Vĩnh Hiền
6
6
Xã Xuân Lộc
7
15
Xã Vinh Hải
11
7
TT Phú Lộc
14
16
Xã Vinh Giang
9
tật)khá đông, xã lộc an có nhiều LĐ NKT nhất (31 người) chiếm 12,02 % lực lượng lao động
người khuyết tật của huyện, xã Vinh Hiền và Vinh Mỹ có ít LĐ NKT nhất, số lượng LĐ NKT ở
huyện phú lộc tương đối lớn đã tạo nên sức ép về giải quyết việc làm cho NKT ở huyện.
+ Về độ tuổi:
NKT trong độ tuổi lao động và có khả năng lao động là nguồn nhân lực quan trọng, là vốn
quý giá của quốc gia, cần phải được sử dụng một cách tối ưu, tránh lãng phí nguồn lực của xã hội
và giảm bớt gánh nặng, sức ép cho những gia đình có NKT
Bảng 2. Cơ cấu độ tuổi của lực lượng lao động NKT năm 2015
Nhóm tuổi
Số lượng (người)
Tỷ lệ phần trăm (%)
Từ 16 tuổi - dưới 19 tuổi
32
32
Từ 20 tuổi – dưới 24 tuổi
13
13
Từ 25 tuổi – dưới 30 tuổi
19
19
Từ 31 tuổi – 60 tuổi
36
36
Tổng
100
100
( Nguồn: số liệu điều tra năm 2015 của phòng LĐ,TB – XH huyện Phú Lộc vào 6 tháng đầu
7
dụng khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, làm năng suấ, chất lượng và thu nhập của người khuyết tật
thấp, đây là những con số rất khiêm tốn, không đáp ứng được nhu cầu lao động hiện nay.
-
Thực trạng việc làm của người khuyết tật:
Bảng 4. Tình trạng việc làm của LĐ người khuyết tật tại huyện Phú Lộc năm 2015
Tình trạng
Số lượng( người) Tỷ lệ (%)
Không có việc làm
37
37
Có việc làm tạm thời
43
43
Có việc làm không ổn định
20
20
Tổng
100
100
( Nguồn: số liệu điều tra năm 2015 của phòng LĐ,TB – XH huyện Phú Lộc vào 6 tháng đầu
năm 2015, mẫu 100 người)
Qua số liệu trên cho thấy, có 37/100 lao động người khuyết tật chưa tìm được việc làm
chiếm 37%, điều này cho thấy tỷ lệ thiếu việc làm của người khuyết tật đang còn cao, đây là một
thực tế đang buồn, hầu hết lao động người khuyết tật chưa tìm được việc làm hoặc chỉ làm
những công việc tạm thời, không ổn định.
- Nguyên nhân lao động người khuyết tật chưa có việc làm
Bảng 5. Nguyên nhân người lao động khuyết tật chưa có việc làm
8
khuyết tật được lấy từ ngân sách địa phương, mở thêm những lớp dạy nghề, hỗ trợ kinh phí cho
người khuyết tật, phân phối tới các phòng, hội, cụ thể là:
+ Phòng Lao Động Thương Binh và Xã Hội: phụ trách triển khai kế hoạch, cùng phối hợp với
các hội đồng thành viên của các xã thị trấn để kịp giải quyết kịp thời chế độ về việc làm cho người
khuyết tật.
+ Hội người khuyết tật huyện Phú Lộc: là cơ quan quản lý, theo dõi, nắm bắt thường xuyên
tình hình về số lượng, hoạt động, đời sống vật chất, tinh thần, tình hình việc làm, thu nhập của
NKT, để kịp thời chỉ đạo, kháo sát và giúp đỡ gia đình cũng như bản thân NKT.
c) Tổ chức và các điều kiện thực thi chính sách
Các chính sách giải quyết việc làm cho lao động người khuyết tật ở huyện Phú Lộc, tỉnh
Thừa Thiên Huế
- Thứ nhất, chính sách đối với LĐ NKT học nghề
Thực hiện tốt các chinh sách đào tạo nghề cho NKT theo quy định của luật NKT, huyện Phú
Lộc đã đưa ra một số chính sách đối với người lao động khuyết tật học nghề như sau:
+ LĐ NKT thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn (trình
độ sơ cấp và dạy nghề dưới 3 tháng) với mức tối đa 3 triệu đồng/người/khóa học, hỗ trợ tiền ăn
9
với mức 15.00 đồng/ngày/người, hỗ trợ tiền đi lại theo giá vé giao thông công cộng với mức tối
đa không quá 200.000 đồng/người/khóa học đối với người học nghề xa nơi cư trú từ 15km trở
lên.
+ LĐ NKT học nghề được vay để học theo quy định hiện hành về tín dụng đối với học sinh,
sinh viên.
+ LĐ NKT sau khi học nghề được vay vốn với lãi suất ưu đãi để sản xuất kinh doanh từ ngân
hàng chính sách xã hội. điều kiện, thời hạn và mức vay thực hiện theo định hiện hành áp dụng đối
với các dự án vay vốn giải quyết việc làm
+ LĐ NKT được hướng dẫn về sản xuất kinh doanh, hỗ trợ chuyển giao công nghệ sản xuất,
hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm do NKT làm ra
-
khuyết tật.
Hoạt động của hội người mù
10
Hội người mù huyện Phú Lộc đến nay đã thành lập được 19 năm với 4 nhiệm kỳ, hội hoạt
động chủ yếu theo ngành dọc, chia làm hai mảng sản xuất: sản xuất trực tiêps và gián tiếp, để
nhằm khắc phục những khó khăn, phát huy những thuận lợi của người mù, giúp họ hòa nhập với
cộng đồng, nâng cao chất lượng cuộc sống.
+ Về cơ sở sản xuất tập trung: Duy trì phát triển cơ sở sản xuất tăm tre, chổi đót, hương
trầm giải quyết và thu hút nhiều người mù trong độ tuổi lao động có việc làm thường xuyên 10
tháng/năm, thu nhập bình quân 600.000 đồng – 7.000.000 đồng/người/tháng, tiếp cận thị
trường tiêu thụ, thay đổi mẫu mã đảm bảo chất lượng đến với người tiêu dùng.
+ Về công tác chăm sóc: Ban chấp hành hội người mù trực tiếp làm việc với phòng
LĐ,TB&XH huyện Phú Lộc để 22 người mù còn lại được hưởng chế độ bảo trợ xã hội theo quy định
nhà nước. Tổ chức viếng thăm, tặng quà cho da đình thuộc diện chính sách nhân ngày Thương
Binh Liệt Sĩ 27/7.
Hoạt động của cơ sở bảo trợ nước ngọt
Cơ sở bảo trợ nước ngọt là một tổ chức công giáo, được thành lập từ năm 1927, hiện nay tại
cơ sở đã chăm sóc, nuôi dạy 68 em khuyết tật và 222 người được tư vấn, hỗ trợ chăm sóc tại cộng
đồng với đội ngũ 21 cộng tác viên tại cộng đồng, hoạt động tại 16 thôn của hai xã Lộc Thủy và Lộc
Tiến.
Cơ sở xác định rõ trẻ em Khuyết Tật cũng là một lực lượng lao động quan trọng trong tương
lai, vì vậy giáo dục, dạy chữ là một giải pháp giúp trẻ em khuyết tật có thể hòa mình với cuộc
sống, tăng thêm kiến thức và cơ hội cho bản thân.
3. Kết quả và hiệu quả thực thi chính sách
a) Kết quả thực hiện
Với sự chủ động, tích cực của gia đình và bản thân NKT và sự nỗ lực hoạt động của các cấp,
các ngành, cách chính sách giải quyết việc làm cho người khuyết tật, các tốt chức đoàn thể xã hội
-
22% NKT học hết tiểu học, 19% học hết trung học cơ sở, 34% học hết trung học phổ thông.
Cho đến nay, thu nhập của người lao động khuyết tật đã từng bước được cải thiện, với mức thu
nhập trước đây bèo bọt từ 500.000 -700.000 đồng/tháng thì hiện nay thu nhập của người lao
động khuyết tật đã lên mức từ 2.000.000 – 3000.000 đồng/tháng, vì vậy họ có thể đảm bảo hơn
về đời sống vật chất cũng như đời sống tinh thần của mình.
b) Nguyên nhân đạt được kết quả, thành tựu
- Trước hết là nhờ sự quan tâm đặc biệt, sử chỉ đạo sâu sát của các chính sách giải quyết việc làm
cho người lao động khuyết tật của chính quyền xã, thị trấn, UBND huyện Phú Lộc mà cụ thể hơn
là phòng Lao Động, Thương Binh&Xã Hội. ngoài việc thực hiện đầy đủ các chế độ cho người
khuyết tật theo quy định, huyện Phú Lộc còn chăm lo cho đời sống của NKT, hỗ trợ phương tiện đi
lại cho người khuyết tật, khuyến khích các doanh nghiệp nhận NKT vào làm việc với những ưu
-
đãi đặc biệt.
Các chính sách hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật hay hỗ trợ về chi phí đi lại, ăn ở cho người
khuyết tật được các bộ, các ngành phân bố ngân sách về địa phương đầy đủ và đúng thời điểm để
huyện Phú Lộc có thể thực hiện tốt các hoạt động hỗ trợ dạy nghề, khuyết khích người khuyết tật
-
làm việc
Nhận thức rằng mình đang được chính quyền các cấp quan tâm, tạo mọi điều kiện, vậy nên chính
bản thân mối người khuyết tật đã có ý thức vươn lên, vượt qua số phận để sớm hòa nhập với
12
-
tuyển dụng
Việc chi ngân sách để thực hiện giải quyết việc làm cho người lao đông khuyết tật trên địa bàn
huyện vẫn chưa được thực hiện một cách rõ ràng, minh bật, nhiều người khuyết tật chưa hưởng
-
được quyền lợi mà họ đáng được nhận
Vẫn chưa xây dựng được một cơ sở đào tạo nghề riêng cho NKT nên chưa đáp ứng đủ nhu cầu về
việc làm của người khuyết tật, một số cơ sở tạo việc làm vẫn đang còn thiếu cơ sỏ vật chất, thiếu
trang thiết bị để sản xuất nên chỉ có thể nhận số lượng học viên rất hạn chế. Số lượng người
khuyết tật chưa qua đào tạo chiếm số lượng lớn, trình độ học vấn vẫn còn thấp. số người khuyết
tật sau khi qua đào tạo nghề chưa có việc làm vẫn còn cao, đây là một trong những thất thức lớn
đối với nhà quản lý, người thực hiện cách chính sách giải quyết việc làm cho người lao động
-
khuyết tật.
Việc cấp vốn cho người khuyết tật phát triển sản xuất, kinh doanh còn gặp nhiều khó khăn. Các
-
thủ tục vay vốn còn nhiều rờm rà, gây khó khăn cho những người khuyết tật khi đi vay vốn.
Bản thân người khuyết tật chưa tiếp cận được các chính sách, các quyền lợi liên quan đến mình,
những quyền lợi mình được hưởng.
13
Tăng cường tuyên truyền, phổ biến để mọi người có những cách nhìn nhận đúng về người khuyết
tật, đồng thời khuyến khích, động viên để mỗi các nhân NKT ý thức được việc cần thiết phải
thường xuyên học tập, nâng cao trình độ, tay nghề mới có thể đáp ứng được yêu cầu của công
-
việc hiện nay
Đưa ra các tấm gương tiêu biểu về những người khuyết tật thành công trong sự nghiệp, cuốc
sống để động viên tình thần người khuyết tật, cũng như giúp xã hội tránh sự kì thị đối với người
khuyết tật.
14
III.KẾT LUẬN
Trên cơ sở nghiên cứu những chính sách giải quyết việc làm cho người lao động khuyết tật
trên địa bàn huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa thiên Huế trong giai đoạn hiện nay, bản thân em nhận
thấy các chính sách giải quyết việc làm cho người lao động khuyết tật trên địa bàn đã đạt được
nhiều thành tựu đáng ghi nhận, làm số lượng người khuyết tật có việc làm tăng lên hơn so với
thời gian trước, chất lượng tay nghề của người lao động cũng được nâng cao, các chính sách đã
có những tác động tích cực đến đời sống vật chất cũng như tinh thần của NKT, người khuyết tật
ngày càng được quan tâm hơn, được tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc tìm kiếm việc làm,
được đảm bảo công bằng lao động. các chính sách xã hội, chế độ xã hội đã tạo cho NKT ở huyện
Phú Lộc được đảm bảo đầy đủ các lợi ích mà pháp luật quy định.
Điều quan trọng nhất là NKT đã từng bước tích cực chủ động hòa nhập với cộng đồng, xóa
đi những mặc cảm của bản thân, chủ động tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh như
những người bình thường khác. Đây là một trong những thành tựu quan trọng của các chính
sách xã hội, các chính sách giải quyết việc làm cho người lao động khuyết tật tại huyện Phú Lộc.
Bên cạnh những thành quả trong việc giải quyết việc làm cho người khuyết tật, thì các chính
sách vẫn cồn cồng kềnh về mặt hành chính, mặt thủ tục, nhiều chính sách chưa phát huy được