PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai. Đó là thông điệp trong việc bảo vệ,
chăm sóc, giáo dục trẻ em của các quốc gia trên thế giới. Công ước về quyền
trẻ em đã được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua năm 1989 trong đó đã
khẳng định:“ trẻ em có quyền được sống, được chăm sóc học tập, lao động và
phát triển, nuôi dưỡng trong môi trường gia đình các em được phát triển toàn
diện về mọi mặt”. Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới ký và là nước Châu
Á đầu tiên đã ký “Công ước quốc tế về quyền trẻ em”.
Đảng, Nhà nước ta luôn chú trọng, quan tâm, chăm sóc, bồi dưỡng thế
hệ trẻ đã ban hành nhiều chính sách dành cho trẻ em – thế hệ tương lai của đất
nước và đặc biệt quan tâm tới nhóm đối tượng trẻ bị bỏ rơi, cơ nhỡ. Các chính
sách này nhằm tạo điều kiện cho trẻ em có cơ hội được phát triển một cách
toàn diện cả về đạo đức, trí tuệ và sức khỏe. Trong đó vấn đề về sức khỏe –
thể chất đã được Đại hội Đảng VIII khẳng định “sự cường tráng về thể chất
là nhu cầu cơ bản của bản thân con người, là vốn quý để tạo ra tài sản trí tuệ
và vật chất cho xã hội, là trách nhiệm của toàn xã hội của các giai cấp, các
ngành, các đoàn thể”.
Ở Việt Nam tính đến năm 2013 có khoảng 1,5 triệu trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt trong đó có hơn 150 nghìn trẻ mồ côi, trẻ bị bỏ rơi. Đây không
chỉ là những bất hạnh của bản thân các em mà còn là nỗi đau xót của người
thân và là gánh nặng cho xã hội cộng đồng.
Tại địa bàn Hà Nội, năm 1990 Làng trẻ em SOS Thành phố Hà Nội
chính thức được thành lập, đây là cơ sở tập hợp và nuôi dạy trẻ em mồ côi
trọng điểm của khu vực phía Bắc. Trường phổ thông Hermann Gmeiner Hà
Nội thuộc Làng trẻ SOS thành lập năm 1994. Là một ngôi trường liên cấp,
nội trú tập trung (Tiểu học-THCS-THPT), tạo điều kiện để chăm sóc, giáo
dục các em.
Tuy nhiên, cũng như nhiều trường học khác vấn đề đức dục và trí dục
pháp, hình thức tổ chức và ảnh hưởng đến sự phát triển thể lực của học sinh.
Nếu có những đánh giá chính xác về thực trạng công tác GDTC và đặc điểm
sự phát triển thể lực của học sinh để từ đó tìm ra những biện pháp có tính khả
thi thì sẽ nâng cao thể lực và hiệu quả GDTC cho học sinh THCS Làng trẻ em
S0S TP Hà Nội.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu thực trạng sự phát triển thể lực của học sinh
THCS Làng trẻ em SOS TP Hà Nội.
Nhiệm vụ 2: Nghiên cứu các biện pháp nâng cao thể lực cho học sinh
THCS Làng trẻ em SOS TP Hà Nội.
6. Phạm vi nghiên cứu
- Đặc điểm phát triển thể lực của học sinh THCS Làng trẻ em SOS TP
Hà Nội.
- Thực trạng công tác GDTC ở Làng trẻ em S0S TP Hà Nội.
- Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển thể lực của học sinh THCS
Làng trẻ em SOS TP Hà Nội.
- Các biện pháp nâng cao thể lực cho học sinh THCS Làng trẻ em SOS
TP Hà Nội.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp đọc và tham khảo tài liệu
Phương pháp đọc và tham khảo tài liệu cho phép hệ thống hóa kiến thức
có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài, hình thành cơ sở lý luận về đặc
điểm phát triển các tố chất thể lực của học sinh THCS làng trẻ em SOS TP Hà
Nội, đề xuất giả thuyết khoa học, xác định mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.
7.2. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
Đây là phương pháp được sử dụng trong quá trình nghiên cứu, sưu tầm
các tài liệu khoa học để xác định luận cứ của đề tài.
Thông qua phương pháp này, đề tài sẽ đi sâu nghiên cứu chỉ thị, nghị
+ Đo thành tích
Kết quả đo được tính bằng độ dài từ vạch xuất phát đến vệt gần nhất
của gót chân, chiều dài được tính bằng đơn vị cm
- Chạy 30m xuất phát cao
Nhằm đánh giá tố chất sức nhanh.
+ Chuẩn bị
Đường chạy dài 50m, rộng 4m, kẻ vạch xuất phát và vạch đích.
Một trọng tài hô khẩu lệnh, một trọng tài bấm giờ và ghi thành tích.
+ Tổ chức thực hiện
Kiểm tra ở cả 3 khối 6,7,8,9
+ Đo thành tích
Trọng tài bấm giờ đứng ngay vạch đích, khi ngực hoặc vai của người
chạy chạm vào mặt phẳng đích thì bấm dừng và ghi thành tích.
Thành tích chạy được tính bằng giây và số lẻ từng 1/100 giây
- Chạy tùy sức 5 phút
Nhằm đánh giá tố chất sức bền.
+ Chuẩn bị
Đường chạy dài 50m rộng 4m, hai đầu kẻ hai đường giới hạn có đặt
vạch chuẩn, phía ngoài hai giới hạn có khoảng trống 1m để chạy quay vòng.
Trên đoạn 50m đánh dấu từng đoạn 10m để xác định phần lẻ quãng đường
sau khi hết thời gian chạy.
Một trọng tài chính bấm giờ và ghi thành tích, 4 trọng tài phụ.
+ Tổ chức thực hiện
Kiểm tra ở 4 khối 6,7,8,9.
Lần lượt cho mỗi nhóm 4 người chạy: Khi có lệnh “chạy” người chạy
trong ô chạy, hết đoạn 50m, vòng bên trái qua vật chuẩn chạy lặp lại trong
vòng thời gian 5 phút.
+ Đo thành tích
Trong đó: x : Là số trung bình cộng.
Σ : Là dấu hiệu tổng.
xi : Là giá trị của từng cá thể.
n : Là số cá thể.
+ Phương sai: δ =
8. Những đóng góp mới của đề tài
Đánh giá được thực trạng và những hạn chế dẫn đến sự phát triển thể
lực của học sinh THCS Làng trẻ em SOS TP Hà Nội. Trên cơ sở đó lựa chọn
những biện pháp nâng cao thể lực cho học sinh đảm bảo tính khả thi, gắn liền
với thực tiễn chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em Làng SOS TP Hà Nội.
9. Tổ chức nghiên cứu
9.1. Kế hoạch nghiên cứu.
- Giai đoạn 1: Từ tháng 12/2013 – 1/2014, đọc và tham khảo tài liệu
xây dựng đề cương nghiên cứu và bảo vệ đề cương trước hội đồng khoa học.
- Giai đoạn 2: Từ tháng 2 – 4/2014, nghiên cứu tài liệu, thu thập, xử lý
số liệu và hoàn thành luận văn.
- Giai đoạn 3: Từ tháng 4 – tháng 5/2014, hoàn thiện khóa luận và bảo
vệ khóa luận trước hội đồng khoa học.
9.2. Địa điểm nghiên cứu:
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Làng trẻ em SOS TP Hà Nội
10. Cấu trúc của luận văn
1. Đặt vấn đề
2. Mục đích nghiên cứu
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4. Giả thuyết khoa học
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
hình thức tổ chức tập luyện TDTT tự nguyện của nhân dân, tạo điều kiện cần
thiết để không ngừng mở rộng các hoạt động TDTT quần chúng, chú trọng
TDTT chuyên nghiệp…” [21]
Ngày 24 tháng 3 năm 1994 Ban bí thư Trung ương Đảng (khóa VII) đã
ban hành chỉ thị số 36-CT/TW về “công tác TDTT hình mới”. Chỉ thị đã chỉ
rõ vai trò của TDTT đối với việc nâng cao sức khỏe, thể lực cho nhân dân,
đặc biệt là thế hệ trẻ. Về GDTC trường học, Chỉ thị nhấn mạnh: “…cải tiến
chương trình giảng dạy, tiêu chuẩn rèn luyện thân thể, đào tạo giáo viên
TDTT cho trường học các cấp tạo điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất để thực
hiện chế độ GDTC bắt buộc ở tất cả các trường học…” [15]
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần VIII (1996) đã tiếp tục khẳng
định tầm quan trọng của nhân tố con người “vừa là mục tiêu, vừa là động lực
phát triển xã hội” và nhấn mạnh đến vấn đề chăm lo phát triển GDTC con
người: “…muốn xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh, không những chỉ
có con người phát triển về trí tuệ, trong sáng về đạo đức, lối sống mà còn có
con người cường tráng về thể chất, chăm lo con người về thể chất là trách
nhiệm của toàn xã hội…” [14]
Luật Giáo dục được Quốc hội khóa IX nước ta đã thông qua ngày 02
tháng 12 năm 1998 đã quy định và pháp lệnh TDTT được Uỷ ban thường vụ
Quốc hội thông qua tháng 9/2000 quy định: “Nhà nước coi trọng TDTT
trường học, nhằm phát triển và hoàn thiện thể chất cho tầng lớp thanh thiếu
niên, nhi đồng. GDTC là nội dung bắt buộc đối với học sinh, sinh viên, được
thực hiện trong hệ thống giáo dục quốc dân, từ mầm non đến đại học…” [22]
+ Pháp lệnh TDTT số 28/2000/PL-UBTVQH 10 ngày 09/10/2000.
điều 14 ghi rõ: “ TDTT trường học gồm GDTC và hoạt động thể thao
ngoại khóa cho giờ học. GDTC cho người học là chế độ giáo dục bắt buộc
nhằm tăng cường sức khỏe, phát triển thể chất, góp phần hình thành và bồi
dưỡng nhân cách đáp ứng yêu cầu giáo dục toàn diện cho người học…Nhà
1.2. Khái quát về giáo dục thể chất ở trường trung học cơ sở
1.2.1. Vị trí, vai trò của GDTC trong nhà trường THCS
Giáo dục thể chất trong nhà trường THCS cũng như các loại hình giáo
dục khác là quá trình sư phạm với đầy đủ đặc điểm của nó. Giáo dục thể chất
ở trường THCS với nhiệm vụ là: Phát triển toàn diện các tố chất thể lực cho
học sinh, và trên cơ sở đó phát triển các năng lực thể chất, bảo đảm hoàn thiện
thể hình, củng cố sức khoẻ, hình thành theo hệ thống và tiến hành hoàn thiện
đến mức cần thiết các kỹ năng và kỹ xảo quan trọng của các em để chuẩn bị
cho cuộc sống. Đồng thời chương trình giáo dục thể chất trong trường trung
học cơ sở nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dục đó là: “Trang bị kiến thức,
kỹ năng và rèn luyện thể lực cho học sinh”. Ngoài ra, môn học thể dục còn
góp phần tích cực trong giáo dục, rèn luyện học sinh nếp sống lành mạnh, tác
phong nhanh nhẹn, kỷ luật và một số phẩm chất đạo đức.
Chương trình Giáo dục thể chất trong nhà trường THCS đóng vai trò
quan trọng trong cả quá trình học tập của học sinh trong việc phát triển cơ thể
một cách hài hòa, bảo vệ và củng cố sức khỏe, hình thành và rèn luyện các kỹ
năng phản xạ tốt, hợp lý hóa chế độ hoạt động, nghỉ ngơi tích cực từ đó giữ
gìn, nâng cao năng lực hoạt động, học tập của học sinh trong suốt thời kỳ học
tập tại nhà trường cũng như đảm bảo chuẩn bị thể lực cho tương lai các em.
Chương trình Giáo dục thể chất tại các trường THCS là sự kết hợp bài bản
giữa chương trình chuẩn của Bộ Giáo Dục & Đào Tạo và chương trình bổ
sung do nhà trường xây dựng. Qua đó, học sinh sẽ được phát triển lành mạnh
về thể chất và tinh thần. Đồng thời, nhà trường cũng khám phá năng khiếu thể
thao tiềm ẩn trong mỗi học sinh, từ đó phát động phong trào thể thao học
đường ngày càng sôi nổi, khiến cho môi trường học tập của học sinh tràn đầy
hứng thú. Như vậy GDTC trong nhà trường THCS góp phần giúp học sinh có
sức khỏe để học tập tốt, giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ thế hệ tương lai của đất
nước trở thành những người có ích cho xã hội
+ Bồi dưỡng các kỹ năng thể dục thể thao từ thấp đến cao, từ các trò
chơi thông thường đến các trò chơi cần thể lực, trí tuệ và sức khỏe để học sinh
tham gia vào các loại hình thể dục thể thao có kết quả tốt.
+ Tổ chức thường xuyên các bài thể dục cơ bản để có thể được phát
triển cân đối, hài hòa.
+ Giáo dục ý thức phòng bệnh thông thường cho cá nhân và gia đình,
phòng tránh các chấn thương như xử lý các chấn thương xảy ra trong quá
trình tập luyện thể dục thể thao.
+ Giáo dục thói quen ăn uống khoa học phù hợp với những tiêu chuẩn vệ
sinh dinh dưỡng làm cho cơ thể phát triển khỏe mạnh, phòng chống bệnh tật.
1.3. Đặc điểm tâm, sinh lý học sinh THCS (lứa tuổi 12 – 15 tuổi)
1.3.1. Đặc điểm sinh lý lứa tuổi học sinh THCS
Ở lứa tuổi này giai đoạn thích nghi và ổn định bao giờ cũng kém tuổi
trưởng thành, giai đoạn mệt mỏi sớm xuất hiện cụ thể: Trong giai đoạn mệt
mỏi khả năng vận động và các chỉ số nói riêng như tần số động tác, sức
nhanh, sức mạnh, sức bền, độ chính xác của động tác giảm rõ rệt so với người
lớn. Mệt mỏi của các em xảy ra ngay cả khi các môi trường bên trong có sự
biến đổi nhỏ. Chính vì vậy, lứa tuổi các em trong giai đoạn này ảnh hưởng
đến quá trình hồi phục sau vận động như: Sau các bài tập yếm khí, thời gian
ngắn thì sự hồi phục của các em sau vận động nhanh hơn tuổi trưởng thành.
Vì những đặc điểm trên mà phải lựa chọn các bài tập, các biện pháp như thể
nào đó cho phù hợp với sự phát triển sinh lý của các em để tăng cường thể lực
cho các em.
+ Hệ vận động:
- Hệ xương: Lứa tuổi này hệ xương của các em có bước phát triển nhảy
vọt cả về chiều dài và độ dày của xương, màng xương phát triển lên cao bao
bọc quanh sụn, tính đàn hồi của xương có xu hướng giảm do lượng canxi,
phốt pho, magie trong xương tăng lên, do đó xương của các em đã cứng hơn.
và tăng dần yêu cầu trong GDTC, tránh hoạt động quá sức và quá đột ngột.
+ Hệ hô hấp: Phổi của các em phát triển chưa hoàn thiện, phế nang còn
nhỏ, các cơ hô hấp chưa phát triển, dung lượng phổi còn bé vì vậy khi vận
động các em phải thở nhiều, thở nhanh nên chóng mệt mỏi. Rèn luyện thể
chất cho các em phải toàn diện, phải chú ý phát triển các cơ hô hấp, hướng
dẫn các em biết cách thở sâu, thở đúng và biết cách thở trong hoạt động. Như
vậy, mới có thể làm việc và hoạt động được lâu và có hiệu quả. [7]
1.3.2. Đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh THCS
Tâm lý là chỉ tình cảm, ý chí cá tính sự yêu thích của con người. Các
trạng thái tâm lý và tinh thần vui vẻ, sảng khoái, ý chí kiên cường dũng cảm,
tính tình chân thành cởi mở… là các tiêu chí biểu hiện trạng thái tốt của con
người. Nếu trạng thái tâm lý không tốt sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe, tới sự phát
triển toàn bộ cơ thể của trẻ. Mối quan hệ giữa cơ thể và tâm lý là mối quan hệ
hữu cơ. Trạng thái tam lý tốt là tiền đề, là sự đảm bảo quan trọng cho cơ thể
khỏe mạnh.
So với cấp tiểu học, việc học tập của học sinh THCS chiếm vị trí nhiều
hơn và các em gặp một loạt hoàn cảnh mới: Nhiều môn học mới, phải thực
hiện yêu cầu không phải của một giáo viên mà của nhiều giáo viên, phải hoạt
động độc lập với khối lượng công việc tăng một cách đáng kể và các em đã có
một địa vị mới ở gia đình và trường học. Các em bắt đầu cố gắng muốn tự
lập, điều này có quan hệ đặc biệt đến sự phát triển thái độ có ý thức đối với
hoạt động của mình. Nguyện vọng đó sẽ giúp các em tích cực hơn trong hoạt
động, nâng cao ý thức trách nhiệm, phát triển sự sáng tạo trong hoạt động…
Tuy nhiên nếu giáo dục không đúng thì tính độc lập trong tư duy của các em
phát triển theo chiều hướng không đúng sẽ dẫn đến kết quả không tốt (học
đòi, cáu kỉnh, thô lỗ, hỗn láo…)
Hứng thú của các em xuất hiẹn thêm nhiều nét mới so với học sinh tiểu
học. Hứng thú đã được xác định rõ rệt hơn, mang tính chất bền vững, sâu sắc
- Đặc điểm tâm lý học sinh THCS Làng trẻ em SOS trong quá trình học tập
Nghiên cứu quá trình nhận thức của học sinh THCS Làng trẻ em SOS
là nghiên cứu sự vận động và phát triển của các biểu hiện tâm lý người dưới
tác động của hoàn cảnh tự nhiên và xã hội, trong sự tiếp nhận và thích ứng
của cá nhân. Trong quá trình học tập, sự biến đổi nhận thức của người học
chịu sự tác động từ lực lượng giáo dục, giữa nội dung, phương pháp và các
hình thức dạy học, trong điều kiện dạy và học cụ thể, dưới ảnh hưởng của
điều kiện kinh tế xã hội, môi trường, lối sống sinh hoạt đã được hình thành ở
các em. Như vậy, đặc điểm quá trình nhận thức của học sinh THCS Làng trẻ
em SOS bao gồm những yếu tố đã ổn định, những yếu tố mới hình thành, phát
triển trong quá trình dạy học và giáo dục.
Việc học chưa được coi trọng vì thiếu động cơ thúc đẩy, hay nói cách
khác quá trình chuyển hóa nhiệm vụ, yêu cầu học tập, cũng như cơ chế
chuyển vào học sinh diễn ra chậm chạp. Do sống từ nhỏ trong môi trường nhỏ
bé, các em không được quan tâm chu đáo như các bạn khác các em còn thiếu
hụt sự quan tâm chọn vẹn của mẹ, các em thường hay mặc cảm về hoàn cảnh,
tự ti với bản thân. Chính vì thế cảm giác, tri giác của các em có những nét đặc
biệt, còn thiếu toàn diện, cảm tính, mơ hồ, không thấy bản chất của sự vật
hiện tượng.
Quá trình tri giác thường gắn liền với hành động trực tiếp, sờ mó, gắn
với màu sắc hấp dẫn của sự vật đã tạo ra hưng phấn xúc cảm ở học sinh. Đối
tượng tri giác của học sinh Làng trẻ SOS là sự vật gần gũi. Nhờ vào việc tổ
chức các hình thức học tập đa dạng như: Tham quan, ngoại khóa, nghiên cứu
tài liệu, tăng cường cách dạy học trực quan…sẽ làm tăng sự hiểu biết cho học
sinh, giúp các em mở rộng không gian hơn, tạo ra phương pháp nhận thức
cảm tính tích cực làm tiền đề cho nhận thức ở mức độ chính xác hơn, cao hơn.
Khả năng tư duy kinh nghiệm của học sinh THCS Làng trẻ em SOS ở
mức thấp so với trình độ chung của lứa tuổi; khả năng tư duy lý luận còn thấp
khoá... đều có tác dụng bổ sung tri thức, mở ra những nhu cầu mới cho học
sinh THCS Làng trẻ em SOS.
- Đặc điểm giao tiếp của học THCS Làng trẻ em SOS.
Trước khi đến trường các em đã được tiếp xúc với cộng đồng Làng
SOS nơi đã nuôi dạy các em khôn lớn, tiếp thu truyền thống, phong tục tập
quán của Làng. Môi trường giao tiếp hẹp, đối tượng giao tiếp chủ yếu trong
gia đình các anh chị và các mẹ trong Làng nhưng có sức hấp dẫn lớn đối với
học sinh. Thông qua con đường giao tiếp đó, các em thường hay tự ti, măc
cảm nên ít nói, trầm cảm. Do đó, lối nói, cách nghĩ, hành vi của học sinh Làng
trẻ em SOS có những nét riêng. Trong giao tiếp, các em còn rụt rè,ít bộc lộ
cảm xúc rõ rệt. Khi giao tiếp với người thân các em tự tin hơn, với bạn là
thẳng thắn, bình đẳng, với giáo viên các em còn ngại ngùng ít nói ít bộc lộ
cảm xúc. Gặp người lạ các em khó tiếp xúc, ngại trao đổi, chủ yếu là tò mò
quan sát kỹ năng định hướng trong giao tiếp chưa được hình thành chắc chắn.
Mặc dù các được giao tiếp với thế giới bên ngoài, tiếp xúc với nhiều nguồn
ảnh hưởng, song các em vẫn còn cảm thấy tự ti không làm biến đổi lớn về
cách giao tiếp của học sinh Làng SOS.
Quá trình học tập ở trường, học sinh được mở rộng tầm nhìn phong phú
về các hình thức tổ chức học tập: Học trên lớp, ngoài lớp, hoạt động xã hội,
trong và ngoài nhà trường, môi trường giao lưu ngày càng mở rộng. Đối
tượng giao tiếp của học sinh trường THCS Làng trẻ em SOS có đa dạng hơn
so với các trường phổ thông khác, như: Quan hệ giáo viên - học sinh, quan hệ
bạn - nhóm bạn (cùng nhóm, khác nhóm); với các nhân viên nhà trường, các
mẹ trong trường, các đối tượng ngoài nhà trường... được trực tiếp hơn và quan
trọng là được định hướng sư phạm. Trong học tập và giao tiếp, cường độ tiếp
xúc của học sinh Làng trẻ em SOS cũng nhiều hơn so với học sinh các trường
khác. Do tính chất nội trú cùng những đặc điểm quản lý tương đối giống nhau
của các gia đình bà mẹ cho nên giờ tự học, sinh hoạt của học sinh Làng trẻ em
hoạt đông nào đó như: Khi nâng vác một vật nặng –Ném đẩy hay thực hiện
động tác cử tạ thì cơ thể cần tạo ra một lực rất lớn để khắc phục và thắng
được lực cản hay trọng lượng mang vác, cũng như cần phải tạo ra một lực tác
dụng vào dụng cụ tạo nên một vận tốc lớn trong môn xe đạp đường dài thì hệ
thống tim mạch và hô hấp phải bền bỉ để cung cấp đủ năng lượng và ôxy cho
cơ thể hoạt động – khi thực hiện mấy bài tập thể thao với các động tác kỹ
thuật thì cần phải có sự kết hợp với các tư thế vận động một cách nhịp nhàng
và khéo léo. Như vậy khả năng hoạt động thể lực có thể biểu hiện nhiều khía
cạnh khác nhau và có thể phát triển các mặt khác nhau của nặng lực hoạt động
thể lực gọi là các tố chất vận động. Các tố chất vận động hay các tố chất thể
lực gồm các tố chất chủ yếu là: Sức mạnh, sức nhanh, sức bền, khéo léo (Khả
năng phối hợp vận động).
- Khái niệm về phát triển thể chất:
+ Thể chất là hình thái chức năng của cơ thể.
+ Phát triển là sự vận động, sự thay đổi.
Phát triển thể chất là sự thay đổi về kích thước, chức năng cơ thể diễn
ra trong suốt cuộc đời, sự phát triển thể chất biểu hiện ra bên ngoài như thay
đổi về chiều cao, cân nặng, thay đổi về hình thái kích thước cơ thể, thay đổi
khả năng vận động như các tố chất: Nhanh, mạnh, bền…
Sự phát triển thể chất diễn ra dưới sự ảnh hưởng của 3 nhân tố: Bẩm
sinh di truyền, môi trường, giáo dục.
Sự phát triển thể chất trước hết là quá trình tự nhiên, nó tuân thủ những
quy luật tự nhiên, quy luật sinh học (quy luật phát triển theo lứa tuổi, giới
tính). Sự phát triển ấy do gen quy định (bẩm sinh, di chuyền). Những quy luật
thay đổi về hình thái dẫn đến sự thay đổi về chức năng, sự thay đổi về số
lượng dẫn đến sự thay đổi về chất lượng, yếu tố bẩm sinh di truyền là tiền đề
vật chất cho sự phát triển.
Nhưng sự phát triển thể chất của con người chịu sự chi phối của xã hội,
phải hiểu sức khỏe ở đây là sức khỏe của cơ thể, sức khỏe tinh thần và chỉ có
thể dục thể thao mới cho con người ta sức khỏe như vậy”. [Trích lời của cố
thủ tướng Phạm Văn Đồng ]
Giáo dục thể chất dược chia thành hai mặt chuyên biệt: Dạy học động
tác và giáo dục tố chất vận động, như vậy có thể định nghĩa giáo dục thể chất
là loại hình giáo dục có nội dung đặc thù là dạy học động tác và giáo dục tố
chất vận động. [7],[10],[20]
- Khái niệm giáo dưỡng thể chất
- Giáo dưỡng thể chất là quá trình tiếp thu và truyền thụ có hệ thống
những cách thức điều khiển hợp lý sự vận động của con người qua đó sẽ hình
thành những kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản cần thiết và những hiểu biết có
liên quan (hay còn gọi là dạy học động tác).[20]
1.4.2. Đặc điểm phát triển tố chất sức mạnh
Sức mạnh của con người là khắc phục lực đối kháng bên ngoài hoặc đề
kháng lại nó bằng sự nỗ lực cơ bắp, cơ bắp có thể sinh ra trong các trường
hợp sau:
- Không thay đổi độ dài của cơ ( chế độ tĩnh )
- Giảm độ dài của cơ ( chế độ khắc phục)
- Tăng độ dài của cơ.
Người ta chia sức mạnh làm 3 loại:
- Sức mạnh tối đa: Là sức mạnh lớn nhất có thể sinh ra khi co cơ.
- Sức mạnh nhanh: Là sức mạnh khắc phục các lực cản bằng sự co cơ
nhanh của các cơ.
- Sức mạnh bền: Năng lực chống lại mệt mỏi của cơ thể trong hoạt
động sức mạnh kéo dài.
Khi số lượng sợi cơ co là tối đa, các sợi cơ co theo chế độ co cứng và
chiều dài ban đầu của sợi cơ là tối ưu thì cơ sẽ co với lực tối đa, lực đó gọi là sức
mạnh tối đa thường đạt được trong cơ co tĩnh. Sức mạnh tối đa phụ thuộc vào số
Các hình thức đơn giản của sức nhanh tương đối độc lập với nhau. Đặc
biệt những chỉ số về thời gian phản ứng vận động hầu như không tương quan
với tốc độ động tác.
Tốc độ là khả năng thực hiện động tác trong thời gian ngắn nhất. Yếu
tố quyết định của tốc độ là tính linh hoạt của quá trình thần kinh và tốc độ co
cơ. Theo quan điểm sinh lý, sức nhanh chính là thời gian phản ứng vận động
gồm 4 phần:
- Xuất hiện hưng phấn trong cơ quan cảm thụ
- Dẫn truyền vào hệ thần kinh trung ương
- Truyền tín hiệu từ hệ thần kinh trung ương tới cơ.
- Hưng phấn cơ vào hoạt động tích cực
Trong đó, giai đoạn thứ 3 chiếm nhiều thời gian nhất những động tác
được thực hiện với tốc độ tối đa, khác hẳn với động tác chậm về đặc điểm
sinh lý. Sự khác biệt cơ bản thể hiện ở chỗ khi thưc hiện với động tác tối đa
thì khả năng điều chỉnh cảm giác trong tiến trình thực hiện động tác chính
xác. Trong những động tác tốc độ to lớn, hoạt tính của cơ diễn ra trong thời
gian ngắn đến mức cơ không kịp co lại nhiều và thực tế cơ hoạt động theo chế
độ đẳng trương. Tần số động tác phụ thuộc vào tính linh hoạt của quá trình
thần kinh, phụ thuộc vào tốc độ chuyển trạng thái hưng phấn, ức chế của
trung khu vận động. Theo quan điểm sinh học, sức nhanh phụ thuộc vào hàm
lượng ATP dưới ảnh hưởng của xung động thần kinh cũng như vào tốc độ tái
tổng hợp đó. Về các bài tập diễn ra trong thời gian ngắn hơn nên quá trình
tổng hợp ATP hầu như được thực hiện theo cơ chế yếm khí.
Phương pháp cơ bản giáo dục sức nhanh là phương pháp tổng hợp, có
nghĩa là phải tập theo một hệ thống xen kẽ, các bài tập chuyên môn với các
trò chơi vận động và các môn bóng. Một phương pháp khác có hiệu quả là
phương pháp lặp lại bài tập sức mạnh tốc độ với trọng vật nhỏ và tay không,
với tốc độ gần tới hạn và tới hạn khối lượng vận động nhỏ, thời gian vận động