nghiên cứu đặc điểm phát triển phôi và hình thái cá bột của cá trê phú quốc clarias garcilentus - Pdf 30

1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN LÊ THỊ NGỌC HÂN
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN PHÔI
VÀ HÌNH THÁI CÁ BỘT CỦA CÁ TRÊ PHÚ QUỐC
Clarias garcilentus LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

Clarias garcilentus LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
TS. PHẠM THANH LIÊM

2014
3
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN PHÔI
VÀ HÌNH THÁI CÁ BỘT CỦA CÁ TRÊ PHÚ QUỐC

C, thời điểm phôi phân cắt đầu tiên
trong khoảng 1 giờ sau khi trứng thụ tinh. Giai đoạn phôi nang xuất hiện vào
khoảng 3 giờ 30 phút. Cuối gian đoạn phôi vị và đồng thời cũng bắt đầu giai đoạn
phôi thần kinh vào lúc 11 giờ 45 phút. Thời gian phát triển phôi của cá trê Phú
Quốc kéo dài khoảng từ 23 giờ 45 phút. Kết quả khảo sát sự biến đổi hình thái cá
bột của các trê Phú Quốc sau khi nở cho thấy ấu trùng mới nở màu nâu nhạt và có
chiều dài cơ thể là 4,5 ± 0,3 mm. Vào ngày tuổi thứ hai râu hàm dưới bắt đầu phát
triển. Bắt đầu xuất hiện sắc tố trên cơ thể, cơ thể có màu nâu nhạt, miệng đã cử
động được và xuất hiện thêm râu hàm, râu mép và hình thành vi bụng vào ngày
4
tuổi thứ ba. Sáu ngày sau khi cá nở cá có chiều dài cơ thể là 8,3 ± 0,5 mm, hình
thành vi ngực, cơ thể có màu nâu đen. Cá đã hết hoàn toàn noãn hoàng có thể ăn
các loài động vật phiêu sinh vào ngày thứ 9 và hình thành các cơ quan vận động
của cơ thể, có hình dạng của con trưởng thành khi cá được chín ngày tuổi.
1. GIỚI THIỆU
Trong những năm gần đây, nghề nuôi trồng thủy sản ở ĐBSCL có bước
phát triển mạnh mẽ, đem lại hiệu quả kinh tế to lớn cho đất nước.Vì vậy, việc
nghiên cứu thêm những đối tương nuôi mới có giá trị kinh tế cần phải được quan
tâm. Trong số đó thì cá trê Phú Quốc, Clarias gracilentus Ng, Dang & Nguyen,
2011 (Nguyễn Văn Tư và ctv, 2011a) là đối tượng nuôi mới, có giá tri kinh tế cao
và đang được nghiên cứu phát triển nuôi ở ĐBSCL hiện nay.
Cá trê Phú Quốc có đầu nhỏ, mặt lưng hơi cong, mặt bụng thẳng. Cá có
màu nâu đậm ở phần lưng và bên của đầu và thân, nhạt dần về phần bụng. Hai
bên thân cá có các hoa văn. Loài cá trê này sống theo các khe suối nước ngọt trên
đảo Phú Quốc, có tính hung dữ và hoạt động nhanh nhẹn hơn nhiều so với các
loài cá trê thường biết (Nguyễn Văn Tư và ctv, 2011b). Cá trê Phú Quốc có chất
lượng thịt ngon, thị trường đang có nhu cầu ngày càng tăng. Kết quả nuôi cá
thương phẩm cho thấy cá trê Phú Quốc là loài dễ nuôi, tăng trưởng nhanh và phát
triển tốt với thức ăn viên công nghiệp, chi phí đầu vào không cao, các mô hình
nuôi đều đạt năng suất và mang lại hiệu quả kinh tế. Với những ưu điểm kể trên,

29 – 31
0
C.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
Quá trình phát triển phôi và hình thái cá bột của cá trê Phú Quốc được
quan sát và ghi nhận bằng bằng máy ảnh kỹ thuật số (Leica DC100) trên kính
hiển vi (Kruss, Germany) và được vẽ lại chi tiết.
2.3.1. Quan sát sự phát triển phôi
Một mẫu 40-50 trứng sau thụ tinh được cho vào một đĩa Petri và vào cùng
khay ấp trứng để quan sát quá trình phát triển phôi. Cách 10 phút, mẫu trứng lấy
ra và quan sát dưới kính hiển vi. Sau khi quan sát, mẫu trứng được đặt trở lại
khay ấp trứng. Ghi nhận lại hình ảnh của phôi và thời điểm xuất hiện các giai
đoạn phát triển. Quan sát trứng trên đĩa Petri từ 40 – 50 trứng. Đồng thời thu các
chỉ tiêu về môi trường như nhiệt độ, pH, oxy hòa tan… tại các thời điểm quan sát.
2.3.2. Quá trình biến đổi hình thái ca cá bt
Cá bột 8 ngày tuổi được bố trí vào thùng nhựa (100 lít) với mật độ 10
con/lít và cho ăn Moina (với mật độ mồi là 500 con/lít). Từ ngày thứ 15 cá được
cho ăn bằng trùn chỉ cho đến khi kết thúc quá trình quan sát với khẩu phần ăn
thỏa mãn nhu cầu cá bột. Định k thay nước 3 ngày/lần, các yếu tố về môi trường
như nhiệt độ, pH, oxy hòa tan được theo di 1 lần/ngày.
Mẫu cá đã được thu vào các ngày tuổi 1; 2; 3; 4; 5; 6; 7; 8; 9; 10; 12; 14;
17; 20; 25 và 30. Mỗi lần thu 10 mẫu để đo các chỉ tiêu như chiều dài cơ thể, kích
thước noãn hoàng; quan sát thời gian xuất hiện các cơ quan của cơ thể và quá
trình biến đổi hình thái của cá bột.

6
2.4. Xử lý số liệu
Số liệu được xử lý và trình bày dưới dạng số trung bình ± độ lệch chuẩn.
Thời gian phát triển phôi và xuất hiện biến đổi hình thái được xác định bằng thời
điểm tại đó 50% số cá thể quan sát đạt đến giai đoạn phát triển mới.

31
Đĩa mầm (Hình 1 )
1h
30,8
2 tế bào(Hình 2 )
1giờ 15 phút
30,8
4 tế bào (Hình 3)
1 giờ 26 phút
30,7
8 tế bào (Hình 4)
1 giờ 45 phút
30,5
16 tế bào (Hình 5)
2 giờ 10 phút
30,3
32 tế bào (Hình 6)
2 giờ 40 phút
30,3
Nhiều tế bào (Hình 7): Sự phân chia liên tiếp xảy
ra, phôi bào đã được giảm kích thước và giai đoạn
phôi nang đã đạt được.
3 giờ 30 phút
30
Phôi nang cao (Hình 8): Ở giai đoạn này các tế bào
của phôi bắt đầu lan rộng trên khối noãn hoàng của
7
trứng hình thành một lớp dầy.
4 giờ 20 phút
29,8

Hình 1: Hình thành đĩa mầm Hình 2: 2 tế bào Hình 3: 4 tế bào

Hình 4: 8 tế bào Hình 5:16 tế bào Hình 6: 32 tế bào
8

Hình 7: Nhiều tế bào Hình 8: Phôi nang cao Hình 9: Phôi nang thấp

sau khi thụ tinh.
3.2 Hình thái cá bt
Đặc điểm phát triển của cá bột cá trê Phú Quốc theo ngày tuổi được ghi
nhận và mô tả trong Bảng 2 và Bảng 3và thời gian
Bảng 2: Các chỉ tiêu thu mẫu
Chỉ tiêu
Chiều dài cá
(mm)
Chiều ngang
noãn hoàng (mm)
Chiều cao
noãn hoàng
(mm)

Ngày tuổi
0
4,5 ± 0,3
2,4 ± 0,2
2,2 ± 0,2
1
6,0 ± 0,4
2,3 ± 0,2
1,9 ± 0,2
2
7,1 ± 0,5
2,0 ± 0,2
1,7 ± 0,2
12
10,6 ± 1,0 14
11,2 ± 1,0 17
12,6 ± 1,0 20
13,5 ± 1,0 25
14,9 ± 1,0 30
21,8 ± 1,0

phát triển ở giai đoạn này. Các sắc tố tối vẫn
chưa xuất hiện. Các ấu trùng hội tụ trong một
cụm và bơi liên tục. Hình 16: Cá 2 ngày tuổi
Ngày thứ hai sau khi ấu trùng nở, độ dài trung
bình của ấu trùng là 7,1 ± 0,5 mm. Đôi mắt đã
có sắc tố đen, kích thước noãn hoàng vẫn còn
rất to 2,0 x 1,7 mm, miệng đã được nhận thấy
trong các khu vực phía trước. Râu hàm dưới bắt
đầu phát triển ở giai đoạn này. Ở giai đoạn này,
đa số các ấu trùng đã hoạt động mạnh và
chuyển xuống đáy, rất nhạy cảm với ánh sang.
Hình 17: Cá 3 ngày tuổi Khi ấu trùng được ba ngày tuổi, độ dài trung
bình của ấu trùng là khoảng 7,4 ± 0,5 mm, bắt
đầu xuất hiện sắc tố trên vùng đầu, mặt bụng
của bên dây sống và lưng của cơ thể, cơ thể có

thành.

Các hoạt động và bắt giữ con mồi bằng cách ấu trùng đã được nhận thấy
khi nó đạt chiều dài trung bình 9,0 ± 1,0 mm từ ngày thứ 8 trở đi. Cá trê Phú
Quốc là một loài thích hợp cho nuôi quy mô nhỏ và nuôi trồng thủy sản thương
mại. Cá hết noãn hoàng khi được chín ngày tuổi. Đây là loài có kính thước noãn
hoàng khá lớn và thời gian hết noãn hoàng dài. Chiều dài cá bột khi đạt 30 ngày
tuổi là 21,6 mm. Kích thước cá con khá lớn thích hợp cho việc thả nuôi thương
phẩm.
4. KẾT LUẬN
- Kích thước trứng cá trê Phú Quốc trước khi thụ tinh là 1,8 ± 0,2 mm và
sau khi thu tinh là 1,9 ± 0.1 mm
- Thời gian phát triển phôi của cá trê Phú Quốc ở nhiệt độ 29 – 31
o
C là 23
giờ 45 phút.
- Cá bột mới nở có chiều dài là 4,5 mm với kích thước khối noãn hoàng là
2,4 mm theo chiều dài và 2,2 mm theo chiều cao.
- Cá hấp thụ hoàn toàn khối noãn hoàng, và bắt đầu lấy thức ăn bên ngoài
vào ngày tuổi thứ 9. Thời điểm này, cá đã hoàn chỉnh các cơ quan vận
động và có hình dạng như cá trưởng thành với chiều dài cơ thể đạt 9,2 ±
1,0 mm,. 12
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Arockiaraj AJ, Haniffa MA, Seetharaman S, Sing SP (2003) Early
Development of a Theatened Freshwater Catfish Mystus montanus (Jerdon). Acta
Zoologica Taiwanica 14, 23-32.
2. Banerji SR (1974) Hypophysation and life history of Channa punctatus

Phạm Gia Điệp và Đặng Khánh Hồng, 2011. Nghiên cu bưc đu v đc đim
sinh hc ca c trê Ph Quc (Clarias gracilentus Ng, Dang & Nguyen, 2011).
10. Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm, 2009. Cơ sở khoa học và kỹ thuật
sản xuất cá giống. Nhà xuát bản nông nghiệp, tp.Hồ Chí Minh, 2009.
11. Bhuvaneswari, Kasi Marimuthu, Ramasamy Karuppasamy, Mohamed
Abdulkader Haniffa (2009) Early embryonic and larval development of Indian
catfish, Heteropneustes fossilis. EurAsia J BioSci 3, 84-96.
13
12. Thakur NK, Pal RN, Khan HA (1974) Embryonic and larval development of
Heteropneustes fossilis (Bloch). Journal of the Inland Fisheries Society of India 6,
33-44.
13. Thakur NK (1980) Notes on the embryonic and larval development of an air-
breathing catfish Clarias batrachus (Linn). Journal of the Inland Fisheries
Society of India 12, 30-43.
14. Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993. Định loại c nưc ngt
vùng đồng bằng Sông Cửu Long. Khoa Thủy sản - Trường Đại học Cần Thơ, 361
trang.
15. Zaki MI, Abdula A (1983) The reproduction and development of Clarias
gariepinus (Claridae) from Lake Manzala (Egypt). Journal of Ichthyology 23,
48-58.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status