Đề án Phân tích giá trị tài nguyên thiên nhiên để phát triển du lịch ở Phú Quốc - Pdf 37

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan đề án này là do tự bản thân thực hiện và không sao chếp các
công trình nghiên cứu của người khác để làm sản phẩm của riêng mình. Các thông
tin sử dụng trong đề án là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng. Em hoàn toàn
chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của đề án.

Sinh viên

Nguyễn Thu Trang


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài................................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu đề tài................................................................................1
3. Phạm vi nghiên cứu ...........................................................................................2
4. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................................2
5. Bố cục của đề án ................................................................................................2
PHẦN NỘI DUNG
1. NHẬN THỨC VỀ GIÁ TRỊ TÀI NGUYÊN DU LỊCH TỰ NHIÊN
1.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên ............................................................................3
1.1.1. Khái niệm tài nguyên du lịch tự nhiên .......................................................3
1.1.2. Phân loại tài nguyên du lịch tự nhiên ........................................................4

1.1.2.1 Địa hình .............................................................................................4
1.1.2.2 Tài nguyên khí hậu ............................................................................5
1.1.2.3 Tài nguyên nước ................................................................................6

3.1. Nhận xét ..........................................................................................................33
3.2. Kiến nghị ........................................................................................................34
KẾT LUẬN ..........................................................................................................37
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................38

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

UNWTO: Tổ chức du lịch thế giới
(The United Nations World Tourism Organization )


TW: Trung Ương
CSHTDL: Cơ sở hạ tầng du lịch
VQG: Vườn quốc gia


MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
“Phú Quốc được thiên nhiên ưu đãi là nằm gọn trong vùng biển trù phú nhất,
có điều kiện khai thác nguồn tài nguyên biển mà không một huyện nào ở nước ta
được thuận lợi như Phú Quốc”.(Trích dẫn bởi Trần Văn Huân, Huỳnh Phước Huệ,
Tiềm năng Phú Quốc xưa và nay, nhà xuất bản Thanh Niên, 1998).
Đây là lời nhận định của thủ tướng Võ Văn Kiệt. Trong một lần ông đã có dịp
về thăm đảo Phú Quốc. Đúng như tên gọi của mình, Phú Quốc là nơi làm giàu cho
Tổ quốc Việt Nam; là một vùng đất trù phú, chan hòa, một thắng cảnh nên thơ, một
nơi du lịch lý tưởng.
Với một vị trí địa lý vô cùng thuận lợi là nằm trong vùng biển trù phú nhất của
nước ta, Phú Quốc được xem như là ngư trường lớn nhất với trữ lượng hải sản dồi
dào nhất cả nước. Không những thế, thiên nhiên đã ban tặng cho hòn đảo này một

1. NHẬN THỨC VỀ GIÁ TRỊ TÀI NGUYÊN TỰ NHIÊN
1.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên
1.1.1. Khái niệm tài nguyên du lịch tự nhiên
Theo Luật Du lịch Việt Nam, 2005: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên
nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, công trình lao động sáng tạo của
con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu
du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch,
đô thị du lịch.”
Theo phó tiến sĩ Nguyễn Minh Tuệ cùng các tác giả trong cuốn địa lý du
lịch: “Tài nguyên du lịch tự nhiên là các đối tượng và hiện tượng trong môi trường
tự nhiên bao quanh chúng ta”.
Theo thạc sĩ Bùi Thị Hải Yến trong đề tài Tài nguyên du lịch Bắc Ninh với sự
phát triển du lịch bền vững: “Tài nguyên du lịch tự nhiên là các thành phần và các

6


tổng thể tự nhiên trực tiếp hoặc gián khai thác sử dụng để tạo ra sản phẩm du lịch,
phục vụ cho mục đích phát triển du lịch”.
Như vậy, tài nguyên du lịch tự nhiên là tổng thể tự nhiên các thành phần của
nó có thể góp phần khôi phục và phát triển thể lực, trí tuệ con người, khả năng lao
động và sức khỏe của họ và được dùng để phục vụ nhu cầu cũng như sản xuất dịch
vụ du lịch.
Các tài nguyên du lịch tự nhiên luôn gắn liền với điều kiện tự nhiên cũng như
là các điều kiện lịch sử - văn hóa và chúng được khai thác đồng thời với tài nguyên
du lịch nhân văn. Các thành phần tự nhiên có tác động mạnh đến du lịch là địa
hình, khí hậu, nguồn nước, tài nguyên động – thực vật.

1.1.2. Phân loại tài nguyên du lịch tự nhiên
1.1.2.1. Địa hình

Trên phạm vi thế giới, số khách đi du lịch biển thường chiếm số đông. Nhất
là các quốc gia ở vùng Địa Trung Hải.
Nước ta có đường bờ biển dài 3.260km với nhiều bãi tắm tốt (nhiều bãi biển
vẫn còn ở dạng sơ khai, chưa bị ô nhiễm) độ dốc trung bình từ 10-30 và một hệ
thống đảo ven bờ, trong đố một số đảo có giá trị về du lịch.
Theo đánh giá của các chuyên gia UNWTO, dải bờ biển có những bãi tắm
đẹp nhất nước ta kéo dài liên tục từ Đại Lãnh (dưới chân đèo Cả) và vịnh Văn
Phong cho đến Nha Trang. Đây là tiềm năng lớn để tại nên các khu du lịch biển có
thể cạnh tranh được với các khu du lịch biển của các nước trong khu vực (như
Pattaya – Thái Lan, Bali – Inđônêxia).

8


1.1.2.2. Tài nguyên khí hậu
Khí hậu cũng được coi là một dạng tài nguyên du lịch. Trong các chỉ tiêu về
khí hậu, đáng lưu ý nhất là hai chỉ tiêu: nhiệt độ và độ ẩm không khí. Ngoài ra còn
phải tính đến các yếu tố khác nhau như gió, áp suất khí quyển, ánh nắng mặt trời,
các hiện tượng thời tiết đặc biệt.
Điều kiện khí hậu có ảnh hưởng đến việc thực hiện các chuyến du lịch hoặc
hoạt động dịch vụ du lịch. Nhìn chung, những nơi có khí hậu ôn hòa thường được
du khách ưa thích. Những nơi có nhiều gió cũng không thích hợp với phát triển du
lịch. Mỗi loại hình du lịch thường đòi hỏi những điều kiện khí hậu khác nhau. Ví
dụ du khách đi nghỉ biển mùa hè thường chọn những dịp ít mưa, nắng nhiều nhưng
không gắt, nước mát, gió vừa phải. Như vậy, ở mức độ nhất định cần phải chú ý
đến những hiện tượng thời tiết đặc biệt làm cản trở đến kế hoạch du lịch. Đó là bão
trên các vùng biển, duyên hải, hải đảo, gió mùa đông bắc, gió tây khô nóng, lốc,
lũ… vẫn xảy ra ở nước ta.
Tính mùa của khí hậu ảnh hưởng rất rõ rệt đến tính mùa vụ trong du lịch. Các
vùng khác nhau trên thế giới có mùa du lịch khác nhau do ảnh hưởng của các yếu

ngày của con người.
Du lịch biển có nhiều điều kiện thuận lợi nhờ khí hậu bờ biển dịu mát cho
phép nghỉ ngơi dài ngày, nhờ bãi cát ven bờ vừa có thể tắm biển, lại vừa tắm
nắng… Trong tài nguyên nước cần phải nhắc đến tài nguyên nước khoáng, suối
nước nóng là tài nguyên quý để triển khai các loại hình du lịch, nghỉ dưỡng, tắm
khoáng, chữa bệnh.
10


1.1.2.4. Tài nguyên sinh vật
Tài nguyên sinh vật bao gồm toàn bộ các loài thực vật sống trên lục địa và
dưới nước vốn có sẵn trong tự nhiên và do con người thuần dưỡng, chăm sóc và lai
tạo.
Tài nguyên sinh vật vừa góp phần cùng với các loại tài nguyên khác tạo nên
phong cảnh đẹp, hấp dẫn, có ý nghĩa bảo vệ môi trường: bảo tồn các nguồn gen,
che phủ cho mặt đất, hạn chế hiện tượng xói mòn, xâm thực, rửa trôi, lở đất, lũ
quét, hạn chế được hiện tượng xâm thực, tác dụng tiêu cực của song thần, các vùng
ven biển. Thảm thực vật còn cung cấp chất mùn cho thổ nhưỡng, được coi là máy
điều hòa tự nhiên, lọc không khí, làm cho không khí thêm trong lành và mát mẻ.
Tài nguyên sinh vật còn là nguồn cung cấp cho nhiều loại dược liệu cho việc phát
triển loại hình du lịch chữa bệnh và an dưỡng.
Nguồn tài nguyên động – thực vật cùng với quang cảnh hài hòa của nó góp
phần quan trọng vào các mục đích phát triển du lịch khác nhau. Tiêu biểu như du
lịch ở các khu bảo tồn thiên nhiên, rừng tự nhiên, rừng nhân tạo, rừn phòng hộ …
Đối với đối tượng là các loài động, thực vật thì phát triển du lịch săn bắn, tham
quan, nghiên cứu khoa học, nghỉ dưỡng …
Tóm lại, việc khai thác tài nguyên sinh vật cho mục đích phát triển du lịch
phải đi đôi với việc nghiên cứu, bảo tồn theo quan điểm phát triển du lịch sinh thái
bền vững. Khi nghiên cứu bảo tồn và khai thác các tài nguyên sinh vật để phát triển
các loại hình du lịch cần tiến hành trong mối quan hệ biện chứng qua lại giữa các

khoáng được phát triển ở những vùng có các suối khoáng; du lịch lặn biển được tổ

12


chức ở các vùng biển có nhiều loại san hô, đa dạng sinh học cao, có nhiều loại thủy
sinh.
1.1.3.2. Ý nghĩa của tài nguyên du lịch tự nhiên
Có thể nói muốn tạo ra sản phẩm du lịch thì tài nguyên du lịch tự nhiên là
một trong những nguồn lực quan trọng hàng đầu. Quy mô và khả năng phát triển
du lịch của một địa phương hay một quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào số lượng,
chất lượng và sự kết hợp giữa các loại tài nguyên du lịch. Bên cạnh đó, việc khai
thác và bảo tồn tài nguyên du lịch tự nhiên có hiệu quả hay không phụ thuộc rất
nhiều vào đường lối, chính sách, việc quy hoạch, tổ chức quản lý các hoạt động
bảo tồn, tôn tạo tài nguyên, phát triển du lịch và phát triển kinh tế - xã hội.

1.1.4. Vấn đề bảo vệ tài nguyên du lịch tự nhiên
Ngày nay, việc khai thác và sử dụng tài nguyên du lịch tự nhiên cần phải đi
đôi với việc bảo vệ và giữ gìn. Bảo vệ tài nguyên du lịch tự nhiên có nghĩa là bảo
vệ môi trường sống cho hoạt động du lịch.
Do hoạt động nghỉ ngơi, du lịch rất nhạy cảm với sự nhiễm bẩn ngày càng gia
tăng của bầu khí quyển, nguồn nước,thổ nhưỡng, tiếng ồn, chấn động … những
ảnh hưởng xấu này có nguồn gốc chủ yếu từ sự phát triển công nghiệp và giao
thông. Vì thế bảo vệ tài nguyên du lịch tự nhiên là vấn đề thiết yếu ảnh hưởng tới
hoạt động nghỉ ngơi, du lịch.
Một điều cần lưu ý là du lịch cũng gây ảnh hưởng xấu đến điều kiện sống và
nghỉ ngơi. Tài nguyên du lịch có thể bị “ô nhiễm” nếu như chúng không được sử
dụng một cách hợp lý và đúng đắn.
Tóm lại, vấn đề bảo vệ môi trường tự nhiên là nhiệm vụ kinh tế - xã hội. Nó
không còn là vấn đề của riêng nhành du lịch, mà nó là vấn đề cần sự chung tay góp

Huyện đảo Phú Quốc là một huyện thuộc địa phận tỉnh Kiên Giang, trong đó
đảo Phú Quốc là hỏn đảo lớn nhất huyện đảo này.
Phú Quốc hay còn được mệnh danh là Đảo Ngọc, là hòn đảo lớn nhất nằm ở
phía Tây Nam Việt Nam, trải dài từ vĩ độ: 9°53′ đến 10°28′ vĩ độ bắc và kinh độ:
103°49′ đến 104°05′ độ kinh Đông. Đảo có dạng hình thoi, nằm theo hướng Bắc
Nam, đỉnh nhọn quay về phía xích đạo, diện tích 567km², chiều dài từ Bắc xuống
Nam là 52km, nơi hẹp nhất là 3km, nơi rộng nhất là 27km. Chu vi của đảo Phú
Quốc là 130km.
Đảo Phú Quốc cũng là đảo lớn nhất trong quần thể 22 đảo tại đây, nằm trong
vịnh Thái Lan. Đảo Phú Quốc cùng với các đảo khác tạo thành huyện đảo Phú
Quốc trực thuộc tỉnh Kiên Giang. Toàn bộ huyện đảo có tổng diện tích 589,23km²
(theo thống kê số liệu đất năm 2005), xấp xỉ diện tích đảo quốc Singapore. Thị trấn
Dương Đông, tọa lạc ở phía Tây Bắc, là thủ phủ của huyện đảo.
Phú Quốc nằm cách thành phố Rạch Giá 120km (62 hải lý) về phía Đông và
cách thị xã Hà Tiên 45km (26 hải lý) và cách đường lãnh hải Campuchia – Việt
Nam 4,5km (4 hải lý), cách thị xã du lịch Kép khoảng 30km, cách Thái Lan
khoảng 500km, Malaysia 700km, Singapore 1.000km. Đảo Phú Quốc còn nằm trên
đường hàng hải quốc tế Xianucvin (Campuchia) – thành phố Hồ Chí Minh,
Bangkok (Thái Lan) – thành phố Hồ Chí Minh và gần với tuyến hàng hải ngắn
nhất trong tương lai nối Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương qua bán đảo
Malaysia. Chính nhờ vị trí đặc biệt quan trọng này mà đảo Phú Quốc có vị trí rất
quan trọng và lợi thế trong giao lưu hàng hóa quốc tế.
Phú Quốc nằm trong vị trí khá hấp dẫn: từ Phú Quốc đi tỉnh Jak (Thái Lan) tàu
chạy hai mươi giờ. Tính đường hàng không, khoảng cách từ Phú Quốc đi Thành
phố Hồ Chí Minh tương đương với Phú Quốc đi Bangkok. Khoảng cách từ Phú

15


Quốc đi Singapore và khoảng cách từ Phú Quốc đi Malaysia gần hơn khoảng cách

Xã Gánh Dầu
Xá Cửa Dương
Xã Bãi Thơm
Xã Hòn Thơm
Xã Hàm Ninh
Xã Thổ Chu

2.2. Tài nguyên du lịch tự nhiên của huyện đảo Phú Quốc
16


2.2.1. Địa hình
Trên đảo Phú Quốc có 99 ngọn núi, các ngọn núi này phần lớn tập trung ở
Bắc đảo và rải rác vài ngọn ở phía Nam đảo. Nét chung nhất của địa hình đảo Phú
Quốc là núi thấp xen các đồng bằng nhỏ hẹp phân bậc. Địa hình thấp dần từ Bắc
xuống Nam, từ Đông sang Tây và có dạng bất đối xứng giữa bờ Đông và bờ Tây
đảo.
Dãy Hàm Ninh là dãy núi lớn nhất đảo, dãy này dài khoảng 30km, có thể
xem như một xương sống của đảo, nằm sát bờ Đông kéo dài từ Bắc xuống Nam
đảo với đỉnh cao nhất trong khối núi Chùa (cao khoảng 565m). Dãy núi có dạng
vòng cung ở phía Bắc và phía Đông dốc đứng có vách bậc rõ ràng, sườn phía Tây
thoải dần vế phía biển. Về mặt hình thái dãy Hàm Ninh còn kéo dài xuống tận mũi
Ông Đội, nhưng bị các hệ thống thung lũng cắt ngang tạo thành các khối núi riêng
biệt như: khối núi Suối Đá – Hàm Ninh bị cắt tách ra khỏi dãy Hàm Ninh bởi
thung lũng Cái Lớn – Dương Đông; thung lũng Cái Lấp,…
Dãy núi thứ hai là dãy Bãi Đại, Hàm Rồng, Núi Chảo có hướng kéo dài từ
Đông sang Tây nằm ở cực Bắc của đảo, với các đỉnh cao như: Núi Chảo có độ cao
khoảng 382 m, Hàm Rồng có độ cao khoảng 366 m và tới mũi Gành Dầu chỉ còn
khoảng độ cao chỉ còn khoảng 200m.
Tính bất đối xứng của dãy núi này thể hiện rõ ở sườn Bắc và sườn Nam.

núi sa thạch có địa hình dốc khác nhau từ 3 đến 25, phân bố rãi rác trên đảo, song
tập trung nhiều trên địa bàn xã Dương Tơ. Tầng dày khác nhau, trên sườn thoải 3 –
8 phần lớn có tầng dày trung bình từ 50 cm đến 100cm. Từ 8 trở lên đất có tầng
dày từ 50 – 70cm là chủ yếu, còn sườn dốc 15 – 25phần lớn có tầng dày mỏng dưới

18


50cm. Đất màu xám vàng. Thành phần cơ giới chủ yếu là cát pha. Đất có phản ứng
chua, nghèo mùn, nghèo dinh dưỡng, độ khoáng hóa cao.
Nhìn chung, Phú Quốc là một đảo lớn, có đầy đủ điều kiện phát triển đất. Đá
hình thành đất là đá cát kết có thành phần cơ giới nhẹ. Trên đồi núi đất cát pha có
tầng dày trung bình 50 – 70cm. Đất nhẹ, khả năng giữ nước và các chất dinh dưỡng
kém. Tuy nhiên, kết hợp với các điều kiện tự nhiên khác, đất ở Phú Quốc có nhiều
khả năng trồng cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả ở những nơi có độ dốc nhỏ
hơn 15, còn lại thuận lợi cho phát triển rừng. Phú Quốc là hòn đảo đa dạng về đất
đai nên rất thuận lợi cho các loài thực vật phát triển, đặc biệt là những cánh rừng
già nguyên sinh. Vì vậy, Phú Quốc có thể phát triển các loại hình du lịch khám phá
mạo hiểm, nghiên cứu….
Đối với đảo Phú Quốc nên cần nhấn mạnh dạng địa hình bờ biển quanh đảo,
bờ biển có chiều dài khoảng 150 km với những bãi biển đẹp như bãi Vũng Bầu, bãi
Trường, bãi Sao, bãi Khem,… Phần lớn những bãi biển bao quanh đảo Phú Quốc
thì khá cạn, thuận lợi cho hoạt động tắm biển. Tuy nhiên, riêng ở khu vực quần đảo
An Thới, phía Tây đảo Phú Quốc biển sâu đột ngột, tàu thuyền lớn có thể ra vào
đảo dễ dàng, rất thuận lợi cho việc xây dựng các hải cảng lớn.
Điều đặc biệt là nước biển ở đây trong tới đáy, chỗ thì nông, chỗ thì sâu.
Đứng từ trên cao nhìn xuống nước biển có một màu xanh nhạt như ngọc thạch, có
nơi thì xanh biếc như ngọc bích, bờ biển đảo Phú Quốc cát phẳng lì, chạy dài trông
rất đẹp.
Cát ở đảo Phú Quốc phần lớn là cát trắng. Chúng phân bố rộng rãi ở những

Vông - Ngang tạo thành một dải Bắc - Nam trong quần đảo An Thới. Đá hơi uốn
20


lượn, có phương Bắc - Nam hoặc gần Bắc - Nam và luôn cắm về Tây với góc dốc
10-20. Các lớp đá ở các đảo Hòn May Rút Trong, Hòn Kim Quy, Hòn May Rút
Ngoài, Hòn Dơi có dạng vòm, góc cắm chỉ khoảng 10-15.
Tại những đảo nhỏ ở phía Nam quần đảo An Thới, cát kết ở Hòn Gầm Ghì
có góc cắm khoảng 15 về Đông; còn ở Hòn Xưởng, Hòn Tranh gần như nằm
ngang. Những góc cắm và đường phương của cát kết thể hiện trên dạng địa hình
cùng như sự sắp xếp các đảo ở quần đảo An Thới.
- Quần đảo Thổ Châu (Thổ Chu) nằm cách đầu mút phía Nam đảo Phú Quốc
khoảng 100 km về Tây Nam. Quần đảo này có tổng diện tích khoảng 1.400 ha, bao
gồm 8 đảo có diện tích lớn nhỏ khác nhau là Thổ Chu, Hòn Khô, Hòn Hàng (còn
có tên là Hòn Chim, Hòn Nhạn), Hòn Kèo Ngựa (còn gọi là Hòn Xanh), Hòn Từ,
Hòn Cao và hai đảo cuối cùng là Hòn Cao Cát và Hòn Mô (còn gọi là Hòn Cái
Bàn) nằm hơi cách biệt khoảng 50 km về phía Đông Bắc đảo Thổ Chu.
Nằm trong hệ thống quần đảo Thổ Chu thì đảo Thổ Chu có diện tích lớn
nhất. Các đảo thuộc quần đảo Thổ Chu đều hình thành bởi cát kết xen ít bột kết,
sạn sỏi kết. Trên tổng thể chúng bị uốn lượn nhẹ và gần như nằm ngang Chiều cao
trung bình của đảo khoảng 150 m. Vách bao quanh, bờ biển dốc đứng. Phú Quốc
có điều kiện thuận lợi về địa hình bờ biển cạn , nước biển thì trong và sạch nên dễ
dàng phát triển loại hình du lịch như tắm biển, lặn ngắm san hô…
Nhìn chung, huyện đảo Phú Quốc là một huyện đảo có địa hình đa dạng, núi
đồi xen lẫn đồng bằng, địa hình biển đảo và có nhiều bãi biển đẹp. Chính vì thế mà
huyện đảo này có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội. Đăc biệt ở
huyện đảo có nhiều tiềm năng về tài nguyên du lịch tự nhiên hấp dẫn và hứa hẹn
nơi đây sẽ là điểm du lịch kỳ thú, thiên đường du lịch thu hút không những khách
du lịch nội địa mà còn khách du lịch quốc tế.


đạt khoảng 14 - 15Kcal/cm2 tháng.
Mỗi năm có khoảng 2340 giờ nắng, tất cả các tháng trong năm đều có trên
120 giờ nắng. Do nằm tương đối gần xích đạo, biến trình năm của giờ nắng mặc dù
mờ nhạt nhưng vẫn có dạng 2 cực đại và 2 cực tiểu. Cực đại chính rơi vào tháng 3,
đạt khoảng 270 giờ nắng/ tháng (tức là mỗi ngày có khoảng 8,7 giờ nắng); cực đại
phụ rơi vào tháng 7 chỉ đạt khoảng 158 giờ/ tháng (tức có khoảng 5,1 giờ nắng/
ngày). Hai cực tiểu là vào tháng 6 và 8, mỗi tháng chỉ có 126 – 128 giờ nắng (tức
chỉ 4,1 – 4,3 giờ nắng/ ngày). Vào mùa mưa tương đối ít nắng (tháng 6 đến tháng
11), còn vào mùa khô lại rất nhiều nắng (từ tháng 12 đến tháng 5 năm sau), mỗi
tháng đều có trên 200 giờ nắng.
Ngược lại với giờ nắng, lượng mây tổng quan trung bình năm ở đây đạt trị số
tương đối thấp và cũng phân bố theo hai mùa và không trùng với hai mùa gió.
Lượng mây tổng quan trung bình năm không nhiều, chỉ đạt 6,4/10 bầu trời. Vào
mùa mưa, trời tương đối nhiều mây (đạt 6,4 – 8,2/10 bầu trời). Trong khi đó vào
mùa khô trời quang, ít mây (chỉ đạt khoảng 4,4 – 5,6/10 bầu trời).
Như vậy, chế độ bức xạ, mây, nắng ở đảo Phú Quốc dồi dào và phân bố theo
hai mùa mưa và khô rõ rệt: mùa khô, bức xạ lớn, nhiều nắng, ít mây; còn mùa mưa
tương đối ít nắng và nhiều mây.
- Chế độ gió:
Chế độ gió ở Phú Quốc phản ánh rất rõ chế độ hoàn lưu chung của khu vực.
Mùa khô là mùa hoạt động của gió mùa đông bắc, gió thổi chủ yếu theo hướng
đông và đông bắc. Đầu mùa khô (tháng 11, 12) gió thổi theo hướng đông bắc với
tần suất 40 – 50%, còn gió đông chỉ chiếm 23 – 26%; sau đó (tháng 1 đến tháng 3)
gió chuyển sang thổi theo hướng đông với tần suất 35 – 40%. Giữa mùa mưa
23


(tháng 6 - 8) mùa hoạt động của hoàn lưu gió mùa tây nam, gió thổi chủ yếu theo
hướng tây với tần suất 40 – 47%, gió mùa tây nam với tần suất 20 – 27%. Các
tháng chuyển tiếp giữa hai mùa như các tháng 4, 5, 9, 10 gió thổi theo các hướng

không khí thay đổi rất ít trong năm và trong ngày. Giá trị biên độ nhiệt năm ở đây
rất nhỏ đạt khoảng 3, còn biên độ ngày đêm trung bình năm đạt khoảng 6,1. Vào
mùa mưa, tỷ số này tương đối thấp đạt từ 4,3đến 4,7; còn vào mùa khô thì biên độ
nhiệt ngày đêm lại tương đối cao, dao động trong khoảng 6,4 – 8,3.
Những giá trị cao nhất của nhiệt độ có thể lớn hơn 35 vào các tháng 1 – 5,
đạt trị số cao nhất vào tháng 3 (38,1) ở vùng dưới thấp, còn các tháng còn lại trong
năm (tháng 6 đến tháng 12) chỉ đạt 33 – 34. Ở các vùng cao trị số này ít khi vượt
quá 35. Những giá trị thấp nhất của nhiệt độ không xuống dưới 15 ở tất cả các
tháng trong năm, phần lớn dao động trong khoảng từ 16 – 22. Như vậy, chế độ
nhiệt ở đây điều hòa, nóng quanh năm ở những vùng thấp nhưng không có thời kỳ
quá nóng. Biên độ dao động nhiệt nhỏ trong năm cũng như trong ngày.
- Chế độ mưa ẩm:
Do điều kiện địa hình thuận lợi cho việc đón gió mùa tây nam nên đại bộ
phận lãnh thổ của đảo có chế độ mưa ẩm phong phú. Tổng lượng mưa năm lớn ở
bên sườn tây, sườn đón gió mùa tây nam dao động trong khoảng 2500 – 3000mm.
Còn bên sườn đông chỉ chiếm một phần nhỏ diện tích của đảo, không thuận lợi cho
việc đón gió mùa tây nam nên có lượng mưa năm thấp hơn ở sườn tây, tổng lượng
mưa năm trong khoảng 2200 – 2500mm.
Mùa mưa trên đảo Phú Quốc kéo dài 8 tháng (từ tháng 4 đến tháng 11) với
lượng mưa chiếm khoảng 93 – 94% tổng lượng mưa năm. Mùa ít mưa kéo dài 4
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status