Hãy phân tích tác động tích cực và tiêu cực của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và thực trạng quản lý hoạt động dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam - Pdf 16


1 Tiểu luận

Hãy phân tích tác động tích cực và tiêu cực của dòng vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài và thực trạng quản lý hoạt động
dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam‘
THÀNH VIÊN:

1. HOÀNG THỊ NGỌC
2. NGUYỄN THỊ THU HIỀN
3. BÙI THỊ NGỌC TRANG
4. ĐẶNG HOÀNG ANH
5. PHẠM VĂN THỊNH
6. NGUYỄN ĐỨC TÙNG

2
7.
Thông qua hoạt động FDI, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công nghệ, kĩ thuật
tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý
2. Phân loại
2.1.Phân theo tính chất dòng vốn
a)Vốn chứng khoán
Nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần hoặc trái phiếu doanh nghiệp do một
công ty trong nước phát hành ở một mức đủ lớn để có quyền tham gia vào các
quyết định quản lý của công ty
b)Vốn tái đầu tư

3
Doanh nghiệp có vốn FDI có thể dùng lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh
trong quá khứ để đầu tư them
c)Vốn vay nội bộ hay giao dịch nội bộ
Giữa các chi nhánh hay công ty con trong cùng một công ty đa quốc gia có thể cho
nhau vay để đầu tư hay mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp của nhau
2.2. Phân loại theo mục tiêu
a) FDI nhằm tìm kiếm nguồn lực - Resource-seeking: Đầu tư nhằm đạt được dây
chuyền sản xuất và các nguồn lực khác như lao động rẻ hoặc tài nguyên thiên
nhiên, mà những nguồn lực này không có ở được đi đầu tư. Đây là FDI thường
đầu tư vào các nước đang phát triển như tài nguyên dầu mỏ ở Trung Đông hay
vàng, kim cương ở Châu Phi, lao động rẻ ở Đông Nam Á.
b) FDI tìm kiếm thị trường Market-seeking: Đầu tư nhằm thâm nhập thị trường
mới hoặc duy trì thị trường hiện có.
c) Tìm kiếm hiệu quả - Effficiency-seeking: Đầu tư nhằm tăng cường hiệu quả bằng
việc tận dụng lợi thế của tính kinh tế theo quy mô hay phạm vi, hoặc cả hai.
d) Tìm kiếm tài sản chiến lược - Strategic-Asset-Seeking: Đầu tư nhằm ngăn chặn
việc bị mất nguồn lực vào tay đối thủ cạnh tranh. Ví dụ, các công ty sản xuất và
khai thác dầu mỏ có thể không cần trữ lượng dầu đó ở thời điểm hiện tại, nhưng
vẫn phải tìm cách bảo vệ nó để không rơi vào tay đối thủ cạnh tranh.

tiềm năng….
- Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại: Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
là một biện pháp để tránh xung đột thương mại song phương. Ví dụ, Nhật Bản hay
bị Mỹ và các nước Tây Âu phàn nàn do Nhật Bản có thặng dư thương mại còn các
nước kia bị thâm hụt thương mại trong quan hệ song phương. Đối phó, Nhật Bản
đã tăng cường đầu tư trực tiếp vào các thị trường đó. Họ sản xuất và bán ô tô, máy
tính ngay tại Mỹ và châu Âu, để giảm xuất khẩu các sản phẩm này từ Nhật Bản
sang. Họ còn đầu tư trực tiếp vào các nước thứ ba, và từ đó xuất khẩu sang thị
trường Bắc Mỹ và châu Âu.
- Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên: Để có nguồn nguyên liệu thô, nhiều công
ty đa quốc gia tìm cách đầu tư vào những nước có nguồn tài nguyên phong phú.
Vd: Làn song đầu tư ra nước ngoài lớn đầu tiên của Nhật Bản vào thập niên 1950
là vì mục đích này. FDI của Trung Quốc hiện nay cũng có mục đích tương tự.

4. Tác động của FDI đối với nước nhận đầu tư
4.1.Các tác động tích cực của FDI
a) Là nguồn hỗ trợ cho phát triển.
FDI là một trong những nguồn quan trọng để bù đắp sự thiếu hụt về vốn ngoại tệ
của các nước nhận đầu tư, đặc biệt là đối với các nước kém phát triển. Vốn đầu tư
là cơ sở tạo ra công ăn việc làm trong nước, đổi mới công nghệ, kỹ thuật, tăng
năng suất lao động vv Từ đó tăng thu nhập, tăng tích lũy cho sự phát triển của xã
hội. Tuy nhiên để tạo ra vốn cho nền kinh tế chỉ trông chờ vào vốn nội bộ thì hậu
quả khó tránh khỏi là sẽ tụt hậu trong sự phát triển chung của thế giới. Do đó FDI
nguồn quan trọng để khắc phục tình trạng thiếu vốn mà không gây nợ cho các
nước nhận đầu tư. Không như vốn vay nước đầu tư chỉ nhận một phần lợi nhuận
thích đáng khi công trình đầu tư hoạt động có hiệu quả. Hơn nữa lượng vốn này
còn có lợi thế hơn nguồn vốn vay ở chỗ. Thời hạn trả nợ vốn vay thường cố định
và đôi khi quá ngắn so với một số dự án đầu tư, còn thời hạn vốn FDI thì linh hoạt
hơn.Vì vậy FDI góp phần làm tăng khả năng cạnh tranh và mở rộng khả năng xuất
khẩu của nước nhận đầu tư, thu một phần lợi nhuận từ các công ty nước ngoài, thu

phát triển. Nó là tiền đề, là chỗ dựa để khai thác những tiềm năng to lớn trong
nước nhằm phát triển nền kinh tế.
d) Thúc đẩy quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong bộ phận quan trọng của hoạt động kinh tế
đối ngoại. Thông qua các quốc gia sẽ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình phân
công lao động quốc tế. Để hội nhập vào nền kinh tế giữa các nước trên thế giới,
đòi hỏi mỗi quốc gia phải thay đổi cơ cấu kinh tế trong nước cho phù hợp với sự
phân công lao dộng quốc tế. Sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế của nước phù hợp với
trình độ chung trên thế giới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư nước
ngoài. Ngược lại, chính hoạt động đầu tư lại góp phần thúc đẩy nhanh quá trình
dịch chuyển cơ cấu kinh tế. Bởi vì:
Một là, thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp nướcngoài đã làm xuất hiện nhiều
lĩnh vực và ngành kinh tế mới ở các nước nhận đầu tư.
Hai là, đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp vào sự phát triển nhanh chóng trình độ kỹ
thuật công nghệ ở nhiều nghành kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng năng suất lao
động ở một số ngành này và tăng tỷ phần của nó trong nền kinh tế.
Ba là, một số ngành được kích thích phát triển bởi đầu tư trực tiếp nước ngoài,
nhưng cũng có nhiều ngành bị mai một đi, rồi đi đến chỗ bị xóa bỏ.
e) Một số tác động khác.
Ngoài những tác động trên đây, đầư tư trực tiếp nước ngoài còn có một sốtác
động sau:Đóng góp phần đáng kể vào nguồn thu ngân sách Nhà nước thông qua

6
việc nộp thuế của các đơn vị đầu tư và tiền thu tư việc cho thuê đất Đầu tư trực
tiếp nước ngoài cũng đóng góp cải thiện cán cân quốc tế cho nước tiếpnhận đầu tư.
Bởi vì hầu hết các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài là sản xuất ra các sản phẩm
hướng vào xuất khẩu phần đóng góp của tư bản nước ngoài và việc phát triển xuất
khẩu là khá lớn trong nhiều nước đang phát triển. Cùng với việc tăng khả năng
xuất khẩu hàng hóa, đầu tư trực tiếp nước ngoài còn mở rộng thị trường cả trong
nước và ngoài nước. Đa số các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đều có phương

gia là những bên đối tác nước ngoài để chúng ta có thể tiêu thụ hàng hóa vì các
công ty này nắm hầu hết các kênh tiêu thụ hàng hóa từ nước này sang nước khác.
Vậy nếu càng dựa nhiều vào đầu tư trực tiếp nước ngoài, thì sự phụ thuộc của nền
kinh tế vào các nước công nghiệp phát triển càng lớn. Nhưng vấn đề này có xảy ra
hay không còn phụ thuộc vào chính sách và khả năng tiếp nhận kỹ thuật của từng
nước. Nếu nước nào tranh thủ được vốn, kỹ thuật và có ảnh hưởng tích cực ban

7
đầu của đầu tư trực tiếp nước ngoài mà nhanh chóng phát triển công nghệ nội đại,
tạo nguồn tích lũy trong nước, đa dạng hóa thị trrường tiêu thụ và tiếp nhận kỹ
thuật mới cũng như đẩy mạnh nghiên cứu và triển khai trong nước thì sẽ được rất
nhiều sự phụ thuộc của các công ty đa quốc gia.
c) Chi phí cho thu hút FDI và sản xuất hàng hóa không thích hợp.
- Chi phí của việc thu hút FDI:
Để thu hút FDI, các nước đầu tư phải áp dụng một số ưu đãi cho các nhà đầu tư
như là giảm thuế hoặc miễn thuế trong một thời gian khá dài cho phần lớn các dự
án đầu tư nước ngoài. Hoặc việc giảm tiền cho họ cho việc thuê đất, nhà xưởng và
một số các dịch vụ trong nước là rất thấp so với các nhà đầu tư trong nước. Hay
trong một số lĩnh vực họ được Nhà nước bảo hộ thuế quan Và như vậy đôi khi
lợi ích của nhà đầu tư có thể vượt lợi ích mà nước chủ nhà nhận được. Thế mà, các
nhà đầu tư còn tính giá cao hơn mặt bằng quốc tế cho các yếu tố đầu vào. Các nhà
đầu tưt hường tính giá cao cho các nguyên vật liệu,bán thành phẩm, máy móc thiết
bị mà họ nhập vào để thực hiện đầu tư. Việc làm này mang lại nhiều lợi ích cho
các nhà đầu tư chẳng hạn như trốn được thuế, hoặc giấu được một số lợi nhuận
thực tế mà họ kiếm được. Từ đó hạn chế cạnh tranh của các nhà đầu tư khác xâm
nhập vào thịtrường. Ngược lại, điều này lại gây chi phí sản xuất cao ở nước chủ
nhà và nước chủ nhà phải mua hàng hóa do các nhà đầu tư nước ngoài sản xuất
với giá cao hơn. Tuy nhiên việc tính giá cao chỉ sảy ra khi nước chủ nhà thiếu
thông tin, trình độ kiểm soát, trình độ quản lý, trình độ chuyên môn yếu, hoặc các
chính sách của nước đó còn nhiều khe hở khiến cho các nhà đầu tư có thể lợi dụng

Về vốn đăng ký năm 2011
Tính đến 15/12/2011, vốn đăng ký mới và tăng thêm tại Việt Nam đạt 14,7 tỷ
USD, bằng 74% so với năm 2010. Riêng vốn đăng ký mới đạt 11,6 tỷ USD, bằng
65% năm 2010 nhưng đã có những chuyển biến theo hướng tích cực. Vốn đăng ký
năm 2011 tập trung 76,4% vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, cao hơn hẳn tỷ
trọng đầu tư vào lĩnh vực này năm 2010 (54,1%). Đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh
bất động sản năm 2011 chỉ chiếm 5,8% tổng vốn đăng ký (trong khi năm 2010
lĩnh vực này chiếm 34,3% tổng vốn đăng ký). Vốn đăng ký tăng thêm đạt 3,1 tỷ
USD, tăng 1,65 lần mức vốn đăng ký tăng thêm của năm 2010 (1,89 tỷ USD).
Điều này cho thấy các nhà đầu tư nước ngoài vẫn có sự đánh giá tích cực về môi
trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.
Về vốn thực hiện và kết quả hoạt động của doanh nghiệp FDI năm 2011
Vốn thực hiện của khu vực FDI tại Việt Nam năm 2011 ước đạt 11 tỷ USD,
bằng với mức thực hiện của năm 2010 và đóng góp 25,9% tổng vốn đầu tư toàn xã
hội.
Xuất khẩu của khu vực FDI (kể cả dầu thô) ước đạt 54,5 tỷ USD, chiếm
59% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, tăng 39,3% so với năm 2010, cao hơn
mức tăng trưởng xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước. Giá trị kim ngạch xuất
khẩu khu vực FDI (không kể dầu thô) ước đạt 47,2 tỷ USD. Góp phần làm giảm
gánh nặng cho cán cân thương mại. Nhập khẩu của khu vực FDI là 47,8 tỷ USD,
tăng 29,3% so với năm 2010.
Thu nội địa từ khu vực FDI năm 2011 khoảng 3,5 tỷ USD, tăng 15% so với
năm 2010 (3,04 tỷ USD). Thu từ dầu thô vượt dự toán năm gần 44% và ước đạt
4,8 tỷ USD. Khu vực FDI góp phần đáng kể tăng thu ngân sách và do đó, làm
giảm bội chi ngân sách nhà nước.
Theo đánh giá của các tổ chức quốc tế, Việt Nam vẫn là địa chỉ hấp dẫn đầu
tư đối với các nhà đầu tư thế giới. Điều tra triển vọng đầu tư thế giới (WIPS)
2010-2012 của Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên hợp quốc (UNCTAD) cho
thấy Việt Nam đã thăng hạng 3 bậc, đứng thứ nhất trong ASEAN về mức độ hấp
dẫn FDI và là một trong 10 nền kinh tế hấp dẫn nhất đối với các nhà đầu tư nước

án đối tác chiến lược, Danh mục quốc gia kêu gọi đầu tư nước ngoài giai đoạn
2011-2015 và Nghị quyết của Chính phủ về ban hành Quy định về quản lý nhà
nước về xúc tiến đầu tư trình Thủ tướng Chính phủ trong thời gian tới.
Công tác quản lý nhà nước được tăng cường:
- Công tác cấp phép đầu tư: Các cơ quan cấp phép trong năm qua nhìn
chung đã xem xét kỹ hơn, chuyên sâu để hạn chế các dự án kém hiệu quả và các
nhà đầu tư thiếu năng lực. Thời gian cấp phép và cơ chế phối hợp trong quá trình
xem xét, cấp GCNĐT đã có những chuyển biến tích cực theo hướng đơn giản và
nhanh chóng. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số những bất cập do luật
pháp còn chưa đồng bộ, quy hoạch chưa rõ ràng.
- Về quản lý sau cấp phép: Trong năm qua, các cơ quan quản lý nhà nước
về đầu tư ở địa phương tuy đã có cố gắng nhưng đôi khi còn quá tải, chưa chủ
động nên chưa sâu sát tình hình triển khai thực hiện dự án. Năm qua, Bộ Kế hoạch
và Đầu tư đã cùng với các Bộ, ngành tiến hành một số cuộc kiểm tra trong lĩnh
vực xi măng, bất động sản, chuyển giá; rà soát việc vay vốn trong nước để nắm
bắt tình hình thức tế, khó khăn vướng mắc của doanh nghiệp từ đó đề xuất các
biện pháp xử lý phù hợp.
- Về công tác phối hợp giữa các cơ quan: Trong năm 2011, Bộ Kế hoạch
và Đầu tư cũng đã triển khai công tác phối hợp với các Bộ, ngành và các địa
phương thông qua các cuộc giao ban định kỳ về ĐTNN; tiếp tục duy trì các cuộc

10
đối thoại chính sách với cộng đồng doanh nghiệp thông qua kênh diễn đàn doanh
nghiệp, Sáng kiến chung Việt Nam - Nhật Bản, gặp mặt với một số Hiệp hội
doanh nghiệp nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.
- Về công tác thông tin:
1) Để tăng cường công tác quản lý, hệ thống thông tin quốc gia về ĐTNN
đang được xây dựng. Các thông tư quy định về báo cáo thống kê; kiểm tra, giám
sát hoạt động đầu tư đã được dự thảo, chuẩn bị ban hành. Làm tốt công tác này
cũng sẽ phục vụ tốt cho việc phân tích xây dựng chính sách. Năm 2012 Bộ KHĐT

du lịch sinh thái bãi biển rồng tại Quảng Nam, dự án Công ty TNHH thành phố
mới Nhơn Trạch Berjaya tại Đồng Nai và dự án Công ty TNHH một thành viên
Galileo Investment Group Việt Nam có tổng vốn đầu tư lần lượt là 4,15 tỷ USD, 2
tỷ USD và 1,68 tỷ USD

11
Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo có quy mô vốn đăng ký lớn thứ ba trong
năm 2009 với 2,97 tỷ USD vốn đăng ký, trong đó có 2,22 tỷ USD đăng ký mới và
749 triệu USD vốn tăng thêm.
Theo đối tác đầu tư:
Trong năm 2009, có 43 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam,
các nhà đầu tư lớn nhất lần lượt là Hoa Kỳ với tổng vốn đăng ký là 9,8 tỷ USD
chiếm 45,6% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam, Cayman Islands đứng thứ 2 với tổng
vốn đăng ký 2,02 tỷ USD chiếm 9,4%, đứng thứ 3 là Samoa với tổng vốn đăng ký
1,7 tỷ USD chiếm 7,9%; Hàn Quốc đứng thứ 4 với 1,66 tỷ USD vốn đăng ký,
chiếm 7,7% tổng vốn đầu tư đăng ký.
Theo địa bàn đầu tư:
Bà Rịa-Vũng Tàu là địa phương thu hút nhiều vốn ĐTNN nhất trong năm 2009
với 6,73 tỷ USD vốn đăng ký mới và tăng thêm. Tiếp theo là Quảng Nam, Bình
Dương, Đồng Nai và Phú Yên với quy mô vốn đăng ký lần lượt là 4,1 tỷ USD; 2,5
tỷ USD; 2,36 tỷ USD và 1,7 tỷ USD.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Hà N
ội ng
ày
24 tháng 12
năm 2009 PHÂN THEO NGÀNHTính t
ừ 01/01/2009 đến 15/12/2009

TT Ngành
Số dự
án cấp
mới
Vốn đăng
ký c
ấp mới

3,811.7

8,794.22
KD b
ất động sản

39

7,372.4

4

236.1

7,608.53
CN ch
ế biến,chế tạo

245

2,220.0

131



397.06
Ngh
ệ thuật v
à gi
ải trí

12

291.8

0

0.0

291.87
Bán buôn,bán l
ẻ;sửa chữa

115

191.7

14


129.0

1

27.9

156.910
HĐ chuyên môn, KHCN

148

89.0

7

10.9

99.911
Thông tin và truy
ền thông

63


ạo

8

5.2

3

23.7

28.914
D
ịch vụ khác

22

14.9

5

7.9

22.715
C
17
Hành chính và dv
ụ hỗ trợ

5

7.9

0

0.0

7.918
Tài chính,n.hàng,b
ảo hiểm

1

0.0

0

0.0

0.0
PHÂN THEO H
ÌNH TH
ỨCTính t
ừ 01/01/2009 đến 15/12/2009

TT Hình thức đầu tư
Số dự
án cấp
mới
Vốn đăng
ký c
ấp mới
(triệu USD)

4,695.5

18,431.92
Liên doanh

161

1,696.6

39

392.0

2,088.63
H
ợp đồng hợp tác kinh doanh

7

399.6

2

2.4

5,136.7

21,482.1
PHÂN THEO Đ
ỐI TÁCTính t
ừ 01/
01/2009 đ
ến 15/12/2009


cấp mới và
tăng thêm
(triệu USD)
1
Hoa K


43

5,948.2

12

3,854.9

9,803.12
Cayman Islands

3

2,016.5

1

2.4

2,018.9


5
Đài Loan

53

1,355.7

22

57.3

1,413.16
BritishVirginIslands

33

1,074.2

9

33.7

1,107.97

Nh
ật Bản

77

138.3

39

234.4

372.7
13
10
Liên bang Nga

3

345.7

1

0.0

345.7
Malaysia

29

150.7

9

18.1

168.714
Hà Lan

14

45.6

5

89.9

135.515
CHLB Đ
ức

24

90.0

3

1.3

91.318
Thái Lan

19

77.4

5

13.3

90.719
Đan M
ạch

12


0

0.0

49.422
Vương qu
ốc Anh

8

40.6

4

2.7

43.323
Canada

14

31.8


4.0

22.426
Tây Ban Nha

8

9.7

0

0.0

9.727
Indonesia

1

2.1

1

7.0



30
Bungary

1

0.9

1

1.5

2.431
Ma r
ốc

2

2.0

0

0.0

2.0
Nigeria

5

1.2

0

0.0

1.235
B


3

1.1

0

0.0

1.136
Maurice


2

0.3

0

0.0

0.339
Na Uy

2

0.2

2

0.0

0.240
Srilanca

1


0.0

0

0.0

0.043
Belize

0

0.0

1

0.0

0.0

T
ổng số

839


Tính t
ừ 01/01/2009 đến 15/12/2009 14
TT Địa phương
Số dự
án cấp
mới
Vốn đăng
ký c
ấp mới
(triệu USD)

Số lượt
dự án
tăng vốn

V
ốn đăng

ảng Nam

1

4,150.0

1

24.6

4,174.63
Bình D
ương

95

2,152.8

50

349.3

2,502.14
Đ


318

984.4

70

401.2

1,385.68
Hà N
ội

219

413.9

43

242.9

656.79
D
ầu khí

11

155.6

2

13.0

168.612
Bình Thu
ận

11

134.8

0

0.0

134.813
Ninh Thu
ận


12

94.4

0

0.0

94.416
Khánh Hòa

5

67.2

5

26.5

93.717
V
ĩnh Phúc

5


8

17.1

5

42.5

59.620
Long An

20

28.9

9

21.4

50.321
Lâm Đ
ồng


ãi

2

28.5

0

0.0

28.524
Th
ừa Thi
ên
-
Hu
ế

3

26.8

1

1.5

28.3

24.327
Thái Nguyên

3

19.6

1

4.3

23.928
B
ắc Ninh

10

23.6

0

0.0

23.6


31
Đ
ắc Lắc

1

18.0

0

0.0

18.032
Ti
ền Giang

2

11.7

1

4.0

15.7


35
Phú Th


2

13.0

0

0.0

13.036
Hà Nam

4

7.4

0

0.0

7.437


39
Bình
Đ
ịnh

1

6.0

0

0.0

6.040
Thái Bình

1

3.0

0

0.0

3.0


2.443
H
ậu Giang

1

1.0

0

0.0

1.044
Đ
ồng Tháp

1

0.2

0

0.0


21,482.1 Nguồn :
www.dpi.hochiminhcity.gov.vn/
2 Một số biện pháp đề xuất nhằm thu hút hiệu quả
Bên cạnh những chính sách nhằm tăng cường việc thu hút dòng vốn FDI như
tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư về: luật pháp, cơ sở hạ tầng, thủ tục hành
chính, trình độ quản lý, ổn định kinh tế vĩ mô, cải cách hệ thống tài chính – ngân
hàng, Việt Nam cần thực hiện một số giải pháp sau:
Thứ nhất, cần xây dựng chiến lược thu hút và sử dụng có hiệu quả dòng vốn
FDI, lồng ghép chiến lược này vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt
Nam trong tương lai cũng như vào chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế của Việt
Nam. Chiến lược này sẽ cho phép giải quyết các vấn đề như: quy hoạch tổng thể
các ngành và vùng thu hút FDI, đặt ra các ưu tiên cho việc thu hút FDI, tránh được
những vấn đề bất cập trong phân cấp đầu tư, tránh được sự manh mún và tản mạn
trong xúc tiến đầu tư, kết hợp có hiệu quả dòng vốn ODA, vốn FDI và vốn đầu tư
gián tiếp nước ngoài (FII) trong phát triển kinh tế.

hợp này sẽ khiến cho công tác xúc tiến đầu tư được tiến hành theo một hướng
thống nhất, tránh việc lãng phí do chồng chéo cũng như tiết kiệm được nguồn lực.
Bên cạnh đó cần tiến hành việc mục tiêu hóa các ngành, các lĩnh vực cần được ưu
tiên đầu tư để đề ra các chiến lược xúc tiến phù hợp từ các TNC lớn và trong
những trường hợp cần thiết cần thực hiện việc xúc tiến ở cấp nguyên thủ quốc gia.
Sau khi xúc tiến đầu tư thành công nên có công tác hỗ trợ và tạo điều kiện thuận
lợi cho các nhà đầu tư. Ngoài ra, Việt Nam cũng cần trở thành thành viên của tổ
chức xúc tiến đầu tư thế giới (WAIPA) nhằm nắm bắt được những xu hướng phát
triển mới nhất của FDI trên thế giới và học hỏi các kinh nghiệm tốt nhất trong việc
xúc tiến đầu tư.
Thứ sáu, các doanh nghiệp trong nước cần tận dụng những lợi ích lan tỏa từ
các công ty xuyên quốc gia (TNC) lớn bằng cách xây dựng chiến lược tham gia
vào chuỗi giá trị của các công ty này trên thị trường thế giới cũng như trong nước
với tư cách là nhà thầu phụ, nhà cung ứng các dịch vụ đầu vào và đầu ra, cung ứng
nguồn lao động, đặc biệt là lao động có chất lượng cao…Chính phủ cũng cần có
những chính sách riêng hỗ trợ cho các doanh nghiệp này trong việc phát triển các
ngành công nghiệp phụ trợ, kể cả trong việc liên doanh với nước ngoài.
Thứ bảy, cùng với quá trình hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới và khu
vực, những lĩnh vực được bảo hộ mạnh như ô tô, xe máy… sẽ được tự do hóa và
nhiều doanh nghiệp FDI có thể phải chuyển hướng kinh doanh hoặc ngừng hoạt
động, do đó Việt Nam cần nghiên cứu sâu hơn về hình thức M&A để có thể áp
dụng tại Việt Nam nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự di chuyển của dòng vốn
FDI.
Tóm lại, với việc bảo đảm môi trường chính trị, xã hội ổn định, tạo điều kiện
thuận lợi cho việc đầu tư của mọi thành phần kinh tế, trong đó có đầu tư nước
ngoài, thực hiện chính sách phát triển bền vững cùng những biện pháp nêu trên sẽ
góp phần củng cố niềm tin cho các nhà đầu tư. Việt Nam sẽ là điểm đến ngày càng

17
hấp dẫn đối với các nhà đầu tư khi họ cảm thấy yên tâm và hứa hẹn có đồng tiền


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status