PHẦN MỞ ĐẦU
1- Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hiện nay hoạt động tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông Thôn (NHNo&PTNT) Việt Nam nói chung và NHNo&PTNT chi nhánh
huyện Phúc Thọ nói riêng vẫn là hoạt động chủ yếu.
Trong những năm qua, hoạt động tín dụng của chi nhánh NHNo&PTNT
huyện Phúc Thọ đã đóng góp không nhỏ vào sự phát triển kinh tế chung của
Huyện, danh mục tín dụng được thay đổi tích cực, tăng tỷ trọng cho vay đối
với hộ nông nghiệp cũng như doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông
nghiệp, quy trình tín dụng từng bước được thực hiện theo chuẩn mực quốc tế.
Tuy nhiên, trong hoạt động tín dụng, Chi nhánh luôn phải đối diện với nhiều
loại rủi ro, nhất là rủi ro tín dụng. Do vậy, để đảm bảo an toàn trong hoạt
động, quản trị rủi ro tín dụng đã được Chi nhánh đặc biệt quan tâm. Mặc dù
vậy, quản trị rủi ro tín dụng tại Chi nhánh vẫn còn bất cập, chưa đáp ứng được
yêu cầu: rủi ro tín dụng vẫn xảy ra và gây ảnh hưởng tiêu cực về kinh tế - xã
hội.
Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt, nhu cầu tăng trưởng tín
dụng lớn, rủi ro tín dụng có nguy cơ gia tăng, Chi nhánh sẽ khó phát triển bền
vững nếu không chú trọng hơn tới quản trị rủi ro tín dụng.
Chính vì tính cấp thiết như trên, tôi chọn đề tài: “Tăng cường quản
trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Việt Nam - chi nhánh huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội” làm luận
văn tốt nghiệp với mong muốn góp phần đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn.
2- Mục đích nghiên cứu
- Đề xuất giải pháp tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - chi nhánh huyện Phúc Thọ,
thành phố Hà Nội. Để đạt được mục tiêu đó, các nhiệm vụ cụ thể cần được
thực hiện:
1
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại
1.1.1.1. Khái quát về Ngân hàng thương mại
* Khái niệm
Thuật ngữ “Ngân hàng” đã có từ rất lâu, hoạt động ngân hàng được
chứng minh là gắn bó cùng với sự hình thành đời sống kinh tế và xã hội loài
người, nhiều tài liệu và di chứng khảo cổ cho thấy hoạt động ngân hàng đã ra
đời từ 3 - 4 ngàn năm trước công nguyên. Tại Hy Lạp các nhà đổi tiền được
gọi là Trapezita - tiếng Hy lạp có nghĩa là cái bàn. Các Trapezita ngồi trước
các bàn đổi tiền để nhận tiền của giai cấp quí tộc, người giầu có, vv... Ở Ý các
hoạt động mua, bán trao đổi vay tiền được tiến hành trên các bàn dài gọi là
Banca, đây cũng là từ xuất phát gốc của từ Banque (Pháp), Bank ( Anh, Mỹ ,
Đức ), Banco (Ý)... có nghĩa là ngân hàng sau này.
Từ thế kỷ XVIII trở về trước, hoạt động ngân hàng chưa thực sự phát
triển và chưa có vai trò quan trọng. Tuy nhiên, từ đó trở lại đây đặc biệt là
trong thời đại ngày nay ngân hàng được xem như là “mạch máu” của nền kinh
tế, hoạt động ngân hàng thể hiện sức mạnh và tiềm lực của nền kinh tế.
Cùng với chiều dài lịch sử phát triển của ngành ngân hàng, trong mỗi
giai đoạn, hoạt động ngân hàng cũng có sự thay đổi, bên cạnh đó với các hoạt
động đa dạng lại luôn biến động với sự thay đổi chung của nền kinh tế. Mặt
khác, do tập quán luật pháp của mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ khác nhau
dẫn đến quan niệm về Ngân hàng thương mại không thống nhất giữa các nước
và khu vực trên thế giới:
Tại Mỹ, nơi có thị trường tài chính phát triển nhất thế giới: "Ngân
hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài
chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và các dịch vụ thanh
toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ
Hoạt động ngân hàng thương mại phải tuân thủ theo quy định của pháp
luật, nghĩa là chỉ khi ngân hàng thương mại thoả mãn đầy đủ các điều kiện
khắt khe do pháp luật qui định như điều kiện về vốn, phương án kinh
doanh...thì mới được phép hoạt động trên thị trường.
Là một trung gian tài chính, NHTM thường phải đối diện với nhiều rủi
ro. NHTM hoạt động chủ yếu dựa vào lượng vốn huy động từ các tổ chức
kinh tế và dân cư. Do vậy, khi rủi ro xảy ra, sự đổ vỡ của một NHTM có thể
kéo theo sự đổ vỡ của nhiều ngân hàng khác, thậm chí cả hệ thống. Nhằm
tránh tình trạng đó, hoạt động của NHTM chịu sự quản lý chặt chẽ hơn hoạt
động của bất kỳ một tổ chức kinh tế nào trong nền kinh tế.
* Hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thương mại
- Huy động vốn:
Hoạt động huy động vốn là hoạt động cơ bản của NHTM. NHTM huy
động vốn dưới các hình thức khác nhau như: nhận tiền gửi (tiền gửi thanh
toán, tiết kiệm có kỳ hạn, tiết kiệm không kỳ hạn), đi vay, phát hành giấy tờ
có giá, vốn tiếp nhận tài trợ, vốn ủy thác đầu tư. Nguồn vốn huy động dồi dào
sẽ giúp NHTM chủ động trong hoạt động kinh doanh, giảm rủi ro thanh
khoản. Tuy nhiên, NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ nên việc huy
động nguồn vốn như thế nào sẽ được các NHTM đưa ra trên cơ sở chiến lược
kinh doanh và diễn biến thị trường trong từng thời kỳ.
- Hoạt động tín dụng:
Hoạt động tín dụng của các NHTM được hình thành từ rất sớm, ngay từ
khi thành lập các ngân hàng. Những người tổ chức ra NHTM, ngay từ đầu đã
luôn tìm kiếm các cơ hội để tiến hành cho vay, coi đó như là một nhu cầu chủ
yếu trong việc duy trì và mở rộng hoạt động của mình. Các NHTM đã góp
phần thúc đẩy phát triển kinh tế, thông qua hoạt động tín dụng vốn đầu tư
đựơc mở rộng và từ đó làm cho sản phẩm xã hội được tăng lên.
Tín dụng ngân hàng cung ứng cho những người cần vốn để mua, chế
nhu cầu; dịch vụ khấu trừ tự động. Đây là những khoản chi thường xuyên
trong tháng, nếu không có dịch vụ này khách hàng sẽ tốn nhiều thời gian và
phiền toái khi thanh toán các khoản này, cung cấp các phương tiện thanh toán
không dùng tiền mặt.
Nền kinh tế càng phát triển, các dịch vụ ngân hàng theo đó cũng phát
triển theo để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của công chúng thực hiện
nghiệp vụ trung gian mang tính dịch sẽ đem lại cho ngân hàng những khoản
thu nhập khá quan trọng. Điều cần lưu ý là dịch vụ ngân hàng sẽ giúp ngân
hàng phát triển toàn diện.Tại các nước phát triển, các ngân hàng thương mại
cạnh tranh với nhau bằng con đường “phi giá”, tức là luôn có những dịch vụ
mới cung cấp tiện nghi cho khách hàng, không ngừng tìm tòi những dịch vụ
mới cung cấp tiện nghi cho khách hàng. Dịch vụ ngân hàng càng phát triển,
thể hiện xã hội càng văn minh, nền công nghiệp càng phát triển. Lợi nhuận
các ngân hàng không chỉ ở nghiệp vụ cho vay, mà phân nửa từ các hoạt động
dịch vụ mang lại, nhưng lại là lĩnh vực ít rủi ro.
Ba lĩnh vực hoạt động huy động vốn, hoạt động tín dụng, thực hiện các
hoạt động trung gian là các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại. Ba
hoạt động đó có quan hệ mật thiết, tác động hỗ trợ thúc đẩy nhau phát triển,
tạo uy tín cho ngân hàng. Có huy động vốn thì mới có nghiệp vụ cho vay, cho
vay có hiệu quả phát triển kinh tế thì mới có nguồn vốn để huy động vào,
đồng thời muốn cho vay và huy động vốn tốt thì ngân hàng phải làm tốt vai
trò trung gian, chính sự kết hợp đồng bộ đó tạo thành quy luật trong hoạt động
của ngân hàng và tạo thành xu hướng kinh doanh tổng hợp đa năng của các
Ngân hàng thương mại.
1.1.1.2 Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại
Tín dụng là thuật ngữ chỉ giao dịch tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa
bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay, trong
đó, bên cho vay chuyển giao tài sản của mình cho bên đi vay sử dụng trong
- Căn cứ vào biện pháp bảo đảm, có thể phân chia thành
Tín dụng có bảo đảm đầy đủ bằng tài sản: là các khoản tín dụng mà
theo đó nghĩa vụ trả nợ khách hàng được bảo đảm bằng tài sản cầm cố, thế
chấp của khách hàng vay hoặc bên thứ ba hoặc bảo lãnh của bên thứ ba. Loại
hình tín dụng này giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng, trong trường hợp khách
hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ, ngân hàng có toàn quyền xử lý tài
sản để thu hồi nợ.
Tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản: là các khoản tín dụng mà theo
đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng không được bảo đảm bằng tài sản cầm cố
thế chấp hoặc bảo lãnh của bên thứ ba. Ngân hàng cấp tín dụng hoàn toàn dựa
trên đánh giá năng lực và uy tín của khách hàng. Loại hình tín dụng này khá
rủi ro với ngân hàng, do đó chỉ thực hiện đối với những khách hàng mà ngân
hàng đánh giá có uy tín, có đầy đủ năng lực.
* Qui trình tín dụng
Quy trình tín dụng là bảng tổng hợp mô tả công việc của ngân hàng từ
khi tiếp nhận hồ sơ vay vốn của một khách hàng cho đến khi quyết định cho
vay, giải ngân, thu nợ và thanh lý hợp đồng tín dụng...
Một quy trình tín dụng căn bản gồm các
bước: Bước 1: Lập hồ sơ vay vốn
Bước này do cán bộ tín dụng thực hiện ngay sau khi tiếp xúc khách
hàng. Nhìn chung một bộ hồ sơ vay vốn cần phải thu thập các thông tin như:
năng lực pháp lý, năng lực hành vi dân sự của khách hàng; khả năng sử dụng
vốn vay; khả năng hoàn trả nợ vay (vốn vay + lãi)
Bước 2: Phân tích tín dụng
Phân tích tín dụng là xác định khả năng hiện tại và tương lại của khách
hàng trong việc sử dụng vốn vay + hoàn trả nợ vay. Mục tiêu là:
Tìm kiếm những tình huống có thể xảy ra dẫn đến rủi ro cho ngân
hàng, dự đoán khả năng khắc phục những rủi ro đó, dự kiến những biện pháp
1.1.2.1. Khái niệm rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại
Có nhiều quan niệm về rủi ro tín dụng (RRTD) có thể đưa ra là :
- Theo quan điểm của A.Saunders và H. Lange định nghĩa : “Rủi ro tín
dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng,
nghĩa là khả năng luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản vay của ngân
hàng không thể thực hiện đầy đủ cả về số lượng và thời gian”.
Quan điểm của TimmothyW.Koch : “Rủi ro tín dụng là sự thay đổi
tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc vốn vay
không được thanh toán hay thanh toán trễ hạn”.
Theo đinh nghĩa của Uỷ ban Basel thuộc ngân hàng thanh toán quốc tế:
“Rủi ro tín dụng là khả năng là khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực
hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã thoả thuận”.
Theo quyết định 493/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN Việt Nam tại
khoản
1, điều 2: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động của các tổ chức tín dụng là khả
năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng do
khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của
mình theo cam kết”.
Như vậy có thể thấy rằng có nhiều quan niệm về rủi ro tín dụng
(RRTD), song về bản chất RRTD là : Khả năng (xác suất) xảy ra những
thiệt hại về kinh tế mà NHTM phải gánh chịu do khách hàng vay vốn
thanh toán nợ không đúng hạn hoặc không hoàn trả được nợ vay (gồm gốc
và /hoặc lãi)
1.1.2.3. Hậu quả khi xảy ra rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương
mại
Khi rủ i ro tiń
dun
đã mất đi uy tín.
Cơ hội tiếp
cận vốn
ngân hàng
của các chủ
thể đi vay
khác cũng
bị hạn
c
g buộc các NHTM
h
hoặc thắt cho vay
ế
hay thậm chí
h
ơ
n
k
h
i
r
u
̉
i
r
o
t
i
Ở mức độ cao hơn, khi có một ngân hàng lâm vào tình trạng khó khăn
dẫn đến phá sản, thì hiệu ứng dây chuyền rất dễ xảy ra trong toàn bộ hệ thống
ngân hàng, gây nên khủng hoảng đối với toàn bộ nền kinh tế, ảnh hưởng tiêu
cực đến đời sống xã hội và sự phát triển của đất nước.
1.2. QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1. Khái niệm và sự cần thiết quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương
mại
Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình xây dựng và thực thi các chiến
lược, các chính sách quản trị và kinh doanh tín dụng nhằm đạt được các mục
tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững, tăng cường các biện pháp phòng
ngừa, hạn chế nợ quá hạn, nợ xấu trong kinh doanh tín dụng, từ đó tăng doanh
thu, giảm chi phí, nâng cao chất lượng và hiệu quả cho vay cả ngắn, trung và
dài hạn của NHTM.
Theo Uỷ ban Basel thì: “Hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng là một bộ
phận quan trọng trong cách tiếp cận rủi ro tổng thể và được coi là đóng vai
trò cốt tử cho sự thành công của Ngân hàng trong dài hạn”.(Basel
Committee on Banking Supervision, 2000).
Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng có thể được đề cập ở nhiều góc độ
khác nhau, nhưng bản chất là giống nhau, và đứng trên góc độ quản trị học,
chúng ta có thể hiểu: quản trị rủi ro tín dụng là quá trình các ngân hàng tiến
hành hoạch định, tổ chức triển khai thực hiện và giám sát kiểm tra toàn bộ
hoạt động cấp tín dụng, nhằm tối đa hóa lợi nhuận của ngân hàng với mức
rủi ro có thể chấp nhận được.
Như vậy, quản trị rủi ro tín dụng gắn liền với quản trị và kinh doanh tín
dụng. Quản trị rủi ro tín dụng phải hướng vào việc đảm bảo hiệu quả của hoạt
động tín dụng ngay cả khi thị trường đầy biến động, nguy cơ rủi ro không
ngừng gia tăng. Nói cụ thể hơn quản trị rủi ro tín dụng phải nhằm vào hạ thấp
rủi ro tín dụng, nâng cao mức độ an toàn trong kinh doanh của mỗi ngân hàng
việc rủi ro tín dụng ngày một tăng cao.
Do đó, để phát triển một cách bền vững các ngân hàng phải đồng thời
tăng cường công tác quản trị rủi ro tín dụng tương ứng. Quản trị rủi ro tốt nhất
chính là lợi thế cạnh tranh của các ngân hàng và là công cụ để tạo ra giá trị
của ngân hàng.
1.2.2. Nội dung quản trị rủi ro tín dụng
Quản trị rủi ro tín dụng là điều mà tất cả những nhà quản lý ngân hàng
đều rất quan tâm, vì nếu quản trị được thì việc hạn chế và phòng ngừa rủi ro
trở nên dễ dàng hơn.
Quản trị rủi ro tín dụng bao gồm nhiều cấu phần như chính sách tín
dụng, quy trình tín dụng, các công cụ đo lường RRTD, chấm điểm khách
hàng vv... Một cách tổng quát theo thông lệ, quản trị RRTD được phân chia
thành 4 nội dung lớn: nhận dạng RRTD, đo lường RRTD, kiểm soát, ngăn
ngừa RRTD và xử lý tổn thất. Mặc dù có sự phân đoạn trong qui trình quản lý
RRTD song một nguyên tắc có tính xuyên suốt là các khâu được phân ra
trong qui trình phải luôn so sự liên hệ gắn bó với nhau, tạo thành một chu
trình liên tục có vậy mới bảo đảm kiểm soát được rủi ro theo mục tiêu đã
định. RRTD một khi đã xác định thì cần phải được phân tích, đo lường và đưa
ra các biện pháp quản lý theo dõi. Cũng trong quá trình quản lý theo dõi, hệ
thống quản trị RRTD phải có khả năng xác định tìm ra các nguy cơ mới và
công việc quản trị rủi ro được lặp lại.
Quản trị RRTD hiệu quả không có nghĩa là rủi ro không xảy ra mà là
rủi ro có thể xảy ra nhưng xảy ra trong mức độ đoán trước được và Ngân hàng
đã chuẩn bị đủ nguồn lực để bù đắp các rủi ro có thể xảy ra đó.
1.2.2.1 Nhận dạng rủi ro tín dụng
Nhận biết RRTD là việc phát hiện, xác định được các nguy cơ rủi ro
tồn tại trong hoạt động tín dụng. Sự phát triển của công nghệ, thị trường và xu
hướng toàn cầu hóa làm cho số lượng rủi ro ngày càng gia tăng và khả năng
gia phân tích tín dụng phải nhận biết được những xu hướng tiến triển gần đây
của khách hàng cũng như của ngành mà khách hàng hoạt động, thấy được
mức độ tác động của những thay đổi trong nền kinh tế đối với khoản cho vay.
Sự kiểm soát (Control): nhân tố cuối cùng trong việc đánh giá độ tin
cậy của một khách hàng là sự kiểm soát, nó tập trung vào các câu hỏi như:
liệu những thay đổi khi chính sách đưa ra qui định mới có ảnh hưởng bất lợi
đến người vay không và liệu khách hàng có đáp ứng được tiêu chuẩn chất
lượng tín dụng do các cơ quan quản lý ngân hàng đặt ra?
1.2.2.2. Đo lường rủi ro tín dụng
Đo lường RRTD là bước tiếp theo sau khi phát hiện được nguy cơ rủi
ro. Trên thực tế các bước này khá gần gũi với nhau và thường được gộp
chung lại trong quá trình thực hiện tác nghiệp. Mục đích của các bước này là
giúp cho toàn bộ bộ máy quản trị rủi ro hiểu chính xác và nhất quán nguy cơ
rủi ro đã xác định, phân tích rõ nguyên nhân và quan trọng nhất là lượng hóa
mức độ rủi ro có thể xảy ra đối với ngân hàng để định giá rủi ro có thể chấp
nhận được; trích lập dự phòng rủi ro.
Để duy trì một quá trình quản lý, đo lường và theo dõi tín dụng phù
hợp, theo thông lệ tốt nhất do ủy ban Basel (2000) đề xuất, ngân hàng phải
tuân thủ các nguyên tắc sau:
Nguyên tắc 1: ngân hàng cần có hệ thống quản lý liên tục các danh mục
đầu tư có RRTD.
Nguyên tắc 2: ngân hàng cần có hệ thống theo dõi điều kiện của từng
khoản tín dụng, bao gồm xác định mức độ đủ dự phòng và dự trữ.
Nguyên tắc 3: khuyến khích các ngân hàng phát triển và sử dụng hệ
thống xếp hạng tín dụng nội bộ trong quản lý RRTD. Hệ thống xếp hạng cần
thống nhất với bản chất, quy mô và mức độ phức tạp của các hoạt động của
ngân hàng.
Nguyên tắc 4: ngân hàng cần có hệ thống thông tin và các kỹ thuật
Để đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng và dự phòng đầy đủ cho
các RRTD, thị trường, tác nghiệp, hiệp ước Basel II quy đinh: vốn tự có của
ngân hàng tối thiểu phải đạt 8% tổng tài sản có rủi ro (được xác định bằng
cách nhân số vốn cần thiết cho rủi ro thị trường và tác nghiệp với 12.5, sau đó
cộng với tổng tài sản có RRTD). Trong đó, tổng tài sản có RRTD được tính
toán theo phương pháp tiêu chuẩn hóa hoặc phương pháp tiếp cận dựa trên
xếp hạng nội bộ.
1.2.3. Mô hình quản trị rủi ro tín dụng
Mô hình quản trị rủi ro tín dụng chính là hệ thống các mô hình bao gồm
mô hình tổ chức quản trị rủi ro, mô hình đo lường rủi ro và mô hình kiểm soát
rủi ro được xây dựng và vận hành một cách đầy đủ, toàn diện và liên tục trong
hoạt động quản lý tín dụng của ngân hàng. Mô hình quản trị rủi ro tín dụng
phản ánh một cách hệ thống các vấn đề về cơ chế, chính sách, quy trình
nghiệp vụ nhằm thiết lập các giới hạn hoạt động an toàn và các chốt kiểm soát
rủi ro trong một quy trình thực hiện nghiệp vụ; các công cụ đo lường, phát
hiện rủi ro; các hoạt động giám sát sự tuân thủ và nhận diện kịp thời các loại
rủi ro mới phát sinh và các phương án, biện pháp chủ động phòng ngừa, đối
phó một khi có rủi ro xảy ra.
Những mô hình quản trị RRTD đang được áp dụng hiện nay như sau:
a. Mô hình quản trị rủi ro tín dụng tập trung
Mô hình quản trị RRTD tập trung được hiểu là công tác thẩm định
khách hàng, quản lý rủi ro của ngân hàng được tập trung tại hội sở chính theo
vùng miền. Mô hình này tách biệt độc lập giữa 3 chức năng: chức năng kinh
doanh, chức năng quản lý, chức năng quản lý rủi ro và chức năng tác nghiệp.
Ưu điểm:
Quản trị rủi ro một cách hệ thống trên quy mô toàn ngân hàng, đảm bảo
tính cạnh tranh lâu dài.
Thiết lập duy trì môi trường quản trị rủi ro đồng bộ, phù hợp với quy
Có nhiều chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động quản trị RRTD của các
NHTM, thông thường người ta sử dụng các chỉ tiêu sau:
Tỷ lệ nợ quá hạn:
Dư nợ cho vay quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn =
x 100%
Tổng dư nợ cho vay
Tỷ lệ nợ quá hạn là chỉ tiêu phản ánh trực tiếp nhất kết quả hoạt động
quản trị RRTD của ngân hàng. Tỷ lệ nợ quá hạn càng thấp và/hoặc tỷ lệ nợ
quá hạn có xu hướng giảm qua các năm càng phản ánh chất lượng tín dụng
của ngân hàng thương mại đó tốt hay hoạt động quản trị RRTD đạt hiệu quả
cao.
Không một ngân hàng nào không có nợ quá hạn, nhưng ngân hàng phải
thực hiện quản trị rủi ro để duy trì tỷ lệ nợ quá hạn ở một mức độ hợp lý chấp
nhận được theo thông lệ. Để làm được điều đó, các ngân hàng cần có sự nhìn
nhận đúng đắn về nợ quá hạn, cần minh bạch hóa số liệu nợ quá hạn, không
che giấu nợ quá hạn và nguyên nhân phát sinh nợ quá hạn;cần có sự liên kết
thông tin giữa các tổ chức tín dụng để có biện pháp giải quyết đúng đắn.
Tỷ lệ nợ xấu:
Dư nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu =
x 100%
Tổng dư nợ
Nợ xấu là chỉ tiêu quan trọng đánh giá mức độ an toàn tín dụng của các
NHTM. Nợ xấu có phạm vi rộng hơn nợ quá hạn. Nợ xấu có thể đang là nợ
trong hạn nhưng ngân hàng đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh của
thiểu sự tập trung ở những yếu tố rủi ro hoặc có tỷ trọng cho vay có bảo đảm
cao trong cơ cấu tín dụng,... sẽ phản ánh định hướng cấp tín dụng thận trọng
và hoạt động quản trị RRTD bước đầu có hiệu quả.
Tính tuân thủ trong việc thực hiện chính sách, chế độ về cấp tín dụng
Là việc chấp hành các quy định về đảm bảo an toàn trong hoạt động tín
dụng ngân hàng thông qua các chỉ tiêu như hệ số an toàn vốn tối thiểu 9%
(theo Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010), giới hạn cho vay đối
với một khách hàng, một nhóm khách hàng... do NHNN quy định (theo Quyết
định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005), quy định về giao dịch bảo
đảm tiền vay (theo Nghị định 163/2006/NĐ-CP). Ngân hàng thương mại thực
hiện tốt hoạt động quản trị RRTD trước hết phải là một ngân hàng tuân thủ,
đáp ứng các quy định về quản trị RRTD của Chính phủ, NHNN.
Vốn tự có
Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) =
Tổng tài sản "Có" rủi ro quy đổi
Tổng tài sản có rủi ro quy đổi bao gồm cả tài sản có nội bảng và tài sản
có ngoại bảng, chỉ tiêu này thể hiện mức độ mạo hiểm của ngân hàng không
chỉ trong kinh doanh không chỉ ở các khoản vay của ngân hàng mà còn ở các
tài sản có khác như đầu tư tài chính, các tài sản có khác... Tuy nhiên, trong
hoạt động của các ngân hàng thì tỷ trọng các khoản cho vay chiếm khá lớn,
hơn 50% hệ số an toàn vốn tối thiểu phản ánh một đồng vốn tự có bảo vệ
được bao nhiêu đồng tài sản có rủi ro của NHTM, nên có thể nói rằng hệ số
này càng cao thì càng thể hiện chất lượng tín dụng tốt hơn. Hệ số này quản lý
tài sản có của ngân hàng, theo quy định của NHNN hiện nay thì tỷ lệ này
không được thấp hơn 9%. Trong hoạt động kinh doanh tiền tệ thì lợi nhuận
luôn tỷ lệ thuận với rủi ro. Các NHTM vì tối đa hóa lợi nhuận có thể chấp
nhận mức độ rủi ro cao nhưng khi đó thì giá trị tài sản có rủi ro quy đổi của
họ sẽ cao làm tăng nguy cơ RRTD và hoạt động kinh doanh của các ngân
khu vực nông thôn về đô thị phải lưu ý khi hoạch định quản trị tín dụng.
Đạo đức nghề nghiệp ảnh hưởng đến quản trị tín dụng của NHTM. Thực tế
cho thấy rằng, phần lớn các sai phạm nổi cộm trong hoạt động ngân hàng những
năm qua là do đạo đức nghề nghiệp, những người được giao nhiệm vụ đã đặt
lợi ích cá nhân lên trên lợi ích của ngân hàng.
1.3.1.3 Chất lượng thông tin tín dụng
Hệ thống thông tin tín dụng có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả quản lý
rủi ro tín dụng của ngân hàng. Thông tin phân tích, dự báo xu thế phát triển và
tiềm năng của ngành hàng, chỉ số trung bình ngành, thông tin về thị trường,
lịch sử quan hệ tín dụng của khách hàng tại các tổ chức tín dụng, xếp hạng tín