Vận dụng trò chơi học tập trong dạy học lịch sử lớp 4 - Pdf 37

Trường đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Giáo dục Tiểu học

LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên trong khóa luận này, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô
giáo – PGS.TS Nguyễn Thị Thấn, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ
em trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo khoa Giáo dục Tiểu học –
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã dạy bảo, tạo điều kiện cho em trong quá
trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu cùng các thầy, cô giáo
trường tiểu học Thành Công B và trường tiểu học Dịch Vọng B đã nhiệt tình
tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình nghiên cứu, điều tra, thực
nghiệm và hoàn thành khóa luận.
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè – những người đã
cổ vũ, động viên em trong suốt thời gian qua.
Do năng lực và thời gian nghiên cứu có hạn nên bản khóa luận này
không tránh khỏi những thiếu sót, sơ suất. Vì vậy, em rất mong nhận được sự
góp ý của thầy cô và các bạn để khóa luận thêm hoàn thiện.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Sinh viên

Mai Thị Thúy Nga

Khóa luận tốt nghiệp

Mai Thị Thúy Nga



Trường đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Giáo dục Tiểu học

DANH MỤC BIỂU BẢNG VÀ BIỀU ĐỒ
Biểu bảng

Tên bảng

Trang

Bảng 1

Kết quả thăm dò mức độ sử dụng các hình thức dạy học phần
Lịch sử

22

Bảng 2

Kết quả thăm dò quan niệm về vai trò của TCHT

23

Bảng 3

Kết quả thăm dò về mục đích sử dụng TCHT

23



27

Bảng 9

Kết quả thăm dò các điều kiện đảm bảo cho việc sử dụng
TCHT trong dạy học Lịch sử lớp 4

28

Bảng 10

Kết quả thăm dò những biện pháp phổ biến rộng rãi sử
dụng TCHT vào dạy học phần Lịch sử

29

Bảng 11

Mức độ hứng thú với phần Lịch sử của HS tiểu học

30

Bảng 12

Mức độ GV sử dụng TCHT phần Lịch sử qua điều tra HS

30

Bảng 13

Khóa luận tốt nghiệp

Mai Thị Thúy Nga


Trường đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Giáo dục Tiểu học

lớp ĐC
Bảng 18

Kết quả kiểm tra sau TN bài 19 của lớp TN và lớp ĐC

75

Bảng 19

Đánh giá kết quả kiểm tra sau TN bài 19 của lớp TN và
lớp ĐC

75

Bảng 20

Thống kê tổng điểm trung bình cộng của lớp TN và lớp
ĐC

75


Khóa luận tốt nghiệp

Mai Thị Thúy Nga


Trường đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Giáo dục Tiểu học

A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục Tiểu học là những viên gạch nền móng của ngôi nhà giáo dục
quốc dân. Cấp Tiểu học là cơ sở ban đầu rất quan trọng trong việc giáo dục
nhân cách của học sinh. Bước vào trường tiểu học, học sinh được hình thành
cách học với hệ thống kĩ năng cơ bản tạo thành năng lực học tập của các em,
năng lực này tạo ra năng lực khác. Chính vì vậy ngay từ cấp học này, chúng ta
phải dạy cho học sinh biết cách tư duy, sáng tạo, tự mình chiếm lĩnh tri thức
bằng hoạt động của mình. Vì vậy người giáo viên phải tổ chức quy trình dạy
học theo hướng tích cực, thiết kế những hoạt động học tập theo phương châm
“Thầy thiết kế - trò thi công” giúp các em tiếp thu kiến thức một cách dễ dàng
và phát triển các năng lực một cách tự nhiên.
Ngày nay, giáo dục phát triển toàn diện cho học sinh là vấn đề được
quan tâm hàng đầu. Vì thế mà ở cấp tiểu học cùng với Toán và Tiếng Việt các
môn học khác cùng không kém phần quan trọng đặc biệt là môn lịch sử.
Những kiến thức lịch sử thế giới, lịch sử dân tộc từ cổ đến kim có tác dụng
không chỉ đến trí tuệ mà cả trái tim học sinh. Những con người thực, việc
thực trong quá khứ sẽ khơi dậy trong học sinh những tư tưởng tình cảm đúng
đắn, xây dựng hành trang cần thiết cho thế hệ trẻ trong điều kiện hội nhập với
thế giới. Như chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói:
“Dân ta phải biết sử ta

dung dạy học Lịch sử chưa gây được hứng thú cho đa số học sinh.
Nhà sử học Xô viết Patusô đã khẳng định: “Muốn đào tạo con người
phù hợp với thời đại, chúng ta cần phải không ngừng cải tiến và nâng cao chất
lượng dạy học lịch sử. Để nâng cao được kết quả dạy học lịch sử thì giáo viên
phải khơi dậy hứng thú học tập của học sinh khi học tập Lịch sử”. Khổng Tử
từng dạy học trò rằng: “Biết mà học không bằng thích mà học, thích mà học
không bằng vui say mà học”. Vì vậy một trong những biện pháp để tạo hứng
thú học tập cho các em là sử dụng trò chơi học tập. Trò chơi là một phương
pháp rất phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh Tiểu học. Trò chơi
thực sự là một phương pháp hữu hiệu để tạo ra sự hài hòa, không khô cứng
trong môn học lịch sử và giúp phát huy tính tích cực nhận thức, học sinh được
“học mà vui, vui mà học”. Qua trò chơi học sinh tiếp thu kiến thức lịch sử
một cách nhẹ nhàng, tự nhiên, giờ học sinh động hơn, nhờ đó các em có thể
hiểu và ghi nhớ kiến thức lịch sử sâu sắc hơn.

Khóa luận tốt nghiệp

2

Mai Thị Thúy Nga


Trường đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Giáo dục Tiểu học

Hiện nay việc vận dụng trò chơi học tập vào dạy học không phải vấn đề
mới mẻ, song chưa được thường xuyên và chưa đạt kết quả cao. Mặt khác các
nguồn tư liệu giúp giáo viên thiết kế, xây dựng các trò chơi còn ít.
Từ những lí do trên chúng tôi chọn đề tài: “Vận dụng trò chơi học tập


Trường đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Giáo dục Tiểu học

6. Phạm vi nghiên cứu
- Thiết kế trò chơi học tập phân môn lịch sử lớp 4.
- Phạm vi điều tra:
+ Giáo viên trường tiểu học ở thành phố Hà Nội và một số tỉnh như
Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Hưng Yên.
+ Học sinh lớp 4 trường tiểu học Thành Công B và Dịch Vọng B
- Phạm vi thực nghiệm: Học sinh lớp 4 trường Tiểu học Thành Công B.
7. Phương pháp nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Đọc và nghiên cứu, tổng kết các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên
cứu để làm sáng tỏ cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng trò chơi học
tập ở tiểu học.
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra anket trên đối tượng giáo viên và học sinh: Điều
tra thực trạng sử dụng trò chơi học tập trong dạy học lịch sử lớp 4 ở trường
tiểu học.
- Phương pháp quan sát sư phạm: Chúng tôi quan sát hoạt động dạy và
học của giáo viên và học sinh các trường tiểu học.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Xây dựng kế hoạch bài học và trực
tiếp dạy học ứng dụng tổ chức trò chơi trong giờ dạy một số bài lịch sử lớp 4.
- Phương pháp thống kê toán học: Sau khi thu thập các thông tin cũng như
số liệu liên quan chúng tôi tiến hành thống kê và xử lí các số liệu liên quan.
8. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận gồm 3 chương:

hướng đến sự tái tạo và lĩnh hội kinh nghiệm xã hội được ấn định trong các
phương thức tồn tại của các hành động vật chất, trong các đối tượng của khoa
học và văn hóa”. Qua trò chơi với tư cách là dạng hoạt động thực tiễn xã hội,
các tiêu chuẩn của cuộc sống và hoạt động của con người được tái tạo, việc
tuân thủ các tiêu chuẩn đó đảm bảo việc nhận thức và lĩnh hội hiện thực vật
chất và xã hội, đảm bảo sự phát triển trí tuệ, tình cảm và đạo đức nhân cách.
Theo quan điểm của tác giả Hà Nhật Thăng, trong cuốn “Tổ chức hoạt
động vui chơi ở Tiểu học nhằm phát triển tâm lực, trí tuệ, thể lực cho học
sinh”: “Trò chơi là hoạt động vui chơi mang một chủ đề, mang một nội dung
nhất định và có những quy định mà người tham gia phải tuân thủ”. [13, tr17]

Khóa luận tốt nghiệp

5

Mai Thị Thúy Nga


Trường đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Giáo dục Tiểu học

Như vậy, trò chơi có nội dung, tổ chức của nhiều người và có quy định,
luật lệ riêng. Nó mang ý nghĩa giáo dục, rèn luyện đối với người tham gia,
góp phần hình thành nên những phẩm chất nhân cách cho trẻ.
1.1.2 Khái niệm về trò chơi học tập
Các nghiên cứu về tâm lí học và giáo dục học trẻ em đưa ra khái niệm
trò chơi học tập như sau: Trò chơi học tập là trò chơi có luật và những nội
dung cho trước, là trò chơi của sự nhận thức, hướng đến sự mở rộng, chính
xác hóa, hệ thống hóa các biểu tượng đã có nhằm phát triển các năng lực trí


Trò chơi trong nhà thường thường là trò chơi tĩnh, ít di chuyển, không
cần không gian rộng,…
 Phân loại trò chơi theo thời gian chơi gồm có trò chơi nhỏ và trò
chơi lớn.
Trò chơi nhỏ là những trò chơi được tổ chức trong nhà hay trên bãi
nhỏ, ứng dụng trong sinh hoạt, học tập,… và thời lượng chơi rất ngắn chỉ
khoảng 5 – 10 phút.
Trò chơi lớn là những trò chơi được dàn dựng công phu dựa theo một
câu chuyện, một lịch sử, truyền thuyết. Cũng có khi dùng trò chơi lớn như
một cách ôn tập các kiến thức đã học. Trò chơi lớn được dàn dựng ở những
địa thế rộng lớn, được tổ chức từ vài giờ đến vài ngày, cá biệt có những trò
chơi dài đến hàng tháng.
Trong cuốn “Tổ chức hoạt động vui chơi ở tiểu học nhằm phát triển
tâm lực, trí lực và thể lực cho học sinh” của Hà Nhật Thăng lại đưa ra cách
phân loại trò chơi như sau: [13, tr26]
+ Trò chơi với đồ vật (hay trò chơi xây dựng)
Trẻ thường chơi với những vật thể đơn giản như cát, các hình khối, các mảnh gỗ
nhựa… hay với những đồ chơi, kể cả đồ chơi chuyển động (ô tô, tàu hỏa).
+ Trò chơi theo chủ đề:
Trò chơi theo chủ đề rất đa dạng, phù hợp với cuộc sống muôn màu,
muôn vẻ xung quanh bao gồm trò chơi sắm vai, trò chơi đạo diễn, trò chơi
đóng kịch. Các trò chơi có vai trò quan trọng trong sự hình thành nhân cách,
trong sự phát triển trí tuệ, đạo đức và thẩm mỹ của trẻ em.
+ Trò chơi vận động (hay trò chơi linh hoạt)
Đây là trò chơi có sự vận động của cơ bắp. Các trò chơi vận động cũng
có nội dung trí tuệ phong phú, đòi hỏi ở người chơi sự chú ý, nhanh trí, phản

Khóa luận tốt nghiệp


lịch sử của Việt Nam từ buổi đầu dựng nước cho đến triều Nguyễn (1858).
Bước đầu hình thành và rèn luyện cho học sinh các kĩ năng: quan sát sự
vật, hiện tượng, thu thập, tìm kiếm tư liệu lịch sử từ các nguồn khác nhau; nêu
thắc mắc, đặt câu hỏi trong quá trình học tập và chọn thông tin để giải đáp;
trình bày lại kết quả học tập bằng lời nói, bài viết, hình vẽ, sơ đồ…, vận dụng
các kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống.

Khóa luận tốt nghiệp

8

Mai Thị Thúy Nga


Trường đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Giáo dục Tiểu học

Từng bước phát triển ở học sinh những thái độ và thói quen: ham học
hỏi, tìm hiểu để biết về môi trường xung quanh, yêu thiên nhiên, đất nước, tôn
trọng và bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, văn hóa.
1.2.2 Nội dung phần Lịch sử lớp 4
Phần Lịch sử lớp 4 gồm có tất cả 29 bài được bố trí trong 35 tuần chia
như sau:
+ Phần bài học 29 bài, tương đương với 29 tiết của 29 tuần.
+ Phần ôn tập, kiểm tra cuối học kì I và cuối học kì II: 4 tiết
+ Dành cho dạy học lịch sử địa phương và dã ngoại: 2 tiết
Chương trình Lịch sử lớp 4 bao gồm những nội dung chính sau:
Phần thứ nhất, đề cập đến nội dung buổi đầu dựng nước và giữ nước (từ
khoảng 700 năm TCN đến 179 TCN) như: Nước Văn Lang, Nước Âu Lạc. Mục

hai sự kiện lớn: Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân và cuộc kháng chiến
chống quân Tống xâm lược lần thứ nhất.
Phần thứ tư, đề cập đến nội dung nước Đại Việt thời Lý (từ năm 1009
đến năm 1226) với những sự kiện tiêu biểu: dời đô ra Thăng Long; Lí Thánh
Tông đổi tên nước là Đại Việt; sự phát triển của đạo Phật; cuộc kháng chiến
chống Tống lần thứ hai. Mục đích của phần này là: giúp cho học sinh nắm
được các sự kiện từ năm 1009 đến năm 1226.
Phần thứ năm, đề cập đến nội dung nước Đại Việt thời Trần (từ năm
1226 đến năm 1400) với những sự kiện tiêu biểu: sự quan tâm của nhà Trần
tới sản xuất nông nghiệp; nêu một số sự kiện tiêu biểu về ba lần kháng chiến
chống quân Mông – Nguyên; sự suy tàn của nhà Trần. Mục đích của phần này
là: giúp cho học sinh nắm được các sự kiện từ năm 1226 đến năm 1400.
Phần thứ sáu, đề cập đến nội dung nước Đại Việt buổi đầu thời Hậu Lê
(thế kỉ XV) với những sự kiện tiêu biểu: khởi nghĩa Lam Sơn (tập trung vào
trận Chi Lăng) và nhà Hậu Lê được thành lập; sự phát triển của giáo dục, văn
học và khoa học thời Hậu Lê. Mục đích của phần này là giúp học sinh nắm
được một số sự kiện thế kỉ XV.
Phần thứ bảy, đề cập đến nội dung nước Đại Việt thế kỉ XVI – XVII.
Nội dung chính giai đoạn này được đề cập: Một vài sự kiện về sự chia cắt đất
nước; sơ lược về quá trình khẩn hoang Đàng Trong; miêu tả những nét cụ thể,
sinh động về ba thành thị: Thăng Long, Phố Hiến, Hội An để thấy sự phát
triển của thương nghiệp trong thời kì này. Mục đích của phần này là: giúp cho
học sinh nắm được một số sự kiện thế kỉ XVI – XVII.

Khóa luận tốt nghiệp

10

Mai Thị Thúy Nga


- Nước Văn Lang

kinh đô
- Các Vua

dựng nước

700 năm

- Nước Âu Lạc

Hùng, nước Văn

phong tục, tập quán riêng.

và giữ

TCN đến

Lang, đóng đô

- Đạt được nhiều thành tựu

nước

năm 179

Phong Châu –

như: đúc đồng (trống đồng),


Trung Quốc

anh dũng đấu tranh.

tranh giành

đến năm

đại phong kiến

thay nhau thống

- Có nhiều nhân vật và cuộc

lại độc lập

938

phương Bắc.

trị nước ta.

khởi nghĩa tiểu biểu như: Hai

- Khởi nghĩa Hai Bà

Bà Trưng, Bà Triệu.

Trưng (năm 40).


đô ở Cổ Loa.

đầu tiên đã được xây dựng.

năm 1009

- Cuộc kháng chiến

- Khi Ngô Quyền mất, đất

chống quân Tống

nước lâm vào thời kì loạn 12

xâm lược lần thứ 2.

sứ quân. Đinh Bộ Lĩnh là
người dẹp loạn, thống nhất đất
nước.

Khóa luận tốt nghiệp

11

Mai Thị Thúy Nga


Trường đại học Sư phạm Hà Nội



đô Thăng Long.

văn hóa, giáo dục, cuối triều

- Cuộc kháng chiến

đại vua quan ăn chơi xã ỉ nên

chống quân Tống

suy vong.

xâm lược lần thứ 2

- Đánh tan quân xâm lược nhà

(1075 – 1077).

Tống lần thứ 2.
- Nhân vật lịch sử tiêu biểu: Lý
Công Uẩn, Lý Thường Kiệt

5

Nước Đại

1226 –

- Nhà Trần thành

- Các nhân vật lịch sử tiêu
biểu: Trần Hưng Đạo, Trần
6

- Chiến thắng Chi

- Nhà Hồ, nước

Quốc Toản.
- 20 năm chống giặc Minh, giải

Việt buổi

Lăng.

Đại Ngu, kinh

phóng đất nước (1407 – 1428)

đầu thời

- Nhà Hậu Lê và

đô Tây Đô

- Tiếp tục xây dựng đất nước,

Hậu Lê

việc tổ chức quản lí

Thánh Tông.

Nước Đại

Thế kỉ XVI

học thời Hậu Lê.
- Trịnh Nguyễn

Việt thế kỉ

– XVII

phân tranh.

vong.

nhau giành quyền lợi, nhà Lê

- Cuộc khẩn hoang

- Triều Mạc.

suy vong, đất nước loạn lạc bởi

XVI - XVII

Khóa luận tốt nghiệp

12

- Nghĩa quân Tây

- Triều Tây Sơn.

- Thành thị phát triển.
- Nghĩa quân Tây Sơn đánh đổ

Sơn tiến ra Thăng

chính quyền họ Nguyễn, họ

Long (Năm 1786).

Trịnh.

- Nghĩa quân Tây

- Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng

Sơn tiến ra Thăng

đế, lãnh đạo nhân dân đánh tan

Long.

giặc Thanh.
- Bước đầu xây dựng đất nước.
- Các nhân vật lịch sử tiêu

8

- Xây dựng kinh thành Huế.

Phần Lịch sử lớp 4 trình bày lịch sử Việt Nam lần lượt theo các thời kì
lịch sử từ buổi đầu dựng nước cho đến giai đoạn đầu của triều nhà Nguyễn
(1858). Trong từng thời kì, chương trình giới thiệu các nhân vật, các sự kiện
lịch sử, các thành tựu về văn hóa, khoa học tiêu biểu.
1.2.3 Đặc điểm của chương trình phần Lịch sử lớp 4
Một là, chương trình chọn yếu tố cốt lõi là hoạt động của con người và
những thành tựu của hoạt động trong không gian và thời gian. Vì vậy, chương
trình phần Lịch sử lớp 4 có nội dung cơ bản: Thời gian và tiến trình lịch sử
dân tộc; những hiểu biết cơ bản, ban đầu về một số sự kiện, hiện tượng và
nhân vật lịch sử điển hình; một số thành tựu văn hóa tiêu biểu đánh dấu sự
tiến triển của lịch sử dân tộc.

Khóa luận tốt nghiệp

13

Mai Thị Thúy Nga


Trường đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Giáo dục Tiểu học

Hai là, chương trình Lịch sử gắn với địa phương: Chương trình Lịch sử
4 dành 2 tiết để tìm hiểu lịch sử địa phương.
Phần Lịch sử lớp 4, không trình bày Lịch sử theo một hệ thống chặt chẽ
mỗi bài học là một sự kiện, hiện tượng hay nhân vật Lịch sử tiêu biểu điển
hình của một giai đoạn Lịch sử nhất định. Sự lựa chọn cấu trúc và mức độ nội

Trường đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Giáo dục Tiểu học

kiểu áp đặt, bắt học sinh phải nhớ, phải thuộc mà giáo viên trở thành người
thiết kế, người tổ chức định hướng các hoạt động cho các em, tạo điều kiện
cho các em được trực tiếp tiếp cận với đối tượng học tập, được tham gia hoạt
động vui chơi để từ đó rút ra tri thức của bài học, học sinh đóng vai trò chủ
thể của hoạt động nhận thức, các em tiếp nhận nhiệm vụ học tập thông qua
việc tham gia vào hoạt động vui chơi, qua sự tổ chức của giáo viên và rút ra
kết luận khoa học.
Tóm lại: Sử dụng hình thức trò chơi học tập vào trong dạy học phần
Lịch sử thực chất là việc chuyển giao nội dung kiến thức của bài học thành
các nhiệm vụ học tập thông qua cách chơi để tìm kiếm tri thức của bài học.
Trong lúc chơi các em sẽ không ý thức được là mình đang học mà các em sẽ
được thúc đẩy bằng động cơ vui chơi, cố gắng làm nhanh, làm đúng để thắng
cuộc. Bằng cách này trẻ sẽ tự mình giải quyết được các nhiệm vụ nhận thức
mà nội dung học tập được lồng vào nội dung thực hiện các trò chơi.
1.3 Vai trò của việc sử dụng trò chơi trong dạy học Lịch sử lớp 4
Nét tâm lí nổi bật ở lứa tuổi học sinh tiểu học là “Vừa học vừa chơi”.
Do vậy, khi sử dụng trò chơi học tập trong dạy học phần Lịch sử sẽ vừa thỏa
mãn nhu cầu tâm lý của trẻ vừa đạt được mục tiêu là nhằm hình thành, củng
cố, khắc sâu kiến thức ở mỗi bài học lịch sử.
Tổ chức trò chơi học tập sẽ nâng cao tính hấp dẫn, sự hứng thú, lôi
cuốn các em vào bài học. Từ đó các em cảm thấy say mê, phấn khởi khi học
Lịch sử. Qua việc tích cực tham gia các trò chơi, trẻ sẽ phát huy tính chủ
động, tích cực của mình trong giờ học. Trò chơi là một hình thức dạy học
thường được sử dụng trong quá trình dạy học để thực hiện một nhiệm vụ hoặc
giải quyết một vấn đề của bài học, muốn nhiều người tham gia. Vì vậy, sử
dụng hình thức trò chơi học tập sẽ động viên được nhiều HS tham gia vào bài

năng quan sát tốt, tinh thần đoàn kết giao lưu, tạo tính chủ động, tự tin, mạnh
dạn cho các em. Trẻ học được cách tuân thủ kỉ luật và luật chơi, kiên nhẫn
trong khi chơi, biết sáng tạo, linh động trước những nhiệm vụ mà trò chơi yêu
cầu… Những phẩm chất đó là tiền đề quan trọng để hình thành nhân cách của
những “nhà sử học” tương lai.
Như vậy, có thể nói việc sử dụng trò chơi học tập trong dạy học phần
Lịch sử có thể góp phần nâng cao hiệu quả dạy học Lịch sử. Trò chơi học tập
thực sự là “con đường dẫn trẻ tới việc nhận thức thế giới mà trẻ sống trong đó
và trẻ có nhiệm vụ thay đổi thế giới ấy” (M. Goorki).
1.4 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh tiểu học về việc sử dụng trò
chơi học tập trong dạy học Lịch sử
Khóa luận tốt nghiệp

16

Mai Thị Thúy Nga


Trường đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Giáo dục Tiểu học

Quá trình giáo dục nói chung bị chi phối bởi nhiều yếu tố, trong đó có
đặc điểm tâm lí của đối tượng giáo dục. Theo các nhà tâm lí, những đặc điểm
tâm lí của lứa tuổi học sinh làm thay đổi đáng kể hình thức và phương pháp
của hoạt động giáo dục. Do đó, để đạt được thành công khi vận dụng trò chơi
học tập trong dạy học phần Lịch sử lớp 4, chúng ta cần quan tâm đến các đặc
điểm tâm sinh lí của HS ở lứa tuổi này.
1.4.1 Về tri giác
Tri giác là quá trình nhận thức, phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc


có thể hoàn thành nhiệm vụ được giao. Các em thích hoạt động, thích học tập
trong môi trường hợp tác, thi đua, thân thiện. Do đó, nếu GV tổ chức quá
trình học tập có trò chơi học tập trong giờ Lịch sử thì dễ gây được chú ý,
hứng thú của học sinh.
Chú ý không chủ định là đặc điểm cơ bản của học sinh tiểu học. Chú ý
không chủ định của học sinh tiểu học phát triển nhờ những thứ mang tính mới
mẻ, bất ngờ, rực rỡ, khác thường dễ dàng lôi cuốn sự chú ý của các em, không
có sự nỗ lực của ý chí. Sự chú ý không chủ định càng trở nên mạnh mẽ khi
giáo viên sử dụng đồ dùng dạy học đẹp, mới lạ, ít gặp; sử dụng nhiều phương
pháp, hình thức dạy học đa dạng như trò chơi, dạy học theo nhóm thì sẽ gây
được chú ý của học sinh. Nhu cầu, hứng thú có thể kích thích và duy trì chú ý
không chủ định nên khi giáo viên tổ chức trò chơi thì giờ học sẽ hấp dẫn, tạo
nhu cầu, hứng thú, lôi cuốn sự chú ý của học sinh.
Học sinh tiểu học sự tập trung chú ý của các em còn yếu, thiếu bền
vững, chú ý của các em còn bị phân tán. Nhiều công trình nghiên cứu về chú
ý đã cho thấy, học sinh tiểu học thường chỉ tập trung chú ý liên tục trong
khoảng từ 30 đến 35 phút. Sự chú ý của học sinh tiểu học còn phụ thuộc vào
nhịp độ học tập: nhịp độ học tập quá nhanh hoặc quá chậm đều không thuận
lợi cho tính bền vững và sự tập trung chú ý. Vì vậy, khi học sinh tiểu học
không thể chú ý học tập được nữa thì giáo viên tổ chức trò chơi học tập, học
sinh tiểu học nào cũng thích được chơi nên trò chơi học tập sẽ khơi dậy lại sự
chú ý của các em, giúp các em hứng thú để chơi mà học.
1.4.3 Về trí nhớ
Trí nhớ là quá trình tâm lí phản ánh vốn kinh nghiệm của con người
dưới hình thức biểu tượng bằng cách ghi nhớ, giữ gìn, nhận lại và nhớ lại
những điều mà con người đã trải qua.
Trí nhớ có vai trò rất to lớn trong đời sống của con người: không có trí nhớ
thì không có kinh nghiệm, không có kinh nghiệm thì không có bất cứ một hoạt
Khóa luận tốt nghiệp

Do vậy, trò chơi học tập là phương pháp giúp các em có tâm thế vui vẻ, tích
cực trong việc tiếp nhận tri thức một cách thoải mái, tự nhiên.
1.4.4 Về tư duy
Tư duy là quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất,
những mối liên hệ và quan hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng mà trước
đó ta chưa được biết. Tư duy giúp con người hiểu biết sự vật, hiện tượng một
cách sâu sắc, chính xác, đầy đủ hơn.

Khóa luận tốt nghiệp

19

Mai Thị Thúy Nga


Trường đại học Sư phạm Hà Nội

Khoa Giáo dục Tiểu học

Học sinh giai đoạn cuối tiểu học đã có bước phát triển cao hơn về tư
duy. Các thao tác trí óc đã được hình thành và ngày càng trở nên hoàn thiện,
nhanh nhạy hơn, chính xác hơn. Học sinh cuối cấp học này có thể phân tích
các đối tượng mà không cần những hành động thực tiễn với đối tượng đó. Các
em có khả năng phân biệt những dấu hiệu, những khía cạnh khác nhau của đối
tượng dưới dạng ngôn ngữ. Khi hình thành khái niệm, học sinh hoàn toàn dựa
vào dấu hiệu phản ánh những mối liên hệ và quan hệ bản chất giữa các sự vật,
hiện tượng. Các em đã biết xếp bậc các khái niệm, phân biệt các khái niệm
rộng hơn, hẹp hơn…
Tư duy của HS ở giai đoạn này đang dần chuyển từ tư duy cụ thể sang
tư duy trừu tượng: phạm vi các sự vật cần nhận thức rộng hơn, các sự vật cần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status