PHÂN TÍCH TÀI NGUYÊN RỪNG TRÊN CẠN Ở VƯỜN QUỐC GIA PHÚ QUỐC, HUYỆN PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG - Pdf 28

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
___________________
CHUYÊN ĐỀ HỆ SINH THÁI
PHÂN TÍCH TÀI NGUYÊN RỪNG TRÊN CẠN
Ở VƯỜN QUỐC GIA PHÚ QUỐC,
HUYỆN PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
Giảng viên hướng dẫn:
NGÔ THỤY DIỄM TRANG
Sinh viên thực hiện:
1. TÔN THỊ
THẢO
NGUYÊN
B1207388
2. NGUYỄN THỊ CẨM VÂN B1207435
3. NGUYỄN HẢI MINH B1309287
4. TRẦN NGỌC NGÂN B1309293
5. NGUYỄN PHI VÂN B1309354
Cần Thơ, 2015
MỤC LỤC
Chương 1: Giới thiệu ……………………………………………………………. 1
1.1. Lý do chọn đề tài ………………………………………………………… 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu …………………………………………………… 1
1.2.1. Mục tiêu chung …………………………………………………… 1
1.2.2. Mục tiêu cụ thể …………………………………………………… 1
1.3. Phạm vi nghiên cứu ……………………………………………………… 2
1.3.1. Về thời gian ………………………………………………………. 2
1.3.2. Về không gian ……………………………………………………. 2
1.3.3. Đối tượng nghiên cứu ……………………………………………. 2
1.4. Phương pháp nghiên cứu ……………………………………………… 2
1.4.1. Phương pháp thu thập số liệu ……………………………………. 2

sinh. Nơi đây còn hội tụ nhiều nét đẹp của thiên nhiên với rừng, biển, suối, thác và núi đồi.
Với tổng diện tích trên 31.422 ha, Vườn Quốc gia Phú Quốc được chia thành 3 phân khu
chức năng: phân khu bảo vệ nghiêm ngặt (8.786 ha), phân khu phục hồi sinh thái (22.603
ha), và phân khu hành chính - dịch vụ - nghiên cứu khoa học (33 ha).
Hệ thực vật ở Vườn Quốc gia Phú Quốc khá phong phú. Thảm thực vật ở đây chủ yếu là
rừng thường xanh mọc trên địa hình đồi núi thấp với tổng số lượng lên tới vài trăm loài, bao
gồm: các loài cây đại mộc (tràm, đậu, vên vên, dầu song nàng, dầu cát, cầy, dẻ, săng sót, da,
bứa,…), các loài phong lan quý (Lan Vân Hài, Ái Lan Lá Đẹp, Âm Lan Núi…), các loài
dược thảo quý (hà thủ ô, bí kỳ nam, cam thảo, nhân trần, đỗ trọng, sa nhân…) và một số loài
sống ký sinh khác (phong lan, dương xỉ, dây leo bông trắng…). Bên cạnh một hệ thực
vật phong phú, hệ động vật ở đây cũng rất đa dạng bao gồm: 30 loài thú, trong đó 5 loài
được ghi vào sách Đỏ Việt Nam như: sói rừng, khỉ bạch, vượn pillê…; 200 loài chim với 4
loài được ghi vào danh mục Đỏ của tổ chức IUCN và 3 loài ghi vào sách Đỏ Việt Nam; 50
loài bò sát, trong đó 9 loài được ghi vào danh mục IUCN và 18 loài ghi vào sách Đỏ trong
nước… Với hệ sinh thái rừng phong phú, Vườn Quốc gia Phú Quốc là một trong những
trung tâm đa dạng sinh học của nước ta. Hiện nay, Vườn Quốc gia Phú Quốc đang được bảo
tồn, phát triển và tiếp tục nhân giống, sưu tầm những loài động vật hoang dã, quý hiếm đang
có nguy cơ tuyệt chủng.
Chính vì những yếu tố trên nên nhóm đã chọn đề tài “Phân tích tài nguyên rừng trên
cạn ở Vườn Quốc gia Phú Quốc, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang” đây là một “di sản”
của tự nhiên cần được bảo vệ và phát triển.
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1. Mục tiêu chung
Tìm hiểu về hệ sinh thái rừng trên cạn tại Vườn Quốc gia Phú Quốc nhằm đi sâu
nghiên cứu về tài nguyên rừng và biện pháp cải thiện nguồn tài nguyên này ở địa phương.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
4
- Tìm hiểu khái quát hệ sinh thái rừng trên cạn ở Vườn Quốc gia Phú Quốc. Vai trò
chức năng của tài nguyên rừng trên cạn ở Hệ sinh thái này.
- Hiện trạng sử dụng nguồn tài nguyên rừng ở Vườn Quốc gia Phú Quốc.

Vườn Quốc gia Phú Quốc trải dài từ 10°12' đến 10°27' vĩ bắc và từ 103°50' đến 104°04'
kinh đông, nằm về phía đông bắc đảo Phú Quốc. Vườn Quốc gia Phú Quốc có địa hình đồi
núi, độ dốc không lớn. Vườn Quốc gia Phú Quốc là núi Chúa cao 603m. Đây là nơi tập
trung nhiều suối, nhưng chủ yếu chỉ có nước theo mùa. Chỉ có một con sông khá lớn trên
đảo là Rạch Cửa Cân, chảy về phía nam Vườn Quốc gia và đổ ra bờ biển phía tây đảo.
2.1.1. Yếu tố vô sinh:
- Khí hậu:
Chi phối bởi chế độ gió mùa đông nam, khu vực có khí hậu ẩm ướt rất mùa nhiệt đới.
Nhiệt độ trung bình hàng năm là 25-27
o
C, với một sự thay đổi nhiệt độ quanh năm của 3
o
C,
ít hơn so với biên độ ban ngày của 6
o
C. Tổng lượng mưa trong khu vực này là khoảng 3.038
mm. Mùa mưa kéo dài với gió mùa đông nam, từ tháng Sáu đến tháng Mười Một. Tổng số
ngày mưa là 23-24 mỗi tháng và số lượng là 450 mm mỗi tháng trong tháng Bảy, tháng Tám
và tháng Chín. Đông Nam gió mùa đạt cấp IV, trung bình 4-5 m/s. Mùa khô xảy ra trong
những tháng emaining năm, tức là từ tháng mười hai-tháng tư của năm tiếp theo.
Giống như ở các tỉnh khác ở đồng bằng sông Cửu Long, Phú Quốc rất ít phải chịu
đựng những cơn bão. Quan sát trong 100 năm, những cơn bão xảy ra vào những năm 1905
và năm 1997 với tốc độ gió hơn 100 km/h. Nhìn chung, khí hậu thuận lợi cho du lịch quanh
năm và các hoạt động vui chơi giải trí ngoài trời (ngoại trừ trong tháng nhiều mưa).
Sau đây là những số liệu khí hậu của Phú Quốc:
Bảng 1: Dữ liệu khí hậu của đảo Phú Quốc.
ĐẶC TÍNH GIÁ TRỊ
(1) Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình hàng năm
Nhiệt độ cao nhất hàng năm
Nhiệt độ thấp nhất hàng năm

Vườn Quốc gia Phú Quốc được giới hạn bởi các biển phía Bắc, Đông và Tây với
đường bờ biển khoảng 60 km chiều dài và bị ảnh hưởng bởi một chế độ thủy triều bán nhật
triều của vịnh Thái Lan. Nội địa có lượng nước mặt phong phú, do lượng mưa cao vào mùa
xuân và mật độ sông suối dày đặc. Vào mùa xuân, mật độ sông suối là 0,42 km/km
2
(mật độ
lớn nhất trong số các đảo ở Việt Nam). Có hai hệ thống sông chính ở hòn đảo này, trong đó
lưu vực của nó là lớn hơn 10 km
2
, chiếm một diện tích lưu vực tổng số khoảng 25% trong
tổng diện tích đảo:
+ Sông Cửa Cạn nhận nước từ núi Chùa, có chiều dài sông là 28,75 km, tổng chiều
dài của lò xo là 69 km, diện tích lưu vực là 147 km
2
.
+ Sông Dương Đông bắt đầu trong núi Đà Bắc, có chiều dài sông là 18,5 km, tổng
chiều dài của lò xo là 63 km, diện tích lưu vực là 105 km
2
.
Các sông khác là Trâm, Vũng Bầu, và Ca mà có kích thước nhỏ. Nói chung mặc dù
suối và sông ở khu vực này là ngắn và nhỏ, nhưng mạng lưới lại được phát triển tốt, do
lượng mưa cao (hơn 3.000mm mỗi năm). Bên cạnh đó, địa hình của khu vực này làm cho
các con sông và suối tập trung nhiều hơn ở phần phía tây so với ở phần phía đông. Là dòng
chảy biến thời vụ cao và do đó giao thông đường thủy trên suối là không thể.
Phong phú về nước ngầm và được phân bố đều các khu vực, trong khi nước tầng
chứa nước ở phần phía bắc là khó khăn hơn; Ví dụ, ở Gành Dầu, hai hố chán lên đến 30 -
40m ở độ sâu không thể sản xuất ra nước. Chất lượng nước mặt không chứa nồng độ cao
của canxi và magiê. Theo một phân tích được thực hiện bởi các Viện Vệ sinh dịch tễ Trung
ương, nước bề mặt đáp ứng yêu cầu để sử dụng trong nước.
7

Côn Đảo 15.043 67 26 11
Cát Bà 15.200 65 26 13
(nguồn: Đề xuất dự án cho Công viên quốc gia Côn Đảo, Furey N., et al., 2002.)
- Về thực vật
Vườn Quốc gia Phú Quốc khá phong phú có 1.164 loài thực vật bậc cao, gồm 137 họ
và 531 chi trong đó có 5 loài khỏa tử (ngành hạt trần thuộc 3 họ và 4 chi). Số loài dùng dược
liệu là 155 (34 loài là thuốc bổ và 11 loài chữa các bệnh hiểm nghèo) như hà thủ ô, bí kỳ
nam, cam thảo, nhân trần, đỗ trọng, sa nhân Thảm thực vật ở đây chủ yếu là rừng thường
xanh mọc trên địa hình đồi núi thấp với tổng số lượng lên tới vài trăm loài, bao gồm: các
loài cây đại mộc (tràm, đậu, vên vên, dầu song nàng, dầu cát, cầy, dẻ, săng sót, da, bứa, ),
8
có 23 loài phong lan quý (Lan Vân Hài, Ái Lan Lá Đẹp, Âm Lan Núi ), và một số loài sống
ký sinh khác (phong lan, dương xỉ, dây leo bông trắng ).
Thực vật cần bảo tồn gồm 12 loài quý hiểm thuộc 7 họ và 54 loài đặc hữu thuộc 9 họ,
trong đó có tên mang địa danh Phú Quốc như Cù đèn Phú Quốc, Diệp hạ châu Phú Quốc.
Nhiều loài được ghi trong sách đỏ IUCN như: Trắc nam bộ, Thông lông gà, Kim giao,
Hoàng Đàn giả và các loài cây đặc hữu trong họ sao dầu như Sao đen, Kiền kiền… Loài Lan
Vân Hài có nguy cơ tuyệt chủng toàn cầu cũng vừa được phát hiện tại đây. Ngoài ra còn ghi
nhận 2 loài Lan mới cho Việt Nam: Nhẵn diệp và Ái lan Mỹ diệp.
Bảng 4: So sánh các thành phần thực vật trong Vườn Quốc gia Phú Quốc và
trong hai công viên quốc gia khác ở miền Nam Việt Nam
Vườn Quốc
Gia
Diện tích
(ha)
Số loài Họ Bộ
Năm nghiên
cứu
Phú Quốc 31.442 1.164 137 66 2003
Cát Tiên 74.219 1.610 162 75 2000

để người dân ổn định cuộc sống. Ngoài ra, diện tích đất đó, người dân Phú Quốc còn tận
dụng để phát triển nghề trồng hồ tiêu, một đặc sản nổi tiếng của huyện đảo Phú Quốc.
- Các cánh rừng trong hệ sinh thái Vườn Quốc gia Phú Quốc góp phần tạo cảnh quan
môi trường sinh thái, khu vui chơi giải trí, khu du lịch sinh thái,…
- Tài nguyên rừng ở đây còn tạo một môi trường học tập, nghiên cứu khoa học về
nguồn tài nguyên phong phú này, đặc điểm thổ nhưỡng, sinh thái học – môi trường,…
- Nơi này còn được xem như một “lá chắn xanh” bảo vệ cuộc sống con người ở vùng
biển Phú Quốc, một “máy lọc sinh học khổng lồ” hấp thu lượng CO
2
lớn, góp phần tạo
nguồn không khí trong lành.
2.2.2. Đối với phát triển kinh tế xã hội
- Hệ sinh thái rừng, trước hết cung cấp sự đa dạng về các loại hình kinh tế, bổ sung
cho sự phát triển khai thác gỗ, củi, lá,… từ các cây trong rừng, các loại lâm sản và dược
phẩm, mật ong.
- Sim rừng khai thác từ những cánh rừng tạo một nguồn thu nhập lớn cho Phú Quốc
khi phát triển ngành nghề làm rượu sim và các sản phẩm làm từ sim.
- Cảnh quan rừng trên cạn tại hệ sinh thái Vườn Quốc gia Phú Quốc tạo nên một môi
trường giúp phát triển du lịch sinh thái ở Phú Quốc. Đây là nguồn thu chính trong GDP của
Phú Quốc trong những năm gần đây.
2.3. HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN RỪNG TRÊN CẠN Ở VƯỜN QUỐC
GIA PHÚ QUỐC
- Tổng diện tích tự nhiên của Vườn Quốc gia là 31.422 ha, trong đó đất lâm nghiệp
chiếm 27.814 ha, đất đai sẵn sàng cho phát triển rừng là 3.104 ha. So với tổng diện tích tự
nhiên của toàn huyện đảo, khu vực của Vườn chiếm 66%, đất có rừng chiếm 58,5%, đất
trống đồi núi trọc phát triển rừng chiếm 6,5%, và đất nông nghiệp chiếm 1%.
10
Bảng 6: Diện tích đất lâm nghiệp, nông nghiệp ở huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên
Giang.
Diện tích (ha) Phần trăm (%)

rừng” (gọi là Chương trình 661). Quỹ đã đầu tư trực tiếp cho phát triển lâm nghiệp như quản
11
lý, bảo vệ, trồng và phục hồi. Kinh phí dành cho nghiên cứu khoa học và phát triển du lịch
sinh thái rừng là rất ít.
• Du lịch sinh thái tại Vườn Quốc gia Phú Quốc:
Vườn Quốc gia Phú Quốc được thành lập vào năm 2001 bằng việc nâng cấp Khu
bảo tồn thiên nhiên Phú Quốc trước đây, theo Quyết định số 91/2002/QĐ-TTg của Thủ
tướng Chính phủ ngày 08 tháng 6 năm 2001. Vườn Quốc gia Phú Quốc được mô tả như là
một vị trí quan trọng của rừng nguyên sinh trên đảo được duy trì mà không cần bất cứ tác
động lớn nào. Khu vực này bao gồm các hệ sinh thái rừng nhiệt đới với hệ thực vật đa dạng
và hệ động vật, trong đó đã được làm giàu bởi các thành phần sinh học khác nhau từ những
nơi khác trên thế giới, kết quả là phân tán của quá khứ và di trú. Đa dạng sinh học các loài
của nó, bao gồm cả loài quý hiếm hoặc loài mới được xác định đối với ngành khoa học sinh
học và cho Việt Nam, được đánh giá là có một tầm quan trọng tương đương với các khu bảo
tồn và vườn quốc gia khác ở Việt Nam. Ngoài ra, để bảo tồn các giá trị, các nguồn tài
nguyên thiên nhiên của Vườn Quốc gia Phú Quốc đồng thời tạo một sức hấp dẫn cao cho
phát triển du lịch sinh thái, tạo ra một nguồn thu nhập đó sẽ đóng góp hiệu quả vào nỗ lực
bảo tồn của Vườn Quốc gia Phú Quốc cũng như kinh tế-xã hội phát triển của người dân địa
phương trong khu vực.
Du lịch sinh thái đã được nhấn mạnh trong văn kiện dự án cũng như trong Quyết
định nêu trên để đầu tư vào sự phát triển của các Vườn Quốc gia Phú Quốc và vùng đệm của
nó trong giai đoạn 2001-2005, tuy nhiên đã không được thực hiện đầy đủ. Theo Quyết định
số 178/2004 /QĐ-TTg ngày 10 tháng 10 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ,
huyện đảo Phú Quốc cần được phát triển hướng tới một trung tâm lớn và hiện đại cho ngành
du lịch và thương mại quốc tế của Đồng bằng Sông Cửu Long - khu
vực Tây Nam trong năm 2020 và dần dần hướng tới trở thành một trung tâm du lịch và
thương mại quốc tế tại khu vực và quy mô quốc tế.
Với sự giúp đỡ và hỗ trợ của Wildlife at Risk (WAR), một chiến lược du lịch sinh
thái của VQG PQ đã được soạn thảo. Quá trình phát triển của chiến lược này đã được thực
hiện với sự phối hợp và tham khảo ý kiến của WAR, Ban quản lý Vườn Quốc gia Phú Quốc,

trồng và động vật quí hiếm, thực hiện việc bảo vệ rừng, phát triển một số khu vực rừng sản
xuất giống để phục vụ cho các chương trình phục hồi rừng, tiến hành nghiên cứu khoa học,
để duy trì bảo vệ rừng cho sản xuất nước và hỗ trợ các hộ gia đình tham gia bảo vệ và phát
triển rừng. Việc tổ chức quản lý và bảo vệ rừng theo hợp đồng chương trình quốc gia với
người dân địa phương và các đơn vị quân đội đã được triển khai. Các đề án được đánh giá là
thích hợp bởi vì Ban quản lý Vườn Quốc gia Phú Quốc có để quản lý một khu vực rộng lớn
với một nguồn nhân lực hạn chế và số điểm kiểm tra bảo vệ rừng là không đủ để trang trải
tất cả các khu vực rừng đặc biệt với những hạn chế của điều kiện vùng ven biển và hải đảo.
Rừng hiện có (bao gồm cả rừng tự nhiên, rừng trồng) đã được bảo vệ tốt, mặc dù những vi
phạm nhỏ vẫn còn tồn tại. Riêng việc chặt phá rừng bất hợp pháp nhằm gỗ hoặc tạo nương
rẫy trồng tiêu đen xảy ra nhưng không phổ biến và với số lượng khá ít. Do điều kiện rõ ràng
và ranh giới được chỉ định cả trên bản đồ, đề án bảo vệ rừng theo hợp đồng và chương trình
giao đất lâm nghiệp sơ bộ đánh giá là có hiệu quả, tình hình tiếp cận mở đã được dừng lại,
rừng đã được bảo vệ tốt, các đồn điền cây giống đạt tỷ lệ sống và chất lượng cây cao.
13
- Điều đáng chú ý là khi đời sống của người dân địa phương đã được dựa trên nguồn
lực biển, áp lực trong khai thác tài nguyên rừng đã được hạn chế. dọc các con đường chính
mà đi qua công viên như Cầu Trang - Bãi Thơm, Cầu Trắng - Gành Dầu, Gành Dầu - Cửa
Cạn cho thấy những tác động ảnh hưởng đến rừng tự nhiên đã được hạn chế rất thấp. Bên
cạnh đó, diện tích lớn rừng thứ sinh xung quanh khu vực tái định cư phát triển hiệu quả nhờ
các biện pháp kiểm soát được thực hiện bởi Ban quản lý Vườn Quốc gia Phú Quốc nhằm
chống lại sự xâm lấn và phá rừng bất hợp pháp để cải tạo đất. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng
nhất trong việc bảo vệ rừng trong Vườn Quốc gia Phú Quốc là để bảo vệ khu vực rừng ngập
mặn ở bờ biển và cát bờ biển của hòn đảo. Rừng ngập mặn là một trong những Khu chuyển
tiếp sinh thái quan trọng giữa biển và đất liền. Nó là một hệ sinh thái có năng suất cao
nhưng mong manh cần lập kế hoạch cẩn thận và thực hành quản lý phù hợp để tránh việc
mở rộng khu vực nuôi trồng thủy sản lấn đến rừng ngập mặn. Ngoài ra, các hoạt động du
lịch cần phải được quản lý để ngăn ngừa ô nhiễm (từ rác thải) và các tác động tiêu cực khác
của các hoạt động của con người.
- Việc kiểm soát săn bắn động vật hoang dã: Các biện pháp quản lý hiệu quả hơn cần

đồng, Cửa Dương đạt tới 33,268 tỷ đồng.
Với cảnh quan đẹp và hoang sơ, Vườn Quốc gia Phú Quốc hiện đang là điểm thu hút du
khách đến hòn đảo này. Tỉnh Kiên Giang đã dành một phần diện tích rừng để phát triển du lịch trên
đảo, trên cơ sở đó bảo tồn động, thực vật sẵn có của rừng và phát triển thêm diện tích trồng mới, kết
hợp phòng chống cháy rừng, giảm thiểu thiệt hại do cháy rừng, ngăn chặn tình trạng chặt phá, lẫn
chiếm đất rừng trái phép.
Vào tháng 10/2006 tỉnh Kiên Giang được công nhân là khu Dự trữ Sinh quyển thế giới do
Tổ chức Văn hoá, Khoa học và Giáo dục của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) công nhận Vườn Quốc
gia Phú Quốc nằm trong vùng thuộc khu Dự trữ Sinh quyển thế giới tỉnh Kiên Giang nên rất được
bảo vệ. Các tổ chức, các nhà khoa học trong và ngoài nước thời gian qua đã hỗ trợ kỹ thuật, tài
chính cho nghiên cứu và xây dựng hồ sơ, cũng như kết hợp bảo tồn và phát triển.
2.4.2. Tác động tiêu cực
Trong năm 2020, tổng số dân của Phú Quốc sẽ là 300.000 người, trong đó có
220,000-250,000 thường trú nhân và 30,000-40,000 khách du lịch. Do đó mật độ dân số sẽ
là 480 người / km2, cao hơn so với mật độ dân số hiện nay của đồng bằng sông Cửu Long.
Tuy nhiên, mật độ này vẫn còn thấp hơn so với những người ở nơi khác với diện tích tương
tự như Singapore (hơn 3 triệu) và Thành phố Hồ Chí Minh (hơn 6 triệu).
Dân cư trên Đảo Phú Quốc di nhập từ nhiều vùng khác nhau của Việt Nam chiếm tỷ
lệ đáng kể dân số trên đảo. Ngư nghiệp là hoạt động kinh tế quan trọng nhất trên đảo chứ
không phải là nông nghiệp. Mặc dù vậy, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Kiên Giang xác định rằng
canh tác du canh là mối đe doạ chính đối với đa dạng sinh học ở vùng đệm của Vườn quốc
gia. Bên cạnh đó, còn xảy ra nhiều vụ chặt phá rừng, đốt rừng một cách vô ý thức của người
dân nơi đây.
Theo báo cáo của Hạt kiểm lâm Vườn Quốc gia Phú Quốc, từ đầu năm 2014 đến nay
đã phát hiện 190 vụ vi phạm lâm luật. Còn huyện uỷ Phú Quốc nhận định, chưa kể các vụ
phá rừng lấy gỗ làm mộc, nọc tiêu, đóng ghe tàu, thùng nước mắm thì 7 tháng qua, cơ quan
chức năng phát hiện riêng hai xã Hàm Ninh và Cửa Cạn (nằm phía bắc đảo) có ít nhất 150
hộ phá 142 ha rừng phòng hộ và đặc dụng để lập vườn.
15
Du lịch trên đảo phát triển với tốc độ nhanh, và gây ra những tác động bất lợi về môi

gây ra bởi con người. Cây và các loại thực vật hấp thụ Carbon trong
quá trình quang hợp và nhả lại Oxy vào không khí. Sự phân hủy và đốt gỗ làm lượng carbon
tích trữ trong cây bị thải lại vào không khí. Để rừng có thể hấp thụ carbon, gỗ phải được thu
hoạch và biến thành các sản phẩm tiêu thụ và cây phải được trồng lại.

Phá rừng làm lượng
carbon trong đất thoát trở lại không khí. Ở các khu vực bị phá rừng, đất tăng nhiệt nhanh
hơn và thời tiết trở nên nóng hơn, điều này kích thích quá trình bốc hơi nước của đất, từ đó
hình thành các đám mây và dẫn đến lượng mưa sẽ gia tăng.
16
Nước:
Vòng tuần hoàn nước cũng bị ảnh hưởng bởi phá rừng. Cây hút nước trong lòng đất
và giải phóng vào không khí. Khi rừng bị phá bỏ, cây không còn làm bay hơi lượng nước
này, điều này khiến khí hậu trở nên khô hạn hơn rất nhiều. Phá rừng làm giảm lượng nước
trong đất, lượng nước ngầm và độ ẩm của không khí. Phá rừng làm giảm độ kết dính của
đất, từ đó dẫn tới xói mòn, lũ lụt, lở đất. Rừng làm tái bổ sung nước ở tầng ngậm nước ở vài
nơi, nhưng rừng là nguồn hút nước chủ yếu của tầng ngậm nước.
Phá rừng làm giảm khả năng giữ và bay hơi nước mưa của đất. Thay vì giữ nước mưa
được thấm xuống tầng nước ngầm, phá rừng làm tăng quá trình rửa trôi nước bề mặt, sự di
chuyển của nước bề mặt có thể dẫn đến lũ quét và gây nhiều lũ lụt hơn khi có rừng bảo vệ.
Quá trình làm giảm thoát hơi nước, từ đó làm giảm độ ẩm không khí, trong một vài trường
hợp có thể làm giảm lượng mưa theo hướng gió từ khu vực bị phá rừng, vì nước không được
tuần hoàn trở lại rừng do bị mất trong quá trình rửa trôi và đổ thẳng ra biển.
Đất:
Phá rừng làm tăng độ xói mòn của đất khi nó làm tăng độ rửa trôi và giảm độ bảo vệ
đất của lá khô, lá rụng trong rừng. Hoạt động lâm nghiệp cũng có thể làm tăng độ sói mòn
đất do phát triển đường xá và sử dụng dụng cụ cơ khí.
Sinh thái:
Phá rừng làm giảm sự đa dạng sinh thái và làm môi trường bị suy thoái. Rừng cung
cấp đa dạng sinh thái, là nơi trú ẩn của các loài động vật, rừng tạo ra các cây thuốc hữu ích

- Hỗ trợ nâng cao đời sống người dân, giải quyết đất ở, đất sản xuất, hỗ trợ nhà ở cho
các hộ gia đình đang gặp nhiều khó khăn, gắn với các chương trình mục tiêu quốc gia về xóa
đói giảm nghèo
- Đầu tư xây dựng các Trung tâm huấn luyện, đào tạo chuyên ngành cho lực lượng
bảo vệ rừng. Lắp đặt và khai thác có hiệu quả trạm thu ảnh viễn thám phục vụ cho công tác
dự báo, cảnh báo cháy rừng và theo dõi diễn biến rừng. Xây dựng các công trình phòng
cháy, chữa cháy rừng, bảo vệ rừng (đường băng, chòi canh, hồ chứa nước, trạm bảo vệ,
đường tuần tra ) ở các khu rừng đặc dụng, phòng hộ, các vùng trọng điểm đã được xác định
về phá rừng và cháy rừng.
- Sử dụng các phương tiện thân thiện với môi trường trong du lịch sinh thái ở Vườn
Quốc gia. xây dựng và áp dụng thí điểm một số cơ chế, chính sách mới, đặc thù trong lĩnh
vực bảo vệ tài nguyên môi trường, như chi trả dịch vụ môi trường, du lịch sinh thái, thu phí
đối với các tiện ích công cộng về bảo vệ môi trường để Bảo vệ nguyên vẹn thảm thực vật,
động vật, vi sinh vật nằm trong Vườn Quốc gia.
18
CHƯƠNG 3
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. KẾT LUẬN
Vườn Quốc gia Phú Quốc là một khu dự trữ sinh quyển quan trọng của Việt Nam và của
cả Thế Giới. Nơi đây có đầy đủ các điều kiện tự nhiên để phát triển không chỉ nông nghiệp,
lâm nghiệp mà còn có cả du lịch dịch vụ.
Tài nguyên rừng trên cạn ở Vườn Quốc gia Phú Quốc đa dạng, phong phú; đây là nơi để
duy trì các hệ sinh thái đặc biệt là hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới. Tuy
nhiên, hiện nay tài nguyên này đang có nguy cơ suy giảm do tác động của con người.
Dựa vào tài nguyên rừng trên cạn, bên cạnh phát triển kinh tế, giáo dục, còn phải chú ý
đến giá trị xã hội, bảo tồn để phát triển Vườn Quốc gia Phú Quốc.
3.2. KIẾN NGHỊ
- Uỷ ban nhân dân tỉnh Kiên Giang cần tổ chức rà soát, lập quy hoạch 3 loại rừng của
địa phương: Rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất. Xác định ranh giới ba loại
rừng trên bản đồ và thực địa; hoàn thành việc đóng cọc mốc, cắm biển báo ranh giới rừng

distribution=30183&print=true> [ngày truy cập: 25/01/2015].
- Phu Quoc National Park [pdf] website
<http://thiennhienviet.org.vn/sourcebook/pdf/4%20Mekong%20Delta/Phu
%20Quoc.pdf> [Accessed 28 January 2015].
- Southern Sub-FIPI, 2001. Investment and development Plan for Phu Quoc National
Park.
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status