Phân tích và đề xuất một số giải pháp củng cố tình hình tài chính tại công ty TNHH in và giấy hạ long - Pdf 37

MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục Bảng biểu, hình vẽ
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
PHẦN MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

1
4
5
7
8
9
12

VÀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1. Khái niệm tài chính doanh nghiệp và phân tích tài chính doanh

12

nghiệp
1.1.1. Khái niệm tài chính doanh nghiệp
1.1.2. Nhiệm vụ, vai trò, chức năng của tài chính doanh nghiệp

12
14


29
35
35

nghiệp
1.2.3.2. Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.4. Nội dung phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
1.2.4.1. Quy trình phân tích và đề xuất các biện pháp cải thiện tình

38
47
47

hình tài chính
1.2.4.2. Đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp
1.2.4.3. Phân tích hiệu quả tài chính
1.2.4.4. Phân tích rủi ro tài chính
1.2.4.5. Phân tích tổng hợp tình hình tài chính
Kết luận chương 1

50
51
53
55
57

1


CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG

2.2.4.2. Phân tích các đòn bẩy tài chính
2.3 Đánh giá, nhận xét về tình hình tài chính công ty TNHH In và

65
65
67
69
71
73
73
75
83
87
87
88
90
92
104

Giấy Hạ Long
Kết luận chương 2
CHƯƠNG 3:ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP CẢI THIỆN TÌNH

106
107

HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY TNHH IN VÀ GIẤY HẠ LONG
3.1 Phương hướng hoạt động SXKD
3.1.1 Mục tiêu hoạt động
3.1.2 Phương hướng phát triển

BCTC
KNTT
Vốn CSH (VCSH)
KQHĐKD
CĐKT
DTT
TSCĐ
TSLĐ
LCTT
TSDH
TSNH
TTS
NNH
LNTT
LNST
HTK
TNHH

Giải thích
Sản xuất kinh doanh
Báo cáo tài chính
Khả năng thanh toán
Vốn chủ sở hữu
Kết quả hoạt động kinh doanh
Cân đối kế toán
Doanh thu thuần
Tài sản cố định
Tài sản lưu động
Lưu chuyển tiền tệ
Tài sản dài hạn

Bảng 2.15: Phân tích khả năng sinh lời trên doanh thu
Bảng 2.16: Phân tích khả năng sinh lời cơ sở
Bảng 2.17: Phân tích khả năng sinh lời của một số đối tượng năm 2014
Bảng 2.18: Phân tích khả năng sinh lời trên tài sản
Bảng 2.19: Phân tích khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu
Bảng 2.20: Phân tích vòng quay HTK
Bảng 2.21: Phân tích kỳ thu nợ bán chịu
Bảng 2.22: Phân tích vòng quay tài sản ngắn hạn
Bảng 2.23: Phân tích vòng quay tài sản cố định
Bảng 2.24: Phân tích vòng quay tổng tài sản
Bảng 2.25: Phân tích hệ số thanh toán hiện hành
Bảng 2.26: Phân tích hệ số thanh toán nhanh
Bảng 2.27: Phân tích hệ số thanh toán tức thời
Bảng 2.28: Phân tích chỉ số nợ
Bảng 2.29: Phân tích khả năng thanh toán lãi vay
Bảng 2.30: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng của ROA
Bảng 2.31: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng của ROE
Bảng 2.32: Điểm hòa vốn và đòn bẩy kinh doanh DOL
Bảng 2.33: Đòn bẩy tài chính DFL
Bảng 2.34: Đòn bẩy tổng DTL
Bảng 3.1: Cơ cấu nguồn vốn
4


Bảng 3.2: Cơ cấu nợ phải trả
Bảng 3.3: Cơ cấu vốn lưu động năm 2013 và năm 2014
Bảng 3.4: Dự kiến kết quả đạt được
Bảng 3.5: So sánh số liệu
Bảng 3.6: So sánh giá trị HTK sau khi thực hiện các giải pháp
Bảng 3.7: Phân loại các khoản phải thu

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi được thực
hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Ái Đoàn, Trường Đại học
Bách Khoa Hà Nội.
Số liệu được nêu trong luận văn là trung thực và có trích nguồn. Kết quả
nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nghiên cứu nào khác.
Tác giả luận văn

Phạm Thu Trang

7


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nền kinh tế thế giới đang trên đà hội nhập và phát triển mạnh mẽ, cùng với đó
là sự phát triển ngày càng phong phú, đa dạng các loại hình SXKD. Đây vừa là cơ
hội, vừa là thách thức không nhỏ đối với bất kì doanh nghiệp nào ở cả trong và
ngoài nước. Trong hoàn cảnh đó, việc phân tích tài chính doanh nghiệp trở nên quan
trọng và cần thiết không chỉ đối với các nhà quản lý doanh nghiệp mà còn thu hút
sự quan tâm của rất nhiều đối tượng khác. Việc thường xuyên tiến hành phân tích
tình hình tài chính sẽ giúp nhà quản trị thấy rõ được thực trạng hoạt động, kết quả
SXKD của doanh nghiệp mình, xác định được những thuận lợi và khó khăn để từ đó
đánh giá được mức độ ảnh hưởng của các nhân tố, nắm bắt thông tin nhằm đánh giá
tiềm năng của doanh nghiệp cũng như những rủi ro và triển vọng trong tương lai,
giúp nhà lãnh đạo đưa ra những quyết định chính xác, những giải pháp hữu hiệu và
kịp thời nhằm nâng cao chất lượng quản lý và hiệu quả SXKD của doanh nghiệp.
Công ty TNHH In và giấy Hạ Long với quy mô nhỏ hoạt động chủ yếu trên
lĩnh vực sản xuất và kinh doanh giấy cũng đang từng bước cải tiến và đổi mới cơ

4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng kết hợp lý luận và phương pháp phổ biến trong nghiên cứu
khoa học: Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, kết hợp lịch sử với
logic, kết hợp các phương pháp thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp, từ đó kết
hợp với tổng kết rút kinh nghiệm thực tiễn ở cơ sở để nghiên cứu, giải quyết vấn đề
đặt ra của đề tài.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn sử dụng lý luận về tài chính cũng như phân tích tài chính cho doanh
nghiệp, nghiên cứu các đặc điểm mang tính đặc thù trong ngành kinh doanh. Trên
cơ sở đó, luận văn đã phân tích và đánh giá thực trạng, nêu ra được những ưu,
nhược điểm, nguyên nhân của nó, những giải pháp để cải thiện tình hình tài chính
trong giai đoạn hiện nay cũng như trong tương lai của doanh nghiệp.
6. Kết cấu của luận văn
Nội dung của luận văn gồm 3 phần cơ bản sau đây:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về phân tích tài chính trong doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng tình hình tài chính tại Công ty TNHH In và Giấy Hạ Long

9


Chương 3: Một số giải pháp củng cố tình hình tài chính tại Công ty TNHH In
và Giấy Hạ LongCHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÀI CHÍNH VÀ
PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1. Một số khái niệm cơ bản về tài chính và phân tích tài chính doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm tài chính doanh nghiệp
Khi tiến hành SXKD, các doanh nghiệp phải có một lượng vốn tiền tệ nhất
định, đó là yếu tố quan trọng và cũng là tiền đề trong mọi hoạt động của doanh
nghiệp. Trong quá trình này đã phát sinh ra các luồng tiền tệ gắn liền với hoạt động
đầu tư và các hoạt động SXKD của doanh nghiệp, các luồng tiền này tạo nên sự vận
động các luồng tài chính của doanh nghiệp.

Những quan hệ trên một mặt phản ánh doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế
độc lập, chiếm địa vị là một chủ thể trong quan hệ kinh tế, đồng thời phản ánh rõ
nét mối liên hệ tài chính trong doanh nghiệp với các tổ chức.
Tổng quát hơn, tài chính doanh nghiệp là các mối quan hệ về mặt giá trị
được biểu hiện bằng tiền trong lòng một doanh nghiệp và giữa nó với các chủ thể có
liên quan ở bên ngoài mà trên cơ sở đó giá trị của doanh nghiệp được tạo lập.
Giá trị của doanh nghiệp là sự hữu ích của doanh nghiệp đối với chủ sở hữu
và xã hội.
Các hoạt động của doanh nghiệp để làm tăng giá trị của nó bao gồm:
-

Tìm kiếm, lựa chọn cơ hội kinh doanh và tổ chức huy động vốn.

-

Quản lý chi phí trong quá trình SXKD, hạch toán chi phí và lợi nhuận.

-

Tổ chức phân phối lợi nhuận cho các chủ thể liên quan và tái đầu tư.
1.1.2. Nhiệm vụ, vai trò, chức năng của tài chính doanh nghiệp
1.1.2.1. Nhiệm vụ của tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp giúp nắm vững tình hình kiểm soát vốn SXKD hiện
có về mặt vật chất và giá trị, nắm vững sự biến động vốn của từng khâu, từng thời
gian của quá trình sản xuất để có biện pháp quản lý và điều chỉnh hiệu quả.
Tài chính doanh nghiệp giúp tổ chức khai thác và huy động kịp thời các
nguồn vốn nhàn rỗi để phục vụ cho quá trình SXKD, không cho vốn tồn động và sử
dụng vốn có hiệu quả. Để thực hiện được điều này, tài chính doanh nghiệp phải
thường xuyên giám sát và tổ chức sử dụng các nguồn vốn vay và tự có của doanh
11

của tài chính doanh nghiệp phù hợp với qui luật sẽ làm cho tài chính DN trở thành
đòn bẩy kinh tế có tác dụng trong việc tạo ra những động lực kinh tế tác động tới
tăng năng suất, kích thích tăng cường tích tụ và thu hút vốn, thúc đẩy tăng vòng
quay vốn, kích thích tiêu dùng xã hội.


Vai trò là công cụ kiểm tra các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp:
Tài chính doanh nghiệp thực hiện việc kiểm tra bằng đồng tiền và tiến hành

thường xuyên, liên tục thông qua phân tích các chỉ tiêu tài chính. Cụ thể các chỉ tiêu
12


đó là: chỉ tiêu về kết cấu tài chính, chỉ tiêu về khả năng thanh toán, chỉ tiêu đặc
trưng về hoạt động, sử dụng các nguồn lực tài chính; chỉ tiêu đặc trưng về khả năng
sinh lời…Bằng việc phân tích các chỉ tiêu tài chính cho phép doanh nghiệp có căn
cứ quan trọng để đề ra kịp thời các giải pháp tối ưu làm lành mạnh hoá tình hình tài
chính – kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.2.3. Chức năng của tài chính doanh nghiệp


Chức năng huy động và phân phối nguồn vốn.
Một doanh nghiệp có thể hoạt động SXKD được thì cần phải có vốn và

quyền sử dụng nguồn vốn bằng tiền của mình một cách chủ động. Tuy nhiên cũng
cần phải làm rõ một vấn đề là: Các nguồn vốn được lấy ở đâu ? Làm thế nào để có
thể huy động được vốn ?
Trước đây trong cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung ngân sách nhà nước
cấp toàn bộ vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho việc thiết lập các xí nghiệp quốc
doanh. Hiện nay khi chuyển sang nền kinh tế thị trường với sự hoạt động của các

phân phối kết quả hoạt động SXKD của mình.
Ở nước ta, do tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần, hình thức sở hữu khác
nhau, cho nên quy mô và phương thức phân phối ở các loại hình doanh nghiệp cũng
khác nhau. Sau mỗi kỳ kinh doanh, số tiền mà doanh nghiệp thu được bao gồm cả
giá vốn và chi phí phát sinh. Do vậy các doanh nghiệp có thể phân phối theo dạng
chung như sau:
Bù đắp chi phí phân bổ cho hàng hoá đã tiêu thụ bao gồm:
+ Trị giá vốn hàng hoá.
+ Chi phí lưu thông và các chi phí khác mà doanh nghiệp đã đã bỏ ra như lãi vay
ngân hàng, chi phí giao dịch, lợi tức trái phiếu.
+ Khấu hao máy móc.
- Phần còn lại sau khi bù đắp các chi phí được gọi là lợi nhuận của doanh nghiệp.
Phần lợi nhuận này, một phần phải nộp cho ngân sách nhà nước dưới hình thức
thuế, phần còn lại tuỳ thuộc vào quy định của từng doanh nghiệp mà tiến hành chia
lãi liên doanh, trả lợi tức cổ phần, trích lập các quỹ doanh nghiệp.


Chức năng giám đốc
Đó là khả năng khách quan để sử dụng tài chính làm công cụ kiểm tra, giám

đốc bằng đồng tiền với việc sử dụng chức năng thước đo giá trịvà phương tiện
thanh toán của tiền tệ. Khả năng này biểu hiện ở chỗ, trong quá trình thực hiện chức
năng phân phối, sự kiểm tra có thể diễn ra dưới dạng: xem xét tính cần thiết, quy
14


mô của việc phân phối các nguồn tài chính, hiệu quả của việc phân phối qua các
quỹ tiền tệ.
Giám đốc tài chính mang tính chất tổng hợp toàn diện, tự thân và diễn ra
thường xuyên vì giám đốc tài chính là quá trình kiểm tra, kiểm soát các hoạt động


quản lý và sử dụng toàn bộ tài sản, tiền vốn của doanh nghiệp và là người chịu trách
nhiệm quyết định mọi vấn đề tài chính trong doanh nghiệp.
Phân tích tài chính doanh nghiệp đòi hỏi phải có đội ngũ chuyên viên đủ lớn,
lực lượng cán bộ phân tích tài chính cần phải thường xuyên được nâng cao, đảm
bảo cả về mặt số lượng và chất lượng.


Yếu tố về công nghệ sản xuất
Việc nghiên cứu chính sách đầu tư của doanh nghiệp vào công cụ sản xuất

cũng là điều rất cần thiết trong việc phân tích chiến lược, nhằm mục đích nghiên
cứu và phát triển những chi tiết cho việc đầu tư và máy móc thiết bị, và các tài sản
hữu hình là hoàn toàn cần thiết. Ví dụ như khi doanh nghiệp đầu tư vào máy móc
thiết bị, doanh nghiệp phải khấu hao từng phần trong nhiều năm, không cho phép
khấu trừ toàn bộ chi phí ngay từ đầu năm. Vậy, khi doanh nghiệp nhận thấy có sự
giảm sút về các khoản khấu hao, cũng có nghĩa là tăng về kết quả kinh doanh, thì
cần phải biết nguyên nhân vì sao, có phải do máy móc thiết bị đã lỗi thời, hoặc do
doanh nghiệp không có dự án khả thi, dẫn đến nguy cơ suy giảm về sản xuất, giảm
sút về năng lực cạnh tranh. Do vậy, yếu tố công nghệ là một trong những yếu tố có
ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả sản xuất cũng như tình hình tài chính của doanh
nghiệp.


Yếu tố về chiến lược kinh doanh

Chiến lược kinh doanh được nói đến ở đây là cách phân chia những giới khách hàng
khác nhau trong tổng doanh thu của nó. Trên thực tế, một doanh nghiệp phải luôn
phụ thuộc vào khách hàng và nhà cung cấp. Nếu một khách hàng quen và luôn mua
với số lượng nhiều nhưng chuyển sang mua của nhà cung cấp khác thì tình trạng gì

• Yếu tố lãi suất
Lãi suất là biến số kinh tế nhạy cảm, sự thay đổi của lãi suất sẽ tác động làm thay
đổi hành vi sản xuất và tiêu dung của xã hội, về phương diện lý thuyết cũng như
thực tiễn các nước đã chứng minh, sự thay đổi lãi suất sẽ tác động đến sản lượng và
giá cả, người ta thường phải đánh giá giá trị của các chi phí và các khoản thu lợi đó
qua các đơn vị tiền tệ và chúng được gọi là chi phí và thu nhập. Các khoản chi phí
và thu nhập đó lại xảy ra ở các mốc thời gian khác nhau, do đó phải xét đến vấn đề
thời giá của tiền tệ hay giá trị theo thời gian của đồng tiền, giá trị theo thời gian của
17


tiền được biểu hiện qua tiền lãi, tiền lãi là giá cả mà người đi vay phải trả để sử
dụng vốn vay trong khoảng thời gian nhất định hoặc là tiền thuê vốn để sử dụng.
• Yếu tố tỷ giá
Tỷ giá hối đoái cũng ảnh hưởng nhiều đến hoạt động của doanh nghiệp. Chênh lệch
hối đoái là khoản chênh lệch dương hoặc âm giữa giá trị nợ phải thu và nợ phải trả
bằng đồng ngoại tệ đổi sang đồng nội tệ. Chênh lệch này có thể làm lợi nhưng
ngược lại cũng có thể là khoản lỗ cho doanh nghiệp.
• Yếu tố tình hình phát triển kinh tế - xã hội
Bao quanh doanh nghiệp là một môi trường kinh tế - xã hội phức tạp và luôn biến
động, đó chính là thách thức đối với doanh nghiệp trong việc cạnh tranh.
1.2. Phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1. Một số khái niệm cơ bản về phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1.1. Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính doanh nghiệp là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so
sánh số liệu về tài chính hiện hành với quá khứ. Thông qua việc phân tích báo cáo
tài chính, người sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh
cũng như những rủi rao trong tương lai.
1.2.1.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
Mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp là nhận dạng những điểm

Là người trực tiếp quản lý, điều hành doanh nghiệp, nhà quản lý hiểu rõ nhất

tài chính doanh nghiệp. Do đó, họ có nhiều thông tin phục vụ cho việc phân tích.
Phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp đối với nhà quản lý nhằm đáp
ứng những mục tiêu sau:
- Tạo ra những chu kỳ đều đặn để đánh giá hoạt động quản lý trong giai đoạn đã
qua, việc thực hiện cân bằng tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán và
rủi ro tài chính trong hoạt động của doanh nghiệp…;
- Đảm bảo cho các quyết định của Ban giám đốc phù hợp với tình hình thực tế
của doanh nghiệp, như quyết định về đầu tư, tài trợ, phân phối lợi nhuận…;
- Cung cấp thông tin cơ sở cho những dự đoán tài chính;
- Căn cứ để kiểm tra, kiểm soát hoạt động, quản lý trong doanh nghiệp.

19


Phân tích hoạt động tài chính làm rõ điều quan trọng của dự đoán tài chính, mà
dự đoán là nền tảng của hoạt động quản lý, làm sáng tỏ, không chỉ chính sách tài
chính mà còn làm rõ các chính sách chung trong doanh nghiệp.


Đối với các nhà đầu tư:
Các nhà đầu tư là người giao vốn của mình cho doanh nghiệp quản lý sử

dụng, được hưởng lợi và cũng chịu rủi ro. Đó là những cổ đông, các cá nhân hoặc
đơn vị, doanh nghiệp khác. Các đối tượng này quan tâm trực tiếp đến những tính
toán về giá trị của doanh nghiệp. Thu nhập của các nhà đầu tư là tiền lời được chia
và thặng dư giá trị của vốn. Hai yếu tố này phần lớn chịu ảnh hưởng của lợi nhuận
thu được của doanh nghiệp. Trong thực tế, các nhà đầu tư thường tiến hành đánh giá
khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Các nhà đầu tư phải dựa vào những nhà chuyên

21


1.2.1.4. Đối tượng của phân tích tài chính doanh nghiệp
Để tiến hành hoạt động SXKD, doanh nghiệp cần có các hoạt động trao đổi
điều kiện và kết quả sản xuất thông qua những công cụ tài chính và vật chất. Chính
vì vậy, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải tham gia vào các mối quan hệ tài chính
đa dạng và phức tạp. Các quan hệ tài chính đó có thể chia thành các nhóm chủ yếu
sau:
- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp và nhà nước: Quan hệ này biểu hiện
trong quá trình phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân giữa ngân
sách nhà nước với các doanh nghiệp thông qua hình thức:
+ Doanh nghiệp nộp các loại thuế vào ngân sách theo luật định.
+ Nhà nước cấp vốn kinh doanh cho các doanh nghiệp (DNNN) hoặc tham
gia với tư cách người góp vốn (các doanh nghiệp sở hữu hỗn hợp).
- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính và các tổ chức
tài chính. Thể hiện cụ thể trong việc huy động các nguồn vốn dài hạn và ngắn hạn
cho nhu cầu kinh doanh.
+ Trên thị trường tiền tệ: việc doanh nghiệp quan hệ với ngân hàng thông
qua việc vay các khoản ngắn hạn, trả lãi và gốc đến hạn.
+ Trên thị trường tài chính: doanh nghiệp huy động các nguồn vốn dài hạn
bằng cách phát hành các đợt chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu) cũng như việc trả
các khoản lãi, hoặc doanh nghiệp gửi các khoản vốn nhàn rỗi vào ngân hàng hay
mua chứng khoán của các doanh nghiệp khác.
- Quan hệ tài chính giữ doanh nghiệp với các thị trường khác huy động các
yếu tố đầu vào (thị trường hàng hóa, dịch vụ, lao động…) và các quan hệ để thực
hiện tiêu thụ sản phẩm với thị trường đầu ra (với các đại lý, các cơ quan xuất nhập
khẩu, thương mại…).
- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các thị trường khác huy động các
yếu tố đầu vào (thị trường hàng hóa, dịch vụ lao động…) và các quan hệ để thực

đốc đến các phòng ban.
- Công tác phân tích tài chính được thực hiện ở nhiều bộ phận riêng biệt theo
các chức năng của quản lý nhằm cung cấp thông tin và thỏa mãn thông tin cho các
bộ phận quản lý được phân quyền, cụ thể:
23


+ Đối với bộ phận được phân quyền kiểm soát và ra quyết định về chi phí, bộ
phận này sẽ tổ chức thực hiện thu thập thông tin và tiến hành phân tích tình hình
biến động chi phí, giữa thực hiện so với định mức nhằm phát hiện chênh lệch chi
phí cả về số lượng và giá cả để từ đó tìm ra nguyên nhân và đề xuất giải pháp.
+ Đối với bộ phận được phân quyền kiểm soát và ra quyết định về doanh thu
(thường gọi là trung tâm kinh doanh), là bộ phận kinh doanh riêng biệt theo địa
điểm hoặc một số sản phẩm nhóm hàng riêng biệt, do đó họ có quyền với bộ phận
cấp dưới là bộ phận chi phí. Ứng với bộ phận này thường là trưởng phòng kinh
doanh, hoặc giám đốc kinh doanh tùy doanh nghiệp. Bộ phận này sẽ tiến hành thu
thập thông tin, tiến hành phân tích báo cáo thu nhập, đánh giá mối quan hệ chi phí khối lượng - lợi nhuận làm cơ sở để đánh giá hoàn vốn trong kinh doanh và phân
tích báo cáo nội bộ.
1.2.2.2. Các loại hình phân tích tài chính
- Căn cứ theo thời điểm kinh doanh
Căn cứ theo thời điểm kinh doanh thì phân tích chia làm 3 hình thức:
+ Phân tích trước khi kinh doanh: còn gọi là phân tích tương lai, nhằm dự
báo, dự toán cho các mục tiêu trong tương lai.
+ Phân tích trong khi kinh doanh: còn gọi là phân tích hiện tại (hay tác
nghiệp) là quá trình diễn ra cùng quá trình kinh doanh. Hình thức này rất thích hợp
cho chức năng kiểm tra thường xuyên nhằm điều chỉnh, chấn chỉnh những sai lệch
lớn giữa kết quả thực hiện với mục tiêu đề ra.
+ Phân tích sau khi kinh doanh: là phân tích sau khi kết thúc quá trình kinh
doanh (hay phân tích quá khứ). Quá trình này nhằm định kỳ đánh giá kết quả giữa
thực hiện so với kế hoạch hoặc định mức đề ra. Từ kết quả phân tích cho ta nhận rõ

không, do những nhân tố nào tác động. Mức độ an toàn thể hiện ở ba hệ số: hệ số tài
trợ, hệ số quản lý nợ và hệ số thanh toán.


Hệ số tài trợ và hệ số quản lý nợ

Hai hệ số này cho biết doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ
ngắn hạn không và tài sản cố định có được tài trợ vững chắc bằng nợ dài hạn và
nguồn vốn chủ sở hữu hay không.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status