Chuyờn thc tp
GVHD: TS. inh Th Hựng
trờng đại học kinh tế quốc dân
TRUNG TÂM TIÊN TIếN CHấT LƯợNG Và POHE
CHUYấN THC TP
Chuyờn ngnh: Kim toỏn
ti:
KIM TON KHON MC N PHI THU KHCH HNG
TRONG QUY TRèNH KIM TON BO CO TI CHNH
DO CễNG TY TRCH NHIM HU HN KIM TON
DFK VIT NAM THC HIN
Sinh viờn thc hin: V HONG TRUNG
Hà nội - 2016
V Hong Trung _ 11124298
K54
1
Kim toỏn Cht lng cao
Chuyờn thc tp
GVHD: TS. inh Th Hựng
Chuyên đề thực tập
GVHD: TS. Đinh Thế Hùng
LỜI CẢM ƠN
Bài luận văn này sẽ khó có thể được hoàn thành dù em có bỏ ra bao nhiêu mồ
hôi và công sức nếu không có sự giúp đỡ của rất nhiều cá nhân và tập thể. Mặc dù
vậy, thật khó có thể cám ơn hết toàn bộ những người đã giúp em hoàn thành bài báo
cáo này nhưng thật sự có những người đặc biệt mà em không thể không nhắc đến.
Đầu tiên, em bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Trung tâm đào tạo tiên tiến, chất
lượng cao và POHE và các giảng viên của trường Đại học Kinh tế Quốc Dân đặc
biệt là các giảng viên viện kế toán-kiểm toán. Sự kiên nhẫn, hết lòng chỉ bảo của
các thầy cô đã giúp em hoàn thành bài báo cáo thực tập này.
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS.Đinh Thế Hùng – Trường
Đại học Kinh Tế Quốc Dân đã giúp đỡ và hỗ trợ em hoàn thành chuyên đề này
Nhân cơ hội này, em cũng xin cảm ơn Ban Giám đốc cũng như các KTV trong
công ty TNHH kiểm toán DFK Việt Nam, đặc biệt là những anh chị trong nhóm
kiểm toán của anh Trần Công Nhân vì những hỗ trợ cần thiết, những kinh nghiệm
quý giá và sự hỗ trợ nhiệt tình đã giúp em hoàn thành công việc này.
Mặc dù báo cáo này có thể không hoàn hảo nhưng em rất biết ơn sự giúp đỡ
của tất cả mọi người trong kỳ thực tập vừa qua.
Sinh viên
Vũ Hoàng Trung
Vũ Hoàng Trung _ 11124298
K54
3
Bất động sản
BGD
Ban Giám đốc
Công ty VLXD Hà Nội
VLXD Hà Nội
Công ty Cổ phần vật liệu xây dựng Hà Nôi
CMKTVN
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam
Dong Yang
Công ty Trách nhiệm hữu hạn Dong Yang ST
Dong Yang ST Vina
Vina
DN
Doanh nghiệp
DNKiT
Doanh nghiệp kiểm toán
Vũ Hoàng Trung _ 11124298
K54
5
Kiểm toán Chất lượng cao –
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
SƠ ĐỒ
Kính gửi: CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN DFK VIỆT NAM............................................114
Tên Công ty....................................................................................................115
LỜI MỞ ĐẦU
Khoản mục nợ phải thu khách hàng trên báo cáo tài chính luôn được sự quan
tâm nhất định từ các nhà đầu tư, các khách hàng, nhà cung cấp,…. Đây là khoản
mục thể hiện sức khỏe doanh nghiệp, là khoản tài sản mà doanh nghiệp có thể thu
được trong tương lai. Việc đánh giá chính xác giá trị các khoản phải thu rất quan
trọng, ảnh hưởng đến các chỉ tiêu tài chính quan trọng khác như tổng tài sản, lợi
nhuận trước thuế. Ngoài ra, nợ phải thu còn có quan hệ chặt chẽ với doanh thu, là
một trong những thành phần tạo nên chu trình bán hàng- thu tiền của doanh nghiệp.
Do vây, trong công tác kiểm toán của các công ty kiểm toán nói chung và
DFK Việt Nam nói riêng, việc thực hiện kiểm toán khoản mục nợ phải thu khách
hàng là một công việc luôn được chú trọng, có tầm ảnh hưởng lớn đến kết quả của
cuộc kiểm toán.
Nhận thức được vai trò của kiểm toán khoản mục nợ phải thu khách hàng, sau
một thời gian được làm việc và học hỏi kinh nghiệm tại công ty kiểm toán DFK
Các khoản ứng trước cho người bán
Các khoản phải thu nội bộ
Các khoản phải thu khác
Các khoản phải thu khách hàng chỉ là một phần trong các khoản phải thu trên
BCTC của doanh nghiệp.
Theo Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22 tháng 12 năm 2014 của Bộ Tài
chính về “Hướng dẫn chế độ kế toán trong doanh nghiệp” thì tài khoản 131- Phải
thu của khách hàng là tài khoản “dùng để phản ánh các khoản nợ phải thu và tình
hình thanh toán các khoản nợ phải thu của doanh nghiệp với khách hàng về tiền bán
sản phẩm, hàng hóa, BĐS đầu tư, TSCĐ, các khoản đầu tư tài chính, cung cấp dịch
vụ. Tài khoản này còn dùng để phản ánh các khoản phải thu của người nhận thầu
XDCB với người giao thầu về khối lượng công tác XDCB đã hoàn thành. Không
phản ánh vào tài khoản này các nghiệp vụ thu tiền ngay.
Như vậy, nợ phải thu của khách hàng nói chung là những khỏan phải thu bằng tiền
hoặc tương đương tiền mà doanh nghiệp sẽ thu được từ việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ
cho khách hàng. Khách hàng là những đơn vị hoặc cá nhân bên ngoài doanh nghiệp.
Phải thu khách hàng được chia làm hai loại: phải thu ngắn hạn và phải thu dài
hạn, căn cứ vào thởi gian thu hồi các khoản phải thu.
Nợ phải thu khách hàng là khoản mục dễ xảy ra gian lận và sai sót, doanh
nghiệp có xu hướng khai tăng các khoản phải thu để tăng tài sản. Mặt khác, nợ phải
thu khách hàng được trình bày theo giá trị thuần có thể thực hiện được. Trích lập dự
phòng phải thu khó đòi thường dựa vào ước tính mang tính chủ quan nên có nhiều
khả năng sai sót và khó kiểm tra. Bản chất của khoản dự phòng các khoản phải thu
khách hàng là làm tăng chi phí quản lý doanh nghiệp trong kì lập dự phòng, làm
giảm lợi nhuận của kì báo cáo. Các doanh nghiệp cần tuân thủ nghiêm ngặt những
điều khoản quy định của chế độ tài chính hiện hành về những điều kiện lập dự
phòng phải thu khó đòi
3. Khi lập BCTC, kế toán căn cứ kỳ hạn còn lại của các khoản phải thu để
phân loại là dài hạn hoặc ngắn hạn. Các chỉ tiêu phải thu của Bảng cân đối kế toán
có thể bao gồm cả các khoản được phản ánh ở các tài khoản khác ngoài các tài
khoản phải thu, như: Khoản cho vay được phản ánh ở TK 1283; Khoản ký quỹ, ký
cược phản ánh ở TK 244, khoản tạm ứng ở TK 141… Việc xác định các khoản cần
lập dự phòng phải thu khó đòi được căn cứ vào các khoản mục được phân loại là
phải thu ngắn hạn, dài hạn của Bảng cân đối kế toán.
4. Kế toán phải xác định các khoản phải thu thỏa mãn định nghĩa của các
khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ (được hướng dẫn chi tiết ở tài khoản 413 – Chênh
lệch tỷ giá hối đoái) để đánh giá lại cuối kỳ khi lập BCTC.
b. Nguyên tắc ghi nhận các khoản phải thu khách hàng
Theo Thông tư số 200 của Bộ Tài chính:
a) Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản nợ phải thu và tình hình thanh
toán các khoản nợ phải thu của doanh nghiệp với khách hàng về tiền bán sản phẩm,
hàng hóa, BĐS đầu tư, TSCĐ, các khoản đầu tư tài chính, cung cấp dịch vụ. Tài
khoản này còn dùng để phản ánh các khoản phải thu của người nhận thầu XDCB
với người giao thầu về khối lượng công tác XDCB đã hoàn thành. Không phản ánh
vào tài khoản này các nghiệp vụ thu tiền ngay.
b) Khoản phải thu của khách hàng cần được hạch toán chi tiết cho từng đối
tượng, từng nội dung phải thu, theo dõi chi tiết kỳ hạn thu hồi (trên 12 tháng hay
không quá 12 tháng kể từ thời điểm báo cáo) và ghi chép theo từng lần thanh toán.
Đối tượng phải thu là các khách hàng có quan hệ kinh tế với doanh nghiệp về mua
sản phẩm, hàng hoá, nhận cung cấp dịch vụ, kể cả TSCĐ, bất động sản đầu tư, các
khoản đầu tư tài chính.
c) Bên giao ủy thác xuất khẩu ghi nhận trong tài khoản này đối với các khoản
phải thu từ bên nhận ủy thác xuất khẩu về tiền bán hàng xuất khẩu như các giao
dịch bán hàng, cung cấp dịch vụ thông thường.
d) Trong hạch toán chi tiết tài khoản này, kế toán phải tiến hành phân loại các
đoàn được áp dụng chung một tỷ giá do Công ty mẹ quy định (phải đảm bảo sát với
tỷ giá giao dịch thực tế) để đánh giá lại các khoản phải thu của khách hàng có gốc
ngoại tệ phát sinh từ các giao dịch trong nội bộ tập đoàn.
1.1.3. Quy trình hạch toán khoản mục nợ phải thu khách hàng
a. Hệ thống chứng từ, sổ sách hạch toán khoản mục nợ phải thu khách hàng
Để ghi nhận các khoản phải thu khách hàng một cách trung thực, hợp lý, các loại
sổ sách kế toán mà doanh nghiệp cần có: Sổ chi tiết theo dõi công nợ phải thu đối với
từng khách hàng cụ thể, Sổ cái tài khoản phải thu khách hàng, Bảng tổng hợp phải thu
khách hàng, Bảng phân tích tuổi nợ, Sổ theo dõi chi tiết các khoản dự phòng phải thu
khó đòi, Sổ cái tài khoản dự phòng phải thu khó đòi, quyết định của Ban giám đốc khi
quyết định xử lý 1 khoản phải thu khó đòi và các sổ sách có liên quan.
Bên cạnh đó, một trong những biện pháp kiểm soát có tính chất bắt buộc ở
nhiều công ty hiện nay là cuối kì, kế toán cần lập bảng đối chiếu công nợ gửi đến
khách hàng để phát hiện chênh lệch nếu có .
Các chứng từ liên quan đến việc hạch toán các khoản phải thu khách hàng.
- Hợp đồng kinh tế hoặc yêu cầu mua hàng;
- Phiếu xuất kho;
- Hoá đơn bán hàng;
- Các chứng từ thanh toán: Phiếu thu, giấy báo Có của Ngân hàng, Tiền đang
chuyển;
- Phiếu kế toán (khi trích lập dự phòng);
- Các biên bản liên quan đến xoá sổ một khoản nợ khó đòi.
b. Quy trình hạch toán các khoản phải thu khách hàng
Sơ đồ 1.1. Quy trình hạch toán nợ phải thu khách hàng trong doanh nghiệp
Phân chia trách nhiệm giữa các chức năng có liên quan: phải có sự phân
công, phân nhiệm rõ ràng giữa các bộ phận, không được để cho một cá nhân thực
hiện từ đầu đến một công việc nào.
- Ban hành các chính sách và thủ tục bán chịu : phải có các quy định rõ ràng
về quyền hạn và trách nhiệm đối với việc bán chịu.
- Hoàn thiện hệ thống kế toán chi tiết nợ phải thu.
- Báo cáo và phân tích định kỳ nợ phải thu.
- Tổ chức công tác đối chiếu công nợ
- Quy định các thủ tục xóa nợ.
1.2. Mục tiêu kiểm toán khoản mục nợ phải thu khách hàng
Theo quy định được áp dụng tại Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200(VSA
200) về ”Mục tiêu tổng thể của KTV và doanh nghiệp kiểm toán khi thực hiện kiểm
toán theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam”, mục tiêu tổng thể của KTV và doanh
nghiệp kiểm toán khi thực hiện một cuộc kiểm toán BCTC:
(a)
Đạt được sự đảm bảo hợp lý rằng liệu BCTC, xét trên phương diện tổng
thể, có còn sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn hay không, từ đó giúp KTV
đưa ra ý kiến về việc liệu BCTC có được lập phù hợp với khuôn khổ về lập và trình
bày BCTC được áp dụng, trên các khía cạnh trọng yếu hay không;
(b)
Lập báo cáo kiểm toán về BCTC và trao đổi thông tin theo quy định của
chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, phù hợp với các phát hiện của KTV.
phát sinh phải được ghi nhận đầy đủ.
Mục tiêu này nhằm phát hiện các khoản
phải thu khách hàng bị bỏ sót.
Quyền và nghĩa vụ
Các khoản phải thu khách hàng tại thời
điểm lập BCTC đều thuộc quyển sở hữu
Tính giá
của doanh nghiệp
Các khoản phải thu đều được tính giá
đúng cả về tổng số và tiêng cho các
Phân loại
khoản có thể thu được
Các khoản phải thu theo được phân loại
Trình bày
đúng theo chuẩn mực
Các khoản phải thu được trình bày và
Kịp thời
thuyết minh rõ
Các nghiệp vụ thu tiền đều ghi đúng thời
hạn trong quan hệ với nghiệp vụ bán
Đối với những khách hàng tiềm năng: Chuẩn mực kiểm toán yêu cầu KTV
kế tục phải liên lạc với KTV tiền nhiệm, trao đổi về những vấn đề liên quan đến
việc KTV kế tục quyết định có chấp nhận hợp đồng kiểm toán hay không; bao gồm:
những thông tin về tính liêm chính của ban quản trị; những bất đồng giữa ban quản
trị với KTV tiền nhiệm về các nguyên tắc kế toán, thủ tục kiểm toán hoặc các vấn
đề quan trọng khác,... và lý do tại sao khách hàng thay đổi KTV.
Ngoài ra KTV có thể xem xét hồ sơ kiểm toán của KTV tiền nhiệm để hỗ trợ
cho KTV kế tục trong việc lập kế hoạch kiểm toán.
Đối với những khách hàng mà trước đây chưa từng được công ty kiểm
toán nào kiểm toán thì để có thông tin về khách hàng, KTV có thể thu nhập các
thông tin này thông qua việc nghiên cứu sách báo, tạp chí chuyên ngành, thẩm tra
các bên thông tin về khách hàng sắp tới như ngân hàng, cố vấn pháp lí, các bên có
mối quan hệ tài chính buôn bán với khách hàng... thậm chí có thể thuê các nhà điều
tra chuyên nghiệp để điều tra về vấn đề cần thiết khác. Cách thu thập tin tức này
cũng có thể áp dụng trong trường hợp khách hàng trước đây đã được kiểm toán bởi
một công ty kiểm toán khách hàng trước đây không đồng ý cho KTV mới tiếp xúc
với KTV cũ hoặc do trước đây có những bất đồng nghiêm trọng giữa hai bên.
Đối với khách hàng cũ: Hàng năm KTV cập nhật các thông tin về khách hàng
và đánh giá xem liệu có rủi ro nào khiến KTV phải ngừng cung cấp các dịch vụ
kiểm toán cho họ hay không? KTV có thể ngừng cung cấp dịch vụ kiểm toán cho
khách hàng trong trường hợp hai bên có những mâu thuẫn về các vấn đề như: phạm
vi thích hợp của cuộc kiểm toán, loại báo cáo kiểm toán phải công bố, tiền thù lao
hoặc giữa hai bên có những vụ kiện tụng hoặc trong trường hợp KTV cho rằng
khách hàng thiếu liêm chính...
KTV cũng cần phải xem xét thoả thuận phí kiểm toán với khách hàng cũng
như xác định khả năng có thể kiểm toán của khách hàng.
• Nhận diện các lí do kiểm toán của công ty khách hàng
Thực chất của việc nhận diện các lý do kiểm toán của công ty khách hàng là
một khách hàng trong nhiều năm. Việc tham gia kiểm toán cho một khách hàng trong
nhiều năm có thể giúp cho KTV tích luỹ được nhiều kinh nghiêm cũng như có được
hiểu biết sâu sắc về ngành nghề kinh doanh của khách hàng đang được kiểm toán.
Thứ ba: khi phân công KTV thực hiện cuộc kiểm toán cần chú ý lựa
chọn những KTV có kiến thức và kinh nghiệm về ngành nghề kinh doanh
của khách hàng.
•
Hợp đồng kiểm toán
Hợp đồng kiểm toán là sự thoả thuận chính thức giữa công ty kiểm toán và
khách hàng về việc thực hiện kiểm toán và các dịch vụ liên quan khác. Theo
CMKTVN số 210 thì hợp đồng kiểm toán phải được lập và kí chính thức trước khi
tiến hành công việc kiểm toán nhằm bảo vệ quyền lợi của khách hàng và của công
ty kiểm toán. Trong một số trường hợp đặc biệt, "nếu khách hàng và công ty kiểm
toán sử dụng văn bản cam kết thay cho hợp đồng thì văn bản cam kết phải đảm bảo
các điều khoản về điều kiện cơ bản của hợp đồng kiểm toán".
Đây được coi là cơ sở pháp lí để KTV thực hiện các bước tiếp theo của cuộc
kiểm toán và có thể ảnh hưởng đến trách nhiệm pháp lí của KTV đối với khách
hàng, nó đảm bảo cho một cuộc kiểm toán thực thi. Sau khi hợp đồng kiểm toán
được kí kết, công ty kiểm toán trở thành chủ thể kiểm toán chính thức của công ty
khách hàng.
Tương tự thư hẹn kiểm toán, hợp đồng kiểm toán bao gồm các nội dung chủ
yếu sau:
Mục đích và phạm vi kiểm toán: Mục tiêu của cuộc kiểm toán là cái đích cần
đạt tới đồng thời là thước đo kết qủa của mỗi cuộc kiểm toán cụ thể (thường là xác
định tính trung thực và hợp lí của các thông tin trên BCTC trong kiểm toán BCTC).
Phạm vi kiểm toán là sự giới hạn về không gian, thời gian của đối tượng kiểm toán,
Khi tìm hiểu về ngành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng cần
lưu ý:
+ Thông tin thu thập: bao gồm hiểu biết chung về nền kinh tế, lĩnh vực hoạt
động của đơn vị và sự hiểu biết cụ thể hơn về tổ chức và hoạt động của đơn vị kiểm
toán. KTV còn phải hiểu cả những khía cạnh đặc thù của một tổ chức cụ thể như: cơ
cấu tổ chức, dây chuyền và các dịch vụ sản xuất, cơ cấu vốn, chức năng và vị trí của
kiểm toán nội bộ....
+ Phương pháp: nhiều cách nhưng phương pháp thường được sử dụng nhiều
nhất là trao đổi với các KTV tiền nhiệm hoặc đã kiểm toán cho khách hàng khác
trong cùng ngành nghề kinh doanh hoặc trao đổi trực tiếp với nhân viên, Ban giám
đốc của khách hàng.
Ngoài ra KTV có thể có được những hiểu biết đó qua việc nghiên cứu các sách
báo, tạp chí chuyên ngành,…
-
Xem xét lại kết quả của cuộc kiểm toán
trước và hồ sơ kiểm toán chung
Việc cập nhật và xem xét các sổ sách của công ty là rất cần thiết vì qua đó
KTV có thể xác định được các quyết định của nhà quản lý có phù hợp với luật pháp
của Nhà nước, với các chính sách hiện hành của Công ty hay không mà còn giúp
KTV hiểu được bản chất của các số liệu cũng như sự biến động của chúng trên các
BCTC được kiểm toán.
- Tham quan nhà xưởng:
Quá trình này sẽ cung cấp cho KTV những thông tin về quy trình sản xuất
kinh doanh của khách hàng và nó cũng cho phép KTV gặp các nhân vật chủ chốt và
cung cấp cho KTV một cái nhìn tổng thể về công việc kinh doanh của khách hàng.
Điều này tạo điều kiện cho việc thuyết minh số liệu kế toán, phát hiện những vấn đề
các quy trình mang tính pháp lý có ảnh hưởng đến các mặt hoạt động kinh doanh
của khách hàng. KTV có thể thu thập bằng cách tiếp xúc với ban giám đốc công ty
khách hàng. Thông tin thu thập bao gồm bốn loại sau:
- Giấy phép thành lập và điều lệ Công ty: giúp KTV hiểu được về quá trình
hình thành, mục tiêu hoạt động và các lĩnh vực kinh doanh hợp pháp của đơn vị cũng
như nắm bắt được những vấn đề mang tính chất nội bộ của đơn vị như cơ cấu tổ chức,
chức năng, nhiệm vụ các phòng ban, thủ tục phát hành cổ phiếu, trái phiếu...
- Các BCTC, báo cáo kiểm toán, thanh tra hay kiểm tra của năm hiện
hành hay trong vài năm trước: giúp KTV nhận thức được tổng quát về vấn đề đó
và dựa trên cơ sở đó, áp dụng các kỹ thuật phân tích các báo cáo này để nhận thức
được xu hướng phát triển của khách hàng. Đây là tài liệu quan trọng nhất trong một
cuộc kiểm toán BCTC. Ngoài ra việc xem xét các báo cáo kiểm toán, các biên bản
kiểm tra, thanh tra (nếu có) sẽ giúp KTV nhận thức rõ hơn về thực trạng hoạt động
của đơn vị khách hàng và dự kiến phương hướng kiểm tra.
- Biên bản các cuộc họp cổ đông, Hội đồng quản trị và ban giám đốc: Đây
là những tài liệu chính thức và tóm lược về những vấn đề quan trọng nhất đã được
thảo luận và quyết định chính thức trong các cuộc họp đó. Các biên bản này thường
chứa đựng những thông tin quan trọng như: công bố về cổ tức, phê chuẩn việc hợp
nhất hoặc giải thể các đơn vị trực thuộc, xét duyệt mua bán, chuyển nhượng các tài
liệu quan trọng...
- Các hợp đồng và cam kết quan trọng: Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm
toán, việc xem xét sơ bộ các hợp đồng đó sẽ giúp KTV tiếp cận với các hoạt động
chính của khách hàng, hình dung những khía cạnh pháp lý có ảnh hưởng đến tình
hình tài chính và kết quả hoạt động của đơn vị khách hàng.
d. Thực hiện các thủ tục phân tích
Theo CMKTVN số 520, "thủ tục phân tích là quá trình đánh giá các thông tin
tài chính được thực hiện thông qua việc nghiên cứu các mối quan hệ đáng tin cậy
giữa các dữ liệu tài chính và dữ liệu phi tài chính. Nó bao hàm cả việc so sánh số
liệu trên sổ với các số liệu ước tính của KTV".
Trong quá trình kiểm toán nợ phải thu khách hàng, thủ tục phân tích được chia
xác hoặc là sẽ rút ra những kết luận sai lầm.
Mục tiêu của đánh giá tính trọng yếu là để ước tính mức độ sai sót của BCTC
có thể chấp nhận được, xác định phạm vi của cuộc kiểm toán và đánh giá ảnh
hưởng của các sai sót lên BCTC để từ đó xác định bản chất, thời gian và phạm vi
các khảo sát (thử nghiệm) kiểm toán.
Trình tự thực hiện đánh giá như sau:
- Ước tính ban đầu về tính trọng yếu
Mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu là lượng tối đa mà KTV tin rằng ở
mức đó các BCTC có thể bị sai nhưng vẫn chưa ảnh hưởng đến các quyết định của
người sử dụng hay nói cách khác đó chính là những sai sót có thể chấp nhận được
đôí với toàn bộ BCTC.
Việc ước lượng ban đầu về tính trọng yếu giúp cho KTV lập kế hoạch thu thập
bằng chứng kiểm toán thích hợp. Cụ thể là nếu các KTV ước lượng mức trọng yếu
càng thấp, nghĩa là độ chính xác của các số liệu trên BCTC càng cao, thì số lượng
bằng chứng phải thu thập càng nhiều và ngược lại.
Khi xây dựng mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu, KTV cần lưu ý
những yếu tố định tính và định lượng của trọng yếu.
Mặc dù ước lượng ban đầu có tính trọng yếu là một xét đoán nghề nghiệp tính
chủ quan của KTV song trên thực tế các Công ty kiểm toán thường đề ra những
đường lối chỉ đạo để hỗ trợ cho các KTV của mình trong việc ước lượng ban đầu về
tính trọng yếu. Ví dụ, ta có bảng xác định mức trọng yếu như sau:
Bảng 1.2. Ví dụ về quy định về mức trọng yếu
(Nguồn: Giáo trình Kiểm toán tài chính, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân 2014)
Vị trí
của khoản mục
Báo cáo kết quả kinh
Không
Sau khi KTV đã có được ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho toàn bộ
BCTC, KTV cần phân bổ mức ước lượng này cho từng khoản mục trên BCTC. Đó
chính là sai số có thể chấp nhận được đối với từng khoản mục.
Cơ sở để tiến hành phân bổ: là bản chất của các khoản mục, đánh giá về rủi ro
tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, kinh nghiệm kiểm toán của KTV và chi phí kiểm toán
đối với từng khoản mục.
Trong thực tế, quy trình do công việc này mang tính chủ quan và đòi hỏi sự
xét đoán nghề nghiệp của KTV nên thường do các KTV có trình độ chuyên môn