Tiểu Luận: Sự Phân Cấp Tài Khóa Và Quy Mô Chính Phủ: Một Phân Tích Thực Nghiệm Ở Các Quốc Gia Châu Âu - Pdf 26

B


GIÁO D

C VÀ ĐÀO T

O

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM


Môn: TÀI CHÍNH CÔNG

Đề tài:
Sự phân cấp tài khóa và quy mô chính
phủ: Một phân tích thực nghiệm ở các
quốc gia Châu Âu.
GVHD: PGS TS. SỬ ĐÌNH THÀNH
NTH: Nhóm 8.
Lớp Ngân hàng - Đêm 2 – Khóa 22.

Danh sách nhóm

1

Tr

n Th



Đ

ng Th


Phương Trang
TPHCM, tháng 08 năm 2013.

MỤC LỤC

1. Giới thiệu 3
2. Các nghiên cứu thực nghiệm liên quan 5
3. Đặc tả và dữ liệu thực nghiệm 7
3.1 Phương pháp kinh tế lượng 8
3.2 Dữ liệu 9
3.2.1 Quy mô chính phủ 9
3.2.2 Sự phân cấp tài khóa 10
3.2.3 Biến kiểm soát 11
4. Tác động của phân cấp lên chi tiêu công. 12
5. Động lực ngắn hạn và dài hạn 16
5.1 Kết quả sơ bộ: đơn vị gốc bảng điều khiển và cùng hội nhập 16
5.2 Ảnh hưởng ngắn hạn và dài hạn của sự phân quyền 17
6. Kết luận 20
Sự phân cấp tài khóa và quy mô chính phủ: Một phân tích thực

kinh tế của chính phủ nhỏ hơn, trong trường hợp các yếu tố khác không đổi, phạm vi
rộng hơn thuế và tiêu dùng phi tập trung”. Mô tả chính phủ như người làm tối đa hóa thu
nhập, những tác giả này, lý thuyết lựa chọn công mới, tranh cải rằng thuế cơ bản thì di
động, sự phân cấp tài khóa
Tuy nhiên những mô hình cho thấy rằng khi các cấp chính quyền đặt ra mức thuế cho họ
một cách độc lập dựa trên mức cơ bản (ví dụ: thuế cơ bản chia sẽ) kết hợp mức thuế cân
bằng của 2 cấp chính quyền tối đa hóa phần thu trùng lắp thì cao hơn tỷ lệ thuế, 1 cấp
chính quyền tối đa hóa phân thu. (Flower 1988; Shughart và Tollision 1991; Keen 1995;
Wrede 1996; Keen và Kotsogiannis 2004). Không có sự đồng thuận lý thuết về mối quan
hệ giữa sự phân cấp tài khóa và quy mô của khu vực công từ những câu hỏi đó, mô hình
Leviathan cũng cho thấy những tranh cải rằng sự phân cấp có thể không dẫn đến 1 khu
vực công thử nghiệm mà là sự nổi tiếng của ảnh hưởng văn hóa và vấn đề của thói quen
(kinh nghiệm) (chi tiết xem Jin và Zou 2002, tr 273 – 274).
Sau Oates (1972 – 1985) vài nghiên cứu thực nghiệm, nhiều tài liệu đã cố gắng kiểm tra
sự ảnh hưởng sự phân cấp tài khóa lên quy mô của chính phủ. Tuy nhiên, kết quả là
không xác định (xem Feld 2003, xem nghiên cứu trước rất thấu đáo). Sự khó khăn của lý
thuyết cho thấy quy mô chính phủ đặc trưng đo lường trong phần thu thuế hoặc tiêu dùng
của chính phủ, trong khi hầu hết những tín hiệu của sự phân cấp tài khóa bắt nguồn từ
những thống kê tài chính của chính phủ đưa ra bởi quỹ tiền tệ quốc tế, được định nghĩa
cơ bản đơn khía cạnh của sự phân cấp tài khóa, đó là, chia sẽ phần chi và phần thu.
Tuy nhiên những dấu hiệu tài khóa thông thường này đánh giá quá cao mức độ của sự
phân cấp tài khóa hay sự tự quản tài khóa ở hầu hết các quốc gia như là họ không kiểm
soát tài khoản nắm trong tay bởi chính quyền địa phương vượt qua mức thuế cơ bản
(Stegarescu 2004). Phân cấp chi tiêu không tương ứng với mức thu thuế của địa phương
có thể không tạo ra sự cạnh tranh thuế và hành vi quyền lực ép buộc.
Sự phân cấp tài trợ (cấp tiền cho) bởi nguồn lực thông thường, như là trợ cấp hay phần
thu chia sẽ mà nó được kiểm soát bởi TW (mất cân bằng thẳng đứng), có thể có ảnh
hưởng ngược bởi việc phá vỡ mối liên hệ giữa thuế và lợi ích. Sự phân cấp có thể ng8an
cản hoặc làm tăng cao sự tăng trưởng chính phủ, phụ thuộc vào sự phân cấp tự nhiên
(Rodden 2003). Một vài bài nghiên cứu dựa trên thông từ từ OESD (2001),……kiểm soát

kiểm định giả thiết của Brennan và Buchanan’s Leviathan (xem Feld và các tác giả khác,
2003). Trong bài này, chúng tôi chỉ thảo luận các kiểm định ở cấp quốc gia. Đầu tiên,
Oates (1972, trang 209-213) đánh giá sự liên quan thực nghiệm của các giả thiết phân cấp
ở 57 nước tiêu biểu. Ông ta đã sử dụng phần thu nhập từ thuế trong thu nhập quốc gia
như là sự ủy quyền cho quy mô chính quyền trong khi tỷ lệ giữa nguồn thu thuế trung
ương với tổng thu thuế là thước đo của phân cấp. Ông ta thấy có mối liên hệ nghịch giữa
các chỉ tiêu về sự phân cấp và quy mô chính quyền nhưng kết quả này không có ý nghĩa
khi ông ta điều chỉnh thu nhập. Edhaie (1994) đã phê bình nghiên cứu của Oates, ông ta
cho rằng thuế và sự lựa chọn chi tiêu nên được xem xét đồng thời trong mối liên hệ với
quá trình phân cấp. Ông ta thấy rằng trong một mẩu 30 quốc gia trong năm 1987 và 1977,
việc phân cấp thuế quốc gia và quyền chi tiêu đồng thời có xu hướng giảm theo quy mô
của khu vực công. Tuy nhiên, một số nghiên cứu cho thấy có tác động của việc phân cấp
theo quy mô của chính quyền như Stein (1999), Heil (1991).
Một số ngiên cứu cho rằng việc phân cấp tài khóa có thể cản trở hoặc thúc đẩy sự phát
triển của chính quyền phụ thuộc vào hình thức phân cấp. Phân cấp chi tiêu mà không đi
đôi với phần quyền thu thuế cho địa phương tương ứng sẽ không tạo ra sự cạnh tranh
trong thuế. Việc phân cấp được tài trợ bởi một số nguồn phổ biến như trợ cấp hoặc chia
sẽ thu nhập được kiểm soát bởi trung ương có thể tạo ra hiệu ứng ngược do phá vỡ liên
kết giữa thuế và lợi ích. Hơn nữa, theo mô hình Brennan và Buchanan’s Leviathan, các
hệ thống tài trợ có thể được hiểu như là thỏa thuận thông đồng giữa các địa phương để
phá vỡ tác động cưỡng ép (constraining effect) của phân cấp tài khóa (Feld, 2003). Jin và
Jou (2002) dựa vào dữ liệu 17 quốc gia công nghiệp và 15 quốc gia đang phát triển của
IMF GFS, thấy rằng việc phân cấp chi tiêu và mất cân bằng chiều dọc gia tăng quy mô
của toàn bộ khu vực công, trong khi phân cấp thu nhập tạo ra kết quả ngược lại. Họ cũng
cho thấy rằng phân cấp tài khóa có hiệu ứng khác nhau theo quy mô quốc gia, địa phương
và tổng thể. Sự gia tăng phân cấp thu nhập ở địa phương ít hơn sự giảm ở quốc gia làm
cho tổng thể nhỏ hơn. Ebel và Yilmaz (2002), Fiva (2006) đã sử dụng chỉ tiêu mới để đo
lường phân cấp tài khóa dựa theo phân loại của OECD (1999), cung cấp thêm thông tin
về nguồn thu từ thuế và tỷ lệ mà chính quyền địa phương kiểm soát tốt. Ebel và Yilmaz
(2002) thấy rằng thuế tự trị địa phương vừa có tác động thuận và nghịch đối với quy mô

3.1 Phương pháp kinh tế lượng
Bởi vì chúng tôi muốn kiểm định sự tồn tại của sự tương tác chi tiêu giữa các quốc gia
Châu Âu ở cấp độ tổng thể và quốc gia nêntrong phạm vi dữ liệu bảng chúng tôi cần xem
xét sự phụ thuộc không gian. Chúng tôi chọn hai cách chính: Một cách là xác định những
điểm chính dựa vào khoảng cách địa lý W
Dist
và một cách là đưa ra những điểm giống
nhau chính giữa tất cả các quốc gia (W
NW
). Cả hai ma trận chính được tiêu chuẩn hóa
do đó những nhân tố của mỗi hàng tổng lại bằng 1. Nếu mỗi quốc gia phản ứng lại trước
những lựa chọn chi tiêu của những quốc gia khác, sau đó quyết định chi tiêu của các nước
láng giềng là tự phát và có tương quan với phần sai số (ε). Chúng tôi chọn sử dụng
phương pháp biến công cụ (IV), phương pháp mà đề nghịviệc sử dụng trung bình trọng
số của những biến ngoại sinh hoặc biến kiểm soát, như một công cụ (Kelejian và
Robinson 1993; Kelejian va Prucha 1998). Ngoài ra, từ khi có một vài sự chi tiêu thường
xuyên, nó có thể thích hợp để ước lượng hệ thống – GMM (Veiga và Veiga 2007)
Có hay không có sự phụ thuộc không gian, chúng tôi đều sử dụng ước lượng hệ thống -
GMM, được phát triển bởi Blundell và Bond (1998). Tính hợp lệ của các công cụsử dụng
trong phương pháp hồi quy được đánh giá sử dụng hai số liệu thống kê khác biệt( two
different statistic) Kiểm định Sargan (hay kiểm định về các giới hạn được xác định quá
cao) kiểm định giả thuyết rằng các công cụ là không có tương quan với phần dư. Kiểm
định thứ hai là một kiểm định được đưa ra bởi Arellano và Bond (1991). Kiểm định này
kiểm định giả thuyết là các phần dư từ phương trình ước lượng đầu tiên khác biệt là
không có sự tương quan thứ hai. Một N nhỏ (như trường hợp của chúng tôi) hạn chế số
lượng những công cụ mà có thể được sử dụng để ước lượng, nó cũng có thể có sự ảnh
hưởng đến kết quả ước lượng. Tuy nhiên, Soto (2007) phân tích hiệu quả của phương
pháp hệ thống GMM bằng cách sử dụng mô hình Monte Carlo, khi số lượng dữ liệu chéo
là nhỏ. Ông ấy đã chỉ ra rằng một số lượng dữ liệu chéo nhỏ dường như không có sự tác
động lên các thuộc tính đã liệt kê trước đây cho ước lượng hệ thống GMM.

nghiên cứu liên quan đến nguồn thu của chính quyền địa phương (sự chi tiêu) để củng cố
nguồn thu chính phủ nói chung, như được chuyển hóa từ IMF GFS. Tuy nhiên, chỉ số tài
khóa thông thường có xu hướng đánh giá quá cao mức độ phân cấp tài khóa, đặc biệt ở
những quốc gia liên bang so với quốc gia đơn nhất, bởi vì họ không cung cấp bất cứ
thông tin gì về các cổ phiếu mà chính quyền địa phương có quyền kiểm soát đáng kể. Do
đó, họ xuyên tạc mức độ thực tế của phân cấp tài khóa ở một số nước (như Úc và Đức) và
dẫn đến sai lệch trong kết quả nghiên cứu thực nghiệm (Stegarescu 2004).Theo nghiên
cứu gần đây về chủ đề này, chúng tôi sử dụng hai chỉ số đại diện cho các khía cạnh khác
nhau của phân cấp. Để kiểm định giả thuyết cho rằng quyền tự chủ tài chínhdẫn đến nhà
nước nhỏ hơn, đầu tiên chúng tôi sử dụng một biện pháp phân cấp quản lý nguồn thu đó
là dựa trên một khung phân tích được cung cấp bởi các nước OECD (1999), trong đó
phân loại thuế theo mức độ quyết định của địa phương. Chúng tôi cũng sử dụng một
phương pháp của sự mất cân bằng theo chiều dọc, có nghĩa là mức độ mà chính quyền
địa phương dựa trên nguồn thu chính quyền trung ương để hỗ trợ chi phí của họ.Sự mất
cân bằng theo chiều dọc hay tăngquy mô của khu vực công diễn ra khi chi tiêu của
chính quyền địa phương không phù hợp với sự tăng nguồn thu của họ.
Chúng tôi sử dụng hai chỉ tiêu sau:
1. Chỉ tiêu về sự phân cấp quản lý thu ngân sách (TDec), là việc chính quyền địa
phương được phép chủ động về các khoản thuế, cụ thể là địa phương có toàn quyền
hoặc chiếm vai trò quan trọng trong việc kiểm soát thuế. Theo sự phân loại của
OECD (1999), đây là trường hợp chính quyền địa phương ấn định thuế suất và căn cứ
tính thuế hoặc chỉ ấn định thuế suất hoặc chỉ ấn định cơ sở tính thuế (xem ví dụ, Ebel
and Yilmaz 2002; Stegarescu 2004). Lưu ý rằng chỉ tiêu này không phân tích cho tất
cả các nguồn thu công mà bỏ qua một số khoản thu như các khoản thu ngoài thuế, ví
dụ như phí, lợi nhuận từ đầu tư, và các khoản thu từ vốn là các khoản thu mà địa
phương cũng được tự quyết.
TDec =
Chính quyền địa phương. Nguồn thu thuế của họ
Tổng hợp chung. Toàn bộ nguồn thu thuế
2. Mất cân bằng theo chiều dọc (VI) là chỉ tiêu được đo bằng các khỏan chuyển giao

nên sự cạnh tranh và gia tăng áp lực cho khả năng điều hành của chính phủ đối với thuế có liên quan đến các nước láng giềng (Ferris and West 1996). Điều này làm giảm hơn là
tăng tốc độ mở rộng của chính phủ.
Chúng tôi sử dụng 1 biến cho một bộ phận lao động tự do (SELF). Dường như việc che
giấu thu nhập của bộ phận lao động này sẽ dễ dàng hơn (Kau and Rubin 1981), phần lớn
những người lao động tự do kỳ vọng sẽ gia tăng trốn thuế và điều này sẽ làm ảnh hưởng
tiêu cực đến kích thước chính phủ (Backhaus and Wagner 2004).
Cuối cùng, để giải thích cho các yếu tố phổ biến ở hầu hết các nước, chúng tôi sử dụng
biến giả thời gian. Tuy nhiên, biến giả thời gian không thể hiện được sự biến động cùng
với chi tiêu công trung bình không trọng số của những quốc gia cạnh tranh (XemVí dụ
the demonstration của Devereux et al. (2008, trang 1224). Do đó, chúng tôi sử dụng xu
hướng thời gian bậc 2. Khi có ý nghĩa, các hộ số ước lượng trong biến này sẽ cho thấy
một xu hướng phi tuyến tính trong các dữ liệu theo thời gian.
4. Tác động của phân cấp lên chi tiêu công.
Tác giả điều tra mối quan hệ giữa phân cấp tài chính và ba quy mô chính phủ khác nhau
(tổng hợp, địa phương và quốc gia). Tác giả ước lượng (1) có tác động đến sự giải thích
có tính đến độ trễ của các biến phụ thuộc (β#0) và sự tương quan của độ trễ các biến phụ
thuộc trong ước lượng chi tiêu công tổng thể và chi tiêu công quốc gia (α#0). Cột 1-6
trong Bảng 2 kết quả ước lượng của mô hình hiện đại này cho mỗi cấp độ chi tiêu của
chính phủ (tổng hợp, địa phương và quốc gia). Tác giả ước lượng GMM mở rộng như
kiến nghị của Blundell and Bond (1998). Xác suất cao như cung cấp của kiểm định
Sargan and Arellano- Bond không khớp với các câu hỏi về hiệu lực của các kết quả của
bất kỳ hàm hồi quy nào. Đối với chi tiêu công địa phương (nghĩa là ngoại trừ các biến
phụ thuộc) như tác giả có một mẫu nhỏ, Kiviet khuyến cáo sử dụng phương pháp
LSDVC.
Đầu tiên, Bảng 2 cho thấy độ trễ biến nội sinh (GOVSIZE
it−1
) luôn có ý nghĩa và dương

i;t−1
; WGOVSIZE
i;t
; UNEMP
i;t
; GDPCAP
i;t
) tạo lập bởi độ trễ thứ 2 của
chúng, biến ngoại sinh WPP65 và WGDPCAP.

Tác giả tìm thấy hệ số dương và có ý nghĩa cho chỉ số phân cấp dựa trên ngân sách Chính
phủ (VI) trong quy mô hồi quy của chính quyền địa phương và chính phủ. Điều này có
thể giải thích bởi sự tồn tại của a hiệu ứng giấy tờ (fly-paper effect) ở cấp chính quyền
địa phương. Địa phương sử dụng các khoản nhận chuyển giao dễ dàng hơn là sử dụng các
khoản thu từ thuế địa phương. Theo đề xuất của Jin và Zou (2002), Stein (1999), phân
cấp tài trợ từ nguồn thu chung như nguồn tài trợ hoặc một phần khoản thu được kiểm soát
bởi trung ương, có thể làm trầm trọng thêm vấn đề chung. Việc không có sự kết nối giữa
người thụ hưởng các dịch vụ công cộng với những người trả tiền sẽ làm gia tăng quy mô
chính quyền địa phương. Kết quả này hoàn toàn phù hợp với kết quả của Oates (1985),
Grossman (1989), Edhaie (1994), Stein (1999) và Jin và Zou (2002). Sự mở rộng của khu
vực công tại đại phương từ những khoản nhận chuyển giao từ Trung Ương sẽ làm làm
cho chính phủ phát triển tương ứng (Jin và Zou 2002). Từ đó, tỷ trọng chi tiêu công tại
đại phương càng lớn, quy mô chính phủ càng lớn: sự mất cân bằng theo chiều dọc dương
có liên quan đến quy mô của chính phủ.
Về nhóm biến kiểm soát, hệ số hồi quy của địa phương là một ngoại lệ với dấu hiệu kỳ
vọng dương, GDP bình quân đầu người không có ý nghĩa. Như kỳ vọng, tỷ trọng những
người có độ tuổi trên 65 lớn hơn ở mỗi cấp chính phủ cao hơn, điều này cho thấy nhóm
người ở độ tuổi này có quyền lực chính trị để yêu cầu một số phân bổ chi tiêu cụ thể. Tỷ
lệ thất nghiệp càng cao cũng dẫn đến quy mô chính phủ lớn hơn. Các thông số có liên
quan đến mật độ dân số có ý nghĩa và âm hàm ý sự tồn tại của một nền kinh tế có sự cung

các năm 1970, 1975, 1980, 1985, 1990, 1995, và từ năm 2000 đến 2006
3
. Tác giả trình
bày các kết quả ước lượng trong cột 7 và 8.
Như các ước lượng trước đây, chúng ta có thể thấy rằng chỉ số tự do kinh tế chỉ thay đổi
chậm theo thời gian. Tác giả tìm thấy một hệ số dương nhưng không có ý nghĩa liên quan
đến chỉ số tự do kinh tế bình quân gia quyền của các nước láng giềng (sử dụng cả hai
phương pháp trọng số). Nó có thể là khó khăn cho chính phủ trong việc bắt chước nhau
sử dụng chỉ số tổng hợp này dựa trên 42 biến. Biện pháp này của chính phủ rộng lớn hơn
mang lại kết quả tương tự đối với các tác động của phân cấp quản lý thuế. Tác giả thấy
rằng phân cấp thuế có tác động dương và có ý nghĩa về tự do kinh tế. Tuy nhiên, sự mất
cân bằng theo chiều dọc không có tác động đáng kể vào chỉ số. Cuối cùng, các biến kiểm
soát là không có ý nghĩa.

5.

Động lực ngắn hạn và dài hạn

Chúng tôi kiểm tra động lực ngắn hạn và dài hạncủa mối quan hệ giữa địa phương phân
quyền hóa và kích thước của khu vực công sử dụng một khái quát một bước ECM9 ước
tính sử dụng ước lượng LSDVC. Trước tiên chúng ta cần phải kiểm tra biếnstationarity
của chúng tôi. Sau đó, nếu các biến được tích hợp vào thứ tự của tôi (1), chúng tôi tiến
hành Pedroni bảng điều khiển kiểm tra cùng hội nhập để kiểm tra trạng thái cân bằng dài
hạn giữa các biến số của chúng tôi.

5.1 Kết quả sơ bộ: đơn vị gốc bảng điều khiển và cùng hội nhập

Đầu tiên chúng tôi thực hiện các bài kiểm tra đơn vị gốc bảng điều khiển của Im-Shin-
Pesaran cho mỗi biến để kiểm tra stationarity của họ. Nếu các biến được tích hợp vào thứ
tự của tôi (1), chúng tôi tiến hành Pedroni bảng điều khiển kiểm tra cùng hội nhập để

nó làm tăng chi tiêu công địa phương và đến một mức độ lớn hơn. Kết quả là, có sự gia
tăngtrongchi tiêu côngtổng hợp
Khi xem xét cácnhómtrung bìnhước lượng,độ co giãn củađịa phương, quốc giavà tổng
hợpchi tiêu côngliên quan đếnsự mất cân bằngtheo chiều dọc(VI)có ý nghĩavà tích
cực.Tuy nhiên, có sự khác biệt lớn về độ co giãncủa mỗi quốc gia ở mọi cấp độ.
5.2 Ảnh hưởng ngắn hạn và dài hạn của sự phân quyềnEMC dựa trên giả định rằng qua thời gian nền kinh tế có thể tự điều chỉnh những xáo trộn
của nó.Chúng tôi bắt đầu mô hình tự hồi quy phân phối độ trễ sau đây:
GOVSIZE
i;t
= ø
1
GOVSIZE
i;t-1
+ ø
1
GOVSIZE
i;t-2
+ α
0
DEC
i;t

1
DEC
i;t-1
+ α
2

quốc gia ε
i
vàkỳ hạn của phương sai ngẫu nhiên u
i,t
biến đổi theo thời gian và làm biến
đổi phần vượt.
Đặt tính kỹ thuật của mô hình tự hồi quy phân phối độ trễ sẽ thích hợp nếu mối tương
quan ngắn hạn giữa sự phân quyền và sự to lớn của chính quyền chỉ là vì quyền lợi. Tuy
nhiên, mô hình này không thể chỉ ra sự khác biệt tác động trong ngắn hạn và tác động
trong dài hạn. Chúng tôi gộp sự khác biệt này vào mô hình của chúng tôi bằng cách sử
dụng đặc tính kỹ thuật của phương sai hiệu chỉnh củamô hình ô động lực. Đặc tính này là
1 sự biến đổi tuyến tính của các biến trong phương trình (2), phương trình này cung cấp
một sự liên kết trực tiếp giữa các tác động ngắn hạn và các tác động dài hạn (Banerjee
1993, 1998) ΔGOVSIZE
i;t-1
= (ø
1
– 1)ΔGOVSIZE
i;t-1
+ α
0
ΔDEC
i;t
+ (α
0
+ α
1

+ ø
1
+ ø
2
– 1 và η =ø
1
+ ø
2
– 1 (3)
Tổng số sự phân quyền đồng thời và trễ 1 giai đoạn làm nổi bật lên các “động lực” ngắn
hạn trong khi kỳ hạn của phương sai hiệu chỉnh(GOVSIZE
i, t-2
– DEC
i, t-2
) và độ trễ của
biến phân cấp cung cấp 1 bộ khung để kiểm định mối quan hệ dài hạn. Chúng tôi bao
hàm cả sự biến động và độ trễ của biến độc lập X. Các biến độ trễ tượng trưng cho tác
động dài hạn bởi vì sự biến động của biến này giải thích cho tác động ngắn hạn của các
biến này đối với chi tiêu công.Hệ số về kỳ hạn phương sai hiệu chỉnhη đưa ra 1 tỷ lệ điều
chỉnh mà tại đó khoảng cách giữa sự phân quyền và độ lớn của khu vực công nhỏ lại.
Nếu η âm đáng kể, thì mô hình là một ECM và mối tương quan giữa sự phân quyền và độ
lớn của khu vực công sẽ tồn tại trong dài hạn. Sự định rõ phương sai hiệu chỉnh này cho
phép tính toán trực tiếp mối tương quan giữa sự phân quyền và độ lớn của khu vực công (
1 – (θ/η)): Độ co giãn dài hạn này được tính bằng cách lấy 1 trừ (-) tỷ lệ giữa hệ số của
hiệu ứng quy mô và hệ số của kỳ hạn phương sai hiệu chỉnh (giá trị độ trễ của biến phân
quyền). Ước lượng này được thực hiện thông qua sự chỉnh sữa LSDVC (Kiviet 1995).
Bảng 4 chỉ ra rằng hệ số phương sai hiệu chỉnh thì có ý nghĩa thống kê, và âm trong tất cả
các kết quả hồi quy. Do đó, kết quả này chỉ ra rằng tồn tại 1 mối tương quan vững chắc
giữa sự phân quyền và độ lớn của khu vực công. Hơn nữa, ý nghĩa thống kê của kỳ hạn
phương sai hiệu chỉnh có ý nghĩa là nếu trạng thái cân bằng trong dài hạn bị lệch thì sự

lãnh thổ và các quốc gia Đông Âu nên chuyển sang phân quyền lớn hơn.
Chúng tôi phân tích thực nghiệm liệu rằng sự phân cấp tài khóa có ảnh hưởng đến quy
mô chi tiêu chính phủ hay không, áp dụng mô hìnhbảng điều khiểnnăng độngkhông gian
và dữ liệu 15 nước châu âu. Chúng tôi tìm thấy đầu tiên là chi tiêu chính phủ thay đổi rất
chậm theo thời gian và có vài sự tương tác trong chi tiêu công trong số 15 quốc gia ở
châu âu. Sự mất cân bằngtheo chiều dọccó xu hướng tăngquy mô của cácchính quyền địa
phương, quốc gia và tổng hợp.
Do đó, kết quả của chúng tôi là phù hợp với những gì được đưa ra bởi Edhaie (1994),
Ebel và Yilmaz (2002) và Jin và Zou (2002). Tuy nhiên, chúng tôi cho thấy rằng phân
cấp thu thuế giảm quy mô chính phủ trong khi nó tăng quy mô chính quyền địa phương
và đến một mức độ lớn hơn, do đó dẫn đến một quy mô chính phủ lớn hơn. Như vậy,
tăng mức độ độc lập thu thuế ở địa phương có thể đưa ra kết quả bất ngờ của sự tăng
trong quy mô toàn thể chính phủ. Trongnghiên cứutương lai, chúng ta cần phảixác định
xembản chất củacác loại thuếdành chochính quyền địa phươngđóng vai trònhư thế nào
trongquá trình này.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status