Ảnh hưởng của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tiêu thụ năng lượng và vấn đề đô thị hóa đến lượng khí thải CO2 ở các quốc gia châu á - Pdf 52

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ THANH HIỀN

ẢNH HƯỞNG CỦA DÒNG VỐN ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI, TIÊU THỤ NĂNG
LƯỢNG VÀ VẤN ĐỀ ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN
LƯỢNG KHÍ THẢI CO2 Ở CÁC QUỐC GIA
CHÂU Á

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Tp. Hồ Chí Minh - Năm 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ THANH HIỀN

ẢNH HƯỞNG CỦA DÒNG VỐN ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TIÊU, THỤ NĂNG
LƯỢNG VÀ VẤN ĐỀ ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN
LƯỢNG KHÍ THẢI CO2 Ở CÁC QUỐC GIA
CHÂU Á
Chuyên ngành: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Mã số: 8340201

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ


Mục tiêu nghiên cứu......................................................................................................... 4

1.3.

Câu hỏi nghiên cứu .......................................................................................................... 5

1.4.

Phạm vi thu thập dữ liệu và đối tƣợng nghiên cứu ....................................................... 5

1.5.

Phƣơng pháp nghiên cứu................................................................................................. 6

1.6.

Kết cấu đề tài .................................................................................................................... 7

CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM .................................................... 8
2.1.

Cơ sở lý thuyết .................................................................................................................. 8

2.1.1.

Dòng vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài.................................................................... 8

2.1.2.

Lý thuyết nơi ẩn giấu ô nhiễm .............................................................................. 10

3.2.

Dữ liệu nghiên cứu ......................................................................................................... 31

3.3.

Phƣơng pháp nghiên cứu............................................................................................... 32


3.4.

Mô hình và giả thuyết nghiên cứu ................................................................................ 33

3.4.1.

Mô hình nghiên cứu ............................................................................................... 34

3.4.2.

Giả thuyết nghiên cứu............................................................................................ 35

CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ................................................................................................ 37
4.1.

Mô tả mẫu nghiên cứu ................................................................................................... 37

4.2.

Ma trận tƣơng quan ....................................................................................................... 41



Hàm ý chính sách ........................................................................................................... 62

5.3.

Hạn chế của đề tài và hƣớng nghiên cứu tiếp theo...................................................... 64

PHỤ LỤC


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Tổng hợp nghiên cứu trước đây................................................................28
Bảng 3.1. Mô tả biến .................................................................................................35
Bảng 4.1. Mô tả thống kê các biến ............................................................................38
Bảng 4.2. Giá trị trung bình các biến theo quốc gia .................................................40
Bảng 4.3. Ma trận tương quan toàn bộ mẫu ..............................................................42
Bảng 4.4. Ma trận tương quan các quốc gia thu nhập trung bình cận trên ...............43
Bảng 4.5. Ma trận tương quan các quốc gia thu nhập trung bình cận dưới ..............44
Bảng 4.6. Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị các biến ..............................................46
Bảng 4.7. Kết quả hồi quy ảnh hưởng của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tiêu
thụ năng lượng đến lượng khí thải CO2 toàn bộ mẫu ...............................................49
Bảng 4.8. Kết quả hồi quy ảnh hưởng của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tiêu
thụ năng lượng đến lượng khí thải CO2 của các quốc gia có thu nhập trung bình cận
trên.............................................................................................................................52
Bảng 4.9. Kết quả hồi quy ảnh hưởng của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tiêu
thụ năng lượng đến lượng khí thải CO2 của các quốc gia có thu nhập trung bình cận
dưới ...........................................................................................................................55
Bảng 4.10. Chênh lệch hệ số hồi quy giữa các quốc gia có thu nhập trung bình cận
trên và cận dưới .........................................................................................................58


toàn cầu hóa được thể hiện thông qua sự dịch chuyển dòng vốn quốc tế giữa các
quốc gia. Mặc dù khái niệm dòng vốn quốc tế phản ánh nhiều loại hình khác nhau
của vốn, chẳng hạn như dòng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (Official
Development Assistance), dòng vốn đầu tư gián tiếp và dòng vốn đầu tư trực tiếp.
Trong đó, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nhận được nhiều sự quan tâm của
các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng như các nhà hoạch định chính sách trong thời
gian qua với lý do trong thực tế cho thấy rằng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
chiếm tỷ trọng lớn trong dòng vốn đầu tư vào một quốc gia. Đồng thời, vai trò của
dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với quá trình phát triển của quốc gia nhận
vốn đầu tư đã được công nhận bởi các nghiên cứu trước đây. Chẳng hạn như dòng
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp cho quốc gia nhận dòng vốn đầu tư tạo được
nhiều việc làm, giới thiệu và truyền bá các công nghệ kĩ thuật mới, chuyển giao tài
sản vô hình, cải thiện phương pháp tổ chức và gia tăng tính cạnh tranh của quốc gia
so với các đối thủ cạnh tranh. Qua đó có thể thấy rằng chính sách thu hút dòng vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài thường được thực thi ở đa số quốc gia trên giới, đặc biệt
là các nước đang phát triển.
Tuy nhiên, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng gây ra một số hệ lụy
tiêu cực cho quốc gia được nhận đầu tư, điều mà ít nghiên cứu trước đây quan tâm.
Theo một số báo cáo mới của Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát
triển (United Nations Conference on Trade and Development), dòng vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài thường tập trung vào các ngành nghề có liên quan đến các tài
nguyên thiên nhiên (đặc biệt là nông nghiệp, khai thác khoáng sản, sản xuất nhiên
liệu và hóa chất). Mặc dù trong 20 năm gần đây, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài có xu hướng dịch chuyển sang ngành du lịch, ngành nghề thường được cho


3

rằng ít sử dụng tài nguyên thiên nhiên hơn, nhưng có thể thấy rằng lượng đầu tư
trực tiếp nước ngoài chảy vào các quốc gia đang phát triển vẫn càng ngày gia tăng

nước ngoài từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển có thể tạo ra điều
kiện thuận lợi cho việc chuyển giao công nghệ hiện đại hơn, đảm bảo hiệu quả cao
hơn trong việc sử dụng tài nguyên và năng lượng, cùng với việc giảm thiểu chất thải
từ quá trình sản xuất. Trong trường hợp này, các nước đang phát triển có thể tránh
được một số giai đoạn gây tổn hại đến môi trường do quá trình công nghiệp hóa, và
kết quả là sẽ giúp giảm thiểu lượng khí thải CO2 ở các quốc gia này.
Ô nhiễm môi trường khí quyển tạo nên sự ngột ngạt và "sương mù", gây
nhiều bệnh cho con người. Nó còn tạo ra các cơn mưa axít làm huỷ diệt các khu
rừng và các cánh đồng. Điều đáng lo ngại nhất là con người thải vào không khí các
loại khí độc như: CO2, đã gây hiệu ứng nhà kính. Theo nghiên cứu thì chất khí quan
trọng gây hiệu ứng nhà kính là cacbonic (CO2), nó đóng góp 50% vào việc gây hiệu
ứng nhà kính, mêtan (CH4) là 13%, nitơ 5%, CFC là 22%, hơi nước ở tầng bình lưu
là 3%... Sự nóng lên của Trái Đất do hiệu ứng nhà kính biểu hiện thông qua các vấn
đề môi trường như mất rừng, mất đa dạng sinh học, băng tan và sự thay đổi mực
nước biển (UNEP, 2007). Các nhà nghiên cứu đã cho rằng sự suy thoái chất lượng
môi trường biểu hiện thông qua sự gia tăng lượng khí thải CO2 là kết quả của các
hoạt động kinh tế trên toàn thế giới.
Do đó, trong bối cảnh quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ cũng như sự
thay đổi đáng kể của môi trường trong những năm gần đây, cần thiết thực hiện xem
xét mối quan hệ giữa dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và môi trường. Đó là lý
do học viên lựa chọn đề tài “Ảnh hưởng của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
tiêu thụ năng lượng và vấn đề đô thị hóa đến lượng khí thải CO2 ở các quốc gia
Châu Á trong giai đoạn 1992 – 2016” làm đề tài luận văn thạc sỹ.
1.2.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn có ba mục tiêu chính sau:



Vấn đề đô thị hóa có ảnh hưởng đến lượng khí thải CO2 của các quốc gia có
thu nhập trung bình ở Châu Á trong giai đoạn 1992 – 2016 hay không?
1.4.

Phạm vi thu thập dữ liệu và đối tƣợng nghiên cứu

 Phạm vi thu thập dữ liệu
Luận văn thu thập số liệu của các quốc gia có thu nhập trung bình ở Châu Á
trong giai đoạn 1992 – 2016. Cụ thể, luận văn thu thập số liệu của 37 quốc gia có
thu nhập trung bình ở Châu Á.
 Đối tƣợng nghiên cứu


6

Các đối tượng nghiên cứu trực tiếp trong luận văn là lượng khí thải CO2,
dòng vốn Đầu tư trực tiếp nước ngoài, tiêu thụ năng lượng, vấn đề đô thị hóa.
1.5.

Phƣơng pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng nhằm làm rõ tác động
của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, và mức tiêu thụ năng lượng đến lượng
khí thải CO2 của các quốc gia. Trong đó, các phương pháp định lượng có thể sử
dụng bao gồm phương pháp hồi quy OLS, phương pháp hồi quy hai bước, phương
pháp hồi quy GMM.
Để có thể lựa chọn được phương pháp định lượng phù hợp, luận văn thực
hiện kiểm định tự tương quan và phương sai thay đổi. Tuy nhiên trước khi thực hiện
các kiểm định này, luận văn sẽ kiểm định xem các biến số trong mô hình nghiên
cứu có dừng hay không bằng cách dùng kiểm định nghiệm đơn vị với giả thuyết

Chương 2. Cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm
Chương 3. Phương pháp nghiên cứu
Chương 4. Kết quả nghiên cứu
Chương 5. Kết luận


8

CHƢƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC
NGHIỆM
2.1.

Cơ sở lý thuyết

2.1.1. Dòng vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
Giai đoạn hiện tại của phát triển kinh tế ở các quốc gia trên thế giới đều cho
thấy dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một trong những yếu tố quan
trọng cho sự phát triển kinh tế bền vững, chất lượng cao và cân bằng ở các quốc gia.
Do đó cần thiết phải thu hút FDI, đặc biệt quan trọng đối với các quốc gia đang phát
triển và các nền kinh tế mới nổi, vì loại hình đầu tư này thúc đẩy những thay đổi cơ
cấu của nền kinh tế, cho phép đảm bảo phát triển kinh tế bền vững cũng như cho
phép nước nhận đầu tư tích hợp hiệu quả vào quá trình toàn cầu hoá. Theo đó, trong
điều kiện hiện đại của vấn đề toàn cầu hoá và tăng cường dòng vốn trong nền kinh
tế thế giới, các quốc gia phải cạnh tranh khốc liệt để thu hút đầu tư nước ngoài, đặc
biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài. Theo OECD, đầu tư trực tiếp nước ngoài được
định nghĩa là một loại đầu tư xuyên biên giới được thực hiện bởi một người dân
trong một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) với mục tiêu thiết lập lợi ích lâu dài
trong một doanh nghiệp (doanh nghiệp đầu tư trực tiếp) ở một nền kinh tế khác với
nền kinh tế của nhà đầu tư trực tiếp. "Mối quan tâm trong dài hạn" được chứng
minh khi nhà đầu tư trực tiếp sở hữu ít nhất 10% quyền biểu quyết của doanh

nghiên cứu mô tả ở trên cho rằng các nước đang phát triển cần đạt được một mức
độ phát triển kinh tế nhất định để thu được lợi ích tiềm năng từ dòng vốn FDI.
Trong nghiên cứu của Robert Lensink (Lensink và cộng sự, 2000) tác giả mô tả ba
kênh mà dòng vốn FDI chảy vào quốc gia nhận đầu tư và cải thiện tăng trưởng kinh
tế cũng như thúc đẩy phát triển kinh tế.
Đầu tiên là "kênh cạnh tranh": sự cạnh tranh gia tăng trên thị trường giúp
tăng hiệu quả và năng suất, cũng như đầu tư vào vốn con người và vật chất. Hơn


10

nữa, khi cạnh tranh gia tăng thì có thể khuyến khích những thay đổi tích cực trong
cơ cấu của sản lượng công nghiệp theo hướng các ngành định hướng xuất khẩu.
Kênh thứ hai là “chuyển giao kiến thức” thông qua đào tạo nhân viên ở quốc
gia nhận đầu tư, cũng như thông qua việc giới thiệu các phương pháp quản lý hiệu
quả và hệ thống kiểm soát chất lượng.
Kênh phát triển thứ ba là “chuyển giao công nghệ” là kết quả của các giao
dịch với các công ty nước ngoài.
Theo khái niệm của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987: đầu tư
trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn
bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính Phủ Việt Nam chấp thuận
để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc
doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của luật này.
Theo quan điểm về đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam ở quy định tại
khoản 1 điều 2, Luật đầu tư nước ngoài được sửa đổi bổ sung năm 2000 “đầu tư
trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền
nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định
của luật này”.
Có thể hiểu một cách khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: đầu
tư trực tiếp nước ngoài FDI tại một quốc gia là việc nhà đầu tư ở một nước khác

ẩn giấu ô nhiễm (Javorcik và Wei, 2004). Theo đó, có ba điểm quan trọng trong giả
thuyết nơi ẩn giấu ô nhiễm.
Đầu tiên, như đã đề cập trong phần đầu của chương này, các doanh nghiệp
tham gia hoạt động kinh doanh ở các ngành nghề có ảnh hưởng tiêu cực đến chất
lượng môi trường của quốc gia nhận đầu tư sẽ di dời cơ sở sản xuất của họ từ các
quốc gia có các tiêu chuẩn môi trường nghiêm ngặt sang các quốc gia có tiêu chuẩn
môi trường ít nghiêm ngặt hơn. Sự di dời này cũng được khuyến khích bởi sự tự do
hóa thương mại toàn cầu (Aliyu, 2005). Thứ hai, các chất thải nguy hại ở các quốc


12

gia đang phát triển được tạo ra từ các quốc gia đã phát triển chẳng hạn như sản xuất
công nghiệp và năng lượng hạt nhân. Thứ ba, việc khai thác tài nguyên thiên nhiên
không tái tạo một cách không hạn chế ở các quốc gia đang phát triển. Các tài
nguyên này được các công ty đa quốc gia sử dụng trong quá trình sản xuất của họ
để sản xuất dầu khí hoặc các sản phẩm có liên quan đến dầu khí. Những điểm này
tương đối quan trọng với các nhà hoạch định chính sách khi đưa ra các quyết định
chính sách môi trường (Aliyu, 2005).
Kim và Adilov (2012) đã kiểm định thực nghiệm tính hợp lý của giả thuyết
nơi ẩn giấu ô nhiễm cũng như giả thuyết vành ô nhiễm (pollution halo hypothesis)
bằng cách giải thích ảnh hưởng của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến lượng
khí thải CO2 ở các quốc gia trên thế giới. Các tác giả đã thu thập dữ liệu khí thải
CO2 từ bộ dữ liệu Các chỉ tiêu phát triển Thế giới (WDI) của Ngân hàng Thế giới
(WB). Theo đó, nghiên cứu của các tác giả bao gồm 164 quốc gia trong khoảng 44
năm và chia mẫu nghiên cứu thành các quốc gia đã phát triển và đang phát triển vì
các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng tác động của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài đến chất lượng môi trường có thể khác biệt ở các quốc gia có thu nhập cao và
thu nhập thấp. Kết quả của nghiên cứu này cho thấy rằng GDP có tương quan tích
cực với tốc độ tăng của lượng khí thải CO2 ở cả các quốc gia đã và đang phát triển.

các cộng sự, 2016).
Kim và Adilov (2012) đưa ra một số lý do tại sao giả thuyết vành ô nhiễm
hợp lý hơn. Đầu tiên, các quốc gia nhận đầu tư có thể thiết lập các tiêu chuẩn môi
trường cao hơn cho các doanh nghiệp nước ngoài so với các tiêu chuẩn môi trường
được áp dụng cho các công ty nội địa. Hơn nữa, các công ty nước ngoài có thể thận
trọng hơn vì họ không chắc chắn về các quy định của địa phương mà họ kinh
doanh, và để né tránh việc vi phạm các quy định môi trường ở địa phương mà họ
hoạt động, các doanh nghiệp này sẽ sản xuất các sản phẩm ít có tác động đến chất
lượng môi trường so với các doanh nghiệp nội địa. Một cách giải thích khác cho giả
thuyết vành ô nhiễm là các công ty đa quốc gia có thể tiếp cận với các phương pháp
sản xuất khác ít gây ra ô nhiễm cho môi trường hơn so với các công ty nội địa.


14

Ngoài ra, các công ty đa quốc gia có thể cảm thấy áp lực hơn khi sử dụng các công
nghệ xanh hơn ở các nước nhận đầu tư để ngăn chặn các vấn đề tiêu cực cho các
quốc gia chủ đầu tư (Kim và Adilov, 2012).
Mặc dù giả thuyết vành ô nhiễm dường như nói lên quan điểm ngược lại với
giả thuyết nơi ẩn giấu ô nhễm, nhưng Kim và Adilov (2012) tìm kiếm bằng chứng
ủng hộ cho cả hai giả thuyết và kết luận rằng cả hai giải thuyết không phải mâu
thuẫn với nhau. Điều này có thể hợp lý bởi vì giả thuyết vành ô nhiễm tập trung vào
việc một công ty hoạt động như thế nào tại nơi mà nó đặt cơ sở sản xuất ở một quốc
gia chứ không phải tập trung vào việc phân tích tại sao công ty lại lựa chọn nơi đó
để đặt cơ sở sản xuất.
Một số nghiên cứu thực nghiệm khác cũng đã ủng hộ quan điểm của lý
thuyết vành ô nhiễm. Các nghiên cứu này bao gồm Eskeland và Harrison (2003),
Atici (2012), Zhu và các cộng sự (2016) và Abdouli và Hammami (2017).
2.1.4. Lý thuyết đƣờng cong Kuznets về môi trƣờng
Đường cong Kuznets về môi trường phản ánh mối quan hệ giữa phát triển


16

nhiễm của các quốc gia nhận đầu tư (Cole, 2004). Tuy nhiên, theo giả thuyết vành ô
nhiễm, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước có thể làm suy giảm các yếu tố có tác động
tiêu cực đến môi trường, khi đó đường cong Kuznets về môi trường sẽ xuất hiện do
sự suy giảm trong mức độ ô nhiễm của quốc gia nhận đầu tư. Cho nên cả giả thuyết
nơi ẩn giấu ô nhiễm và vành ô nhiễm đều có liên quan đến đường cong Kuznets về
môi trường.
Kuznets (1995) đã đưa ra ý tưởng về một đường cong ngược U (EKC Đường cong Kuznets môi trường). Ông cho rằng, trong giai đoạn đầu của tăng
trưởng kinh tế, Chính phủ có xu hướng nới lỏng các quy định về môi trường để thu
hút FDI vì áp lực tăng trưởng cao và quy mô tích lũy vốn của toàn nền kinh tế còn
hạn chế. Nhờ FDI, thu nhập bình quân đã được cải thiện; tuy nhiên, với mức tăng
thu nhập trung bình, ô nhiễm môi trường cũng tăng lên. Ở giai đoạn này, mức tiêu
thụ nhiên liệu lớn đã dẫn đến lượng phát thải CO2 lớn vào môi trường vì các nước
chủ yếu khai thác tài nguyên thiên nhiên dưới dạng thô, công nghệ sản xuất bị lạc
hậu, mức độ quản lý yếu. Khi thu nhập trung bình tăng lên một mức độ nào đó và
cuộc sống được cải thiện, mọi người bắt đầu nhận thức được tầm quan trọng của
chất lượng cuộc sống và chất lượng của môi trường sinh thái xung quanh. Ngoài ra,
cùng với các điều kiện kinh tế được cải thiện, hội nhập kinh tế và lợi thế của các
nước phát triển sau sẽ giúp các quốc gia, doanh nghiệp và công dân có thể lựa chọn
công nghệ xanh, sạch và thân thiện với môi trường. Ô nhiễm môi trường sẽ giảm
tốc, ngược lại và sau đó giảm, do đó chất lượng môi trường sẽ được tăng cường.
2.2.

Bằng chứng thực nghiệm

2.2.1. FDI và lƣợng khí thải CO2
Tobey (1990) đã sử dụng phương trình Heckscher – Ohlin – Vanek (HOV)
để kiểm tra giả thuyết nơi ẩn giấu ô nhiễm bằng cách sử dụng các dữ liệu của 23

2003). Đồng thời, các quy định môi trường cũng được các đưa vào mô hình nghiên
cứu bằng cách sử dụng một tham số đại diện cho chi phí giảm thiểu ô nhiễm. Ngoài
ra, trong mô hình nghiên cứu này, chi phí giảm thiểu ô nhiễm được thay thế bởi ba
cách đo lường cho mức độ ô nhiễm như ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước và độc
tính. Kết quả của nghiên cứu không cho thấy rằng các nhà đầu tư nước ngoài tập


18

trung hoạt động kinh doanh vào các ngành nghề có tác động tiêu cực đến chất lượng
môi trường của các quốc gia nhận đầu tư như giả thuyết nơi ẩn giấu ô nhiễm đã đề
cập. Hơn nữa, các tác giả cũng không tìm ra mối tương quan có ý nghĩa thống kê
nào giữa các tiêu chuẩn môi trường và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đang
chảy vào các nước đang phát triển. Do đó, các tác giả đã kết luận rằng không có
bằng chứng thực nghiệm nào cho thấy có sự hủy hoại môi trường từ việc thu hút
dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (Eskeland và Harrison, 2003).
Javorcik và Wei (2004) đã kiểm tra giả thuyết nơi ẩn giấu ô nhiễm bằng cách
sử dụng dữ liệu dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chảy vào từ nhiều quốc gia
đến 25 quốc gia nhận đầu tư ở Đông Âu và Liên Xô cũ. Các tác giả xem xét ở một
khía cạnh khác bằng cách phân tích ảnh hưởng của tham nhũng của quốc gia nhận
đầu tư bởi vì tỷ lệ tham nhũng của các quốc gia nhận đầu tư càng cao có thể ngăn
cản chính sách thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, hơn thế nữa, tham
nhũng có tương quan đáng kể với các quy định môi trưởng lỏng lẻo. Nghiên cứu
này tập trung vào việc phân tích vào dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chảy vào
các ngành sản xuất của quốc gia nhận đầu tư vì ngành này được kỳ vọng sẽ có các
tác động đáng kể đến chất lượng môi trường hơn so với các ngành dịch vụ. Để đo
lường mức độ ô nhiễm của ngành công nghiệp, các tác giả đã áp dụng phương pháp
tiếp cận của Eskeland và Harrison (2003) bằng cách đo lường mức độ ô nhiễm và
chi phí giảm thiểu ô nhiễm. Ngoài ra các tác giả cũng xem xét mức độ ô nhiễm của
các công ty đa quốc gia đang tìm kiếm địa điểm đầu tư cũng như tính nghiêm ngặt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status