1
ĐẶT VẤN ĐỀ
TÌNH HÌNH TAI BIẾN MẠCH NÃO TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
- Tình hình tai biến mạch não trên thế giới
Theo Bethoux, tỷ lệ mắc bệnh tai biến mạch não (TBMN) của các nước
phương Tây ước tính 5% đến 10% dân số. Theo thống kê của Tổ chức Y tế
Thế giới (TCYTTG), mỗi năm có hơn 4,5 triệu người tử vong do TBMN.
Riêng ở Châu Á hàng năm tử vong do TBMN là 2,1 triệu người.
Tai biến mạch não đa số xảy ra ở lớp người cao tuổi và tỷ lệ tăng nhanh
theo tuổi. Trong từng độ tuổi mắc TBMN, đều thấy nam nhiều hơn nữ. Những
năm gần đây, nhiều công trình nghiên cứu đã nhấn mạnh đến TBMN ở người
trẻ. Ở Nhật Bản người trẻ chiếm 2,7% trong 1.350 bệnh nhân TBMN. Ở Pháp
tỷ lệ mới mắc ở người trẻ là 10 đến 30/100.000 dân, chiếm 5% toàn bộ các
loại TBMN.
Theo thống kê năm 2000 cho thấy ở Hoa Kỳ có khoảng 700.000 người
bị đột quỵ não mới mắc, trong đó có 500.000 trường hợp đột quỵ não lần đầu.
Dự báo đột quỵ vẫn có xu hướng tăng trong ba mươi năm tới: năm 1995 có
12,8% người Mỹ trên 65 tuổi bị đột quỵ não và tới năm 2025 sẽ có khoảng
18,7%.
-
Tình hình tai biến mạch não ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, ở nước ta TBMN đang có chiều hướng gia
tăng, làm nhiều người tử vong hoặc để lại di chứng nặng nề gây thiệt hại lớn
cho gia đình và xã hội.
Lê Văn Thành điều tra TBMN ở thành phố Hồ Chí Minh năm 2003 cho
thấy tỷ lệ hiện mắc là 6.060/1.000.000 dân, tăng hơn năm 1993 với
4.160/1.000.000 dân.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.
ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU MẠCH MÁU NÃO
Não được tưới máu bởi hai hệ động mạch: Hệ động mạch cảnh trong và
hệ động mạch đốt sống- thân nền
Hình 1.1. Động mạch não
-
Hệ
động mạch cảnh trong: Tưới máu cho 2/3 trước của bán cầu đại não và chia
làm 4 ngành tận:
+ Động mạch não trước: Tưới máu cho mặt trong của bán cầu, mặt dưới
và mặt ngoài thuỳ trán.
+ Động mạch não giữa: Tưới máu cho mặt ngoài bán cầu, vùng trán – thái
dương, đỉnh – thái dương, nửa trước thuỳ chẩm.
4
+ Động mạch thông sau: Tạo sự nối thông của vòng mạch đa giác Willis.
+ Động mạch mạc mạch trước: Chạy vào các mạch để tạo thành đám rối
màng mạch bên, giữa, trên.
-
Hệ động mạch đốt sống- thân nền: Cung cấp máu cho 1/3 sau của bán cầu đại
não, tiểu não và thân não. Hai động mạch não sau là hai nhánh tận cùng của
mạch não và xảy ra ngay tại vị trí động mạch bị tổn thương. Thường liên quan
chặt chẽ với tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, viêm động mạch và một số
nguyên nhân khác.
* Tắc mạch (embolism): cục tắc từ một mạch ở xa (từ tim, từ một mạch
lớn vùng cổ) bong ra theo đường tuần hoàn lên não đến chỗ lòng mạch nhỏ
hơn sẽ nằm lại đó gây tắc mạch.
-
Tắc mạch do vữa xơ động mạch cảnh chỗ phân chia thành hành cảnh, vữa xơ
quai động mạch chủ.
-
Bệnh tim: bệnh do cấu trúc của tim như tim bẩm sinh, bệnh tim mắc phải,
bệnh van tim, sau nhồi máu cơ tim, loạn nhịp tim: rung nhĩ, viêm nội tâm mạc
nhiễm khuẩn...
* Co thắt mạch (vasocontriction): mạch máu co thắt gây cản trở lưu
thông dòng máu; hay gặp trong xuất huyết dưới nhện, sau đau nửa đầu
Migraine, sau sang chấn, sau sản giật...
1.2.2.3. Sinh lý bệnh
Tổn thương của mô não ở sau nơi mạch máu não bị tai biến xuất hiện
phụ thuộc vào lưu lượng máu đến nuôi dưỡng. Tổn thương tại vùng tế bào
thần kinh tiếp cận với mạch máu bị tai biến sẽ nặng hơn, thường là bị hoại tử.
Vùng xung quanh nó gọi là vùng nửa tối, tại đây các tế bào thần kinh chưa
hoại tử nhưng không hoạt động, còn khả năng cứu chữa được.
Nhồi máu não sẽ xảy ra khi lưu lượng dòng máu não giảm xuống dưới
18 đến 20ml/100g não/phút. Trung tâm của ổ NMN là vùng hoại tử có lưu
lượng dòng máu từ 10 đến 15 ml/100g não/phút, còn xung quanh vùng này
(vùng nửa tối) có lưu lượng dòng máu là 20 đến 25 ml/100g não/phút. Ở đây
tuy các tế bào não vẫn còn sống nhưng không hoạt động. Đây là vùng nửa tối.
người đơn thuần, hội chứng rối loạn cảm giác nửa người đơn thuần, hội chứng
rối loạn cảm giác - vận động, hội chứng rối loạn vận động - bàn tay vụng
về…
Nhồi máu vùng phân thùy: Giảm lưu lượng máu tới não gây tổn thương ở
giữa vùng phân bố của động mạch. Triệu chứng lâm sàng: bệnh nhân
thường vã mồ hôi, choáng váng, mờ mắt. Nhồi máu vùng ranh giới giữa
động mạch não giữa và động mạch não sau gây bán manh. Nếu tổn thương
bên bán cầu trội có rối loạn ngôn ngữ, mất chú ý nửa bên thân người.
1.2.2.5. Các yếu tố nguy cơ của TBMN
7
Các yếu tố nguy cơ được chia thành hai nhóm: một nhóm gồm các yếu
tố không biến đổi được, một nhóm gồm các yếu tố biến đổi được và có thể
biến đổi được.
Nhóm yếu tố không biến đổi được: tuổi, giới, chủng tộc, địa lý và di truyền
là những yếu tố nhận dạng khá quan trọng giúp cho chúng ta kiểm soát tích
cực hơn các yếu tố nguy cơ khác. Trong đó yếu tố tuổi có vai trò quan trọng,
nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đều đã kết luận TBMN tăng dần theo
lứa tuổi và tăng vọt từ lứa tuổi 50 trở lên. Nam giới mắc TBMN nhiều hơn nữ
giới từ 1,5 đến 2 lần.
ở não hoặc mắt là một hội chứng lâm sàng có đặc điểm là mất cấp tính chức
năng não cục bộ hoặc chức năng một mắt kéo dài dưới 24 giờ.Nguy cơ xảy ra
TBMN sau cơn thiếu máu thoáng qua là 10% trong năm đầu tiên; sau đó
trong năm năm tiếp theo, mỗi năm có tỷ lệ 5%.
* Rượu:liều nhỏ hàng ngày làm giảm co tim và giãn mạch nên làm huyết
áp giảm nhẹ và tăng áp bù nên làm giảm nguy cơ chết do tim mạch.Lạm dụng
rượu (56 đến 70g rượu hàng ngày hoặc say quá chén) sẽ làm tăng áp lực máu,
tăng kết tập tiểu cầu, tăng đông máu, tăng mức triglycerid, cơn rung nhĩ kịch
phát, bệnh cơ tim và liên quan đến sự gia tăng của nguy cơ TBMN (đặc biệt là
thể chảy máu não).
* Tăng Homocystein trong máu: nồng độ homocystein tăng cao là tác
nhân gây ra các rối loạn đông máu trầm trọng, dẫn đến TBMN hay huyết khối
tĩnh mạch sâu. Hàm lượng homocystein cao có nguy cơ gây mắc TBMN gấp
hai đến ba lần so với nhóm có hàm lượng homocystein thấp hơn.
* Hẹp động mạch cảnh chưa có triệu chứng:hẹp tắc động mạch cảnh
khoảng 70% thì nguy cơ mắc bất kỳ loại TBMN nào là 3% mỗi năm và nguy cơ
mắc tai biến thiếu máu não cùng bên có thể do hẹp tắc động mạch cảnh là 2%.
Đối với mức hẹp rất nặng trên 90%, nguy cơ mắc TBMN còn cao hơn nữa.
* Các yếu tố đông máu:tăng fibrinogen làm tăng nguy cơ nhồi máu não
ở nam giới trên 54 tuổi. Fibrinogen liên quan tới vấn đề hẹp động mạch cảnh,
là một yếu tố nguy cơ của TBMN cục bộ, do ảnh hưởng tới quá trình tăng kết
9
dính tiểu cầu cũng như có vai trò trực tiếp trong quá trình tạo thrombin. Tiểu
cầu có vai trò rất to lớn trong cơ chế sinh bệnh huyết khối. Hiện nay liệu pháp
kháng tiểu cầu đang ngày càng được quan tâm trong dự phòng và điều trị
huyết khối động mạch. Ngoài tiểu cầu, các tế bào máu khác như hồng cầu,
bạch cầu cũng có vai trò trong huyết khối gây tắc nghẽn mạch. Tăng số lượng
10
* Ghi điện não: thường thấy hoạt động điện não giảm, nhưng những
thay đổi này không đặc hiệu.
* Chụp động mạch não:chụp động mạch số hoá xoá nền cho hình ảnh
động mạch não rõ nét, phát hiện được tắc, hẹp mạch máu, phình mạch, dị
dạng mạch, co thắt mạch não.
* Chụp cắt lớp vi tính (CLVT) sọ não
- Ở giai đoạn sớm, nhồi máu não có các biểu hiện rất kín đáo (mất dải đảo,
mờ nhân đậu, xoá các rãnh cuộn não, dấu hiệu động mạch tăng đậm độ, giảm đậm
độ vượt quá hai phần ba vùng phân bố của động mạch não giữa...).
- Sau giai đoạn cấp tính, nhồi máu não có các ổ giảm đậm độ, ổ này
thường thấy rõ từ ngày thứ hai trở đi. Trường hợp điển hình: có ổ giảm đậm
độ thuần nhất, hình thang, hình tam giác đáy quay ra ngoài, hình tròn nhỏ,
hình bầu dục hoặc hình dấu phẩy phù hợp với vùng phân bố của động mạch
não. Trường hợp hội chứng ổ khuyết: có các ổ giảm đậm độ hình tròn hoặc hình
bầu dục trong chất trắng và các hạch nền não, đường kính nhỏ hơn 1,5 cm.
- Hình ảnh nhồi máu - chảy máu: có sự kết hợp một hình ảnh tăng tỷ
trọng tự nhiên ở trong một vùng giảm tỷ trọng.
- Trên thực tế chụp CLVT sọ não cho kết quả âm tính xấp xỉ một phần
ba số trường hợp TBMN đã được chẩn đoán lâm sang.
* Hình ảnh CHT và chụp mạch CHT:đây là phương pháp hiện đại nhất,
rõ ràng những vùng não tổn thương, có độ nhạy cao, không bị nhiễu ảnh ở
vùng hố sau. Có thể dựng ảnh nhiều chiều, phương pháp chụp mạch cộng
hưởng từ không phải tiêm thuốc cản quang và mạch não. Nhưng phương pháp
này có nhược điểm là: khó phân định, dễ gây nhầm lẫn với một số tổn thương
khác không do thiếu máu não nhưng cũng có thay đổi tương tự như u não, các
tổn thương viêm nhiễm. Hình ảnh: chủ yếu tăng tín hiệu trong thì T2.
* Xạ hình tưới máu não bệnh lý trên máy chụp cắt lớp phát điện tử
dương (SPECT) và chụp cắt lớp phát photon đơn (PET)
- Các triệu chứng hiếm gặp: nhức đầu, buồn nôn, nôn, các triệu chứng
xuất hiện nặng ngay từ đầu, rối loạn ý thức, rối loạn cơ tròn, huyết áp khi khởi
phát tăng cao, dấu hiệu màng não âm tính…Các triệu chứng này ít thấy ở
bệnh nhân nhồi máu não mà thường gặp trong chảy máu não.
12
* Cận lâm sàng
- Xét nghiệm dịch não - tuỷ: dịch não - tuỷ không có hồng cầu, bạch
cầu và các thành phần khác không biến đổi.
- Chụp CLVTsọ não: trường hợp điển hình có ổ giảm đậm độ thuần
nhất, hình thang, hình tam giác đáy quay ra ngoài, hình tròn nhỏ, hình bầu dục
hoặc hình dấu phẩy phù hợp với vùng phân bố của động mạch não. Hội chứng
ổ khuyết: có các ổ giảm đậm độ hình tròn hoặc hình bầu dục trong chất trắng
và các hạch nền não, đường kính nhỏ hơn 1,5cm.
- Điện tim có bằng chứng của bệnh tim hoặc tiền sử tăng huyết áp.
- Xét nghiệm máu: có biểu hiện tăng đông, tăng độ nhớt của máu, rối
loạn chuyển hóa lipid…
Chẩn đoán các loại nhồi máu não
* NMN do tắc mạch máu não:có đầy đủ các tiêu chuẩn và các đặc điểm
chung của NMN cả về lâm sàng và cận lâm sàng. Có thêm các yếu tố khẳng
định tồn tại một quá trình bệnh lý là nguồn gốc cục tắc: bệnh lý tim mạch
(Bệnh Osler, hẹp van hai lá, rung nhĩ, loạn nhịp hoàn toàn...), phụ nữ trong
hoặc ngay sau sinh, phẫu thuật lớn vùng cổ, ngực; chấn thương dập nát lớn…
Lâm sàng các triệu chứng xuất hiện đột ngột và nặng tối đa ngay từ đầu. Cận
lâm sàng: điện tim và siêu âm tim có hình ảnh dày nhĩ, vôi hoá van hai lá,
loạn nhịp hoàn toàn, bệnh Osler.... Chụp CLVT sọ não thấy vùng giảm tỷ
độ thở. Làm thông đường thở, nếu cần phải thực hiện hô hấp hỗ trợ, thở oxy
ngắt quãng.
C – Bảo đảm tuần hoàn (Circulation):
- Điều chỉnh nhịp tim khi cần thiết
- Nếu huyết áp thấp cần trợ tim mạch nâng huyết áp.
- Nếu huyết áp cao cần thận trọng khi dùng thuốc hạ áp theo khuyến cáo
của WHO chỉ nên hạ huyết áp khi huyết áp tâm thu trên 180 mmHg, huyết áp
tâm trương từ 105 mmHg trở lên. Không hạ huyết áp một cách đột ngột, kết
hợp thuốc lợi niệu, an thần .
- Giữ thăng bằng nước – điện giải .
Giữ ổn định các chức năng sống cho người bệnh, chăm sóc chức năng
hô hấp và tuần hoàn, cân bằng nước điện giải, vấn đề chuyển hoá glucose,
14
kiểm soát huyết áp, tăng áp lực trong sọ, điều trị co giật, các biện pháp phòng
và điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu, tắc mạch phổi, viêm phổi do hít vào,
nhiễm khuẩn khác như nhiễm khuẩn tiết niệu, loét...
* Điều trị đặc hiệu
- Phục hồi tuần hoàn bị tắc
+ Tái lập tuần hoàn bằng cách sử dụng các thuốc tiêu huyết khối
dùng chất hoạt hóa plasminogen mô tái tổ hợp (Tissue plasminogen
activator/tPA) là thuốc tiêu sợi huyết được Cơ quan quản lý Thuốc và Thực
phẩm Hoa Kỳ (FDA) công nhận từ 1996 với liều 0,9mg/kg dùng ngay trong
vòng 3 giờ kể từ khi khởi phát (tiêm liều nạp tĩnh mạch 10%, sau đó truyền
phần còn lại trong vòng 1 giờ, liều tối đa 90 mg) là liều có hiệu quả đã được
chứng minh (nghiên cứu NINDS), cho dù có một tỷ lệ nhất định chuyển dạng
NMN thành chảy máu não (3% chảy máu nặng). Nếu tăng liều tPA cao hơn,
thời gian dùng thuốc dài hơn (trong 6 giờ kể từ khi khởi phát) thì không hề có
*Chế độ dinh dưỡng, chăm sóc hộ lý và phục hồi chức năng: phải đảm
bảo cho bệnh nhân ăn uống đủ dinh dưỡng, chống loét, chống bội nhiễm, điều
trị phục hồi chức năng.
* Phục hồi chức năng:phải được bắt đầu càng sớm càng tốt khi bệnh
cảnh lâm sàng và tình trạng toàn thân của bệnh nhân cho phép. Nguyên tắc
phục hồi là khôi phục lại các mẫu vận động bình thường vốn có trên cơ sở
loại bỏ các mẫu vận động bất thường.
Phòng chống tai biến mạch não tái phát
* Điều trị các yếu tố nguy cơ
Chiến lược tốt nhất để hạ tỷ lệ TBMN trong cộng đồng vẫn là phòng
bệnh. Theo khuyến cáo của TCYTTG, TBMN là bệnh có khả năng dự phòng
tốt bằng thanh toán các yếu tố nguy cơ. Chống các yếu tố nguy cơ trong cộng
đồng có thể làm giảm 80% nguy cơ TBMN.
Phương pháp dự phòng gồm hai loại:
- Dự phòng cấp 1: khi chưa mắc TBMN, giữ không để xảy ra TBMN.
- Dự phòng cấp 2: áp dụng khi dự phòng cấp 1 đã thất bại, dự phòng
cấp 2 không cho TBMN tái phát.
* Phẫu thuật động mạch cảnh (CEA): nhằm loại bỏ nguyên nhân gây
tắc và tái lập tuần hoàn mạch cảnh. Các phương pháp điều trị phẫu thuật
16
thường dùng là bóc nội mạc động mạch, cắt bỏ đoạn hẹp, nối trực tiếp động
mạch cảnh trong vào động mạch cảnh gốc…
1.3. TAI BIẾN MẠCH NÃO THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN
Trong YHCT không có bệnh danh TBMN nói chung và NMN nói
riêng. Căn cứ vào triệu chứng lâm sàng và tính chất xuất hiện đột ngột như
là trúng phong cả” [64].
Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (thế kỷ XVIII) mô tả
chứng trúng phong như sau: “Trúng phong là bỗng nhiên ngã vật ra, người
mắc bệnh này bảy đến tám phần do âm hư, còn do dương hư chỉ một hai
phần, bệnh phần nhiều do hư yếu bên trong mà sinh ra phong, thỉnh thoảng
mới có ngoại phong...”.
Bệnh danh trúng phong xuất hiện trong sách Nội kinh, ngoài ra còn có
tên gọi khác: thiên phong, thiên khô, thiên thân bất dụng, phốc kích…Trong
“Kim quỹ yếu lược” của Trương Trọng Cảnh cũng nêu bệnh danh trúng
phong và được dùng liên tục đến nay.
Ngày nay các thầy thuốc YHCT cho rằng nguyên nhân của trúng
phong là do:
+ Nội thương hao tổn: tố chất cơ thể âm huyết suy, dương thịnh hoả
vượng, phong hoả dễ tích hoặc do cơ thể già yếu can thận âm hư, can
dương thiên thịnh, khí huyết thượng nghịch, thượng bít thần khiếu đột
nhiên mà phát bệnh.
+ Ẩm thực bất tiết: do ăn uống không điều độ, ảnh hưởng đến công
năng tỳ vị, thấp nội sinh tích tụ sinh đàm, đàm thấp sinh nhiệt, nhiệt cực sinh
phong, phong kết hợp với đàm phạm vào mạch lạc, đi lên trên làm tắc thanh
khiếu gây bệnh.
+ Tình chí thương tổn: uất nộ thương can, can khí bất hoà, khí uất hoá
hoả, can dương bạo cang, thận thủy hư không chế ước được tâm hoả, khí
huyết thượng xung lên não mà gây bệnh.
+ Khí huyết hư tà trúng vào kinh lạc: do khí huyết không đủ, mạch
lạc hư rỗng nên phong tà nhân chỗ hư trúng vào kinh lạc làm khí huyết tắc
18
trở. Hoặc người béo khí suy, đàm thấp thịnh, ngoại phong dẫn động đàm
19
gây chứng trúng phong”.
1.3.2. Phân loại, điều trị trúng phong
1.3.2.1. Phân loại
Kim quỹ yếu lược viết: “tà ở lạc, cơ phu bất nhân, tà ở kinh trọng bất
thắng (vận động khó), tà ở phủ bất thức nhân (có rối loạn ý thức), tà khí ở
tạng thiệt nạn ngôn, thổ đờm dãi”. Trên cơ sở đó sau này phân thành trúng
phong kinh lạc (TPKL) (ở nông) và trúng phong tạng phủ (TPTP) (ở sâu).
- TPKL: mức độ nhẹ, liệt nửa người không có hôn mê, tê tay chân, đi
lại nặng nề, mắt miệng méo, tê liệt nửa người, rêu lưỡi trắng, mạch phù sác.
- TPTP: bệnh xuất hiện đột ngột, liệt nửa người có hôn mê, có
hai chứng:
Chứng bế: bất tỉnh, răng cắn chặt, miệng mím chặt, hai bàn tay nắm
chặt, da mặt đỏ, chân tay ấm, không có rối loạn cơ tròn, mạch huyền hữu lực.
Chứng thoát: bất tỉnh, mắt nhắm, miệng há, tay duỗi, chân tay lạnh,
có rối loạn cơ tròn, mạch trầm huyền vô lực.
Trúng phong được chia làm ba giai đoạn: giai đoạn cấp tính, giai đoạn
hồi phục, giai đoạn di chứng .
1.3.2.2. Điều trị
* Giai đoạn cấp tính:trong giai đoạn này về cơ bản có ba trạng thái:
không có rối loạn ý thức, hôn mê nông và hôn mê sâu.
- Điều trị ở giai đoạn không có rối loạn ý thức, chỉ có liệt nửa người
Trúng phong kinh lạc bao gồm các thể:
+ Lạc mạch rỗng hư, phong tà xâm nhập
Triệu chứng: Bệnh nhân tự nhiên xuất hiện bại liệt nửa người, mồm méo,
mắt lệch, nói khó, chân tay tê bì kèm theo có đau đầu, ngạt mũi, đau nhức
trong xương, có thể có sốt, sợ lạnh; chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng hoặc vàng
mỏng; mạch huyền hoặc huyền tế
Nguyên nhân bệnh sinh: Do chính khí bất túc, phong tà thừa hư mà xâm
nói khó. Đại tiện táo, nước tiểu vàng. Chất lưỡi đỏ, lưỡi ít rêu hoặc rêu vàng.
Mạch huyền tế sác hoặc huyền hoạt.
Nguyên nhân bệnh sinh: Theo tài liệu Tố vấn- Thiên sinh khí thông thiên
luận: Do phiền lao mà ảnh hưởng tới dương khí, dương khí thăng lên sinh ra
phong, đồng thời gây hao tổn tinh huyết. Tinh huyết bất túc thì gây nên can
thận âm hư, can âm không được nuôi dưỡng đầy đủ làm cho can dương cang
thịnh. Khi gặp các điều kiện bất lợi như tinh thần bị kích thích, uống nhiều
21
rượu, lao động quá mệt nhọc, thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột làm cho âm
hư ở dưới, dương cang thịnh ở trên, dương hoá phong động làm cho khí huyết
nghịch loạn. Đây là nội phong, nội phong nhiễu động thì hoá hỏa thăng phù
lên trên, có thể kết hợp với đàm trọc, huyết ứ gây nhiễu loạn kinh lạc, bế trở
thanh khiếu gây trúng phong.
Pháp điều trị: Tư dưỡng can thận âm, trấn can tức phong.
Phương thuốc: Trấn can tức phong thang gia giảm.
+ Tỳ hư đàm thấp, đàm trọc thượng nhiễu
Triệu chứng: Đau đầu, chóng mặt, tức ngực, ăn ít, dễ nôn. Đột ngột xuất
hiện huyễn vựng, nôn, buồn nôn, nhìn đôi hoặc mắt mờ, lưỡi bệu, nói khó,
chân tay tê bì, liệt nửa người. Chất lưỡi bệu màu xám tối, rêu lưỡi trắng dính
hoặc vàng dính. Mạch huyền hoạt hoặc hoạt sác .
Nguyên nhân bệnh sinh: Do ăn nhiều chất béo ngọt hoặc nghiện rượu làm
tỳ vị tích trệ, tân dịch tích tụ sinh đàm; hoặc uất giận ưu tư làm khí trệ sinh
đàm. Đàm uất hóa hỏa mà sinh bệnh.
Pháp điều trị: Táo thấp hoá đàm, tức phong khai khiếu.
Phương thuốc: Bán hạ bạch truật thiên ma thang gia giảm.
- Điều trị ở giai đoạn hôn mê nông: thường do phong nhiệt nhiễu thanh
không, đàm thấp hoặc đàm nhiệt làm bế tắc tâm khiếu.
1.4.2. Các vị thuốc trong nghiên cứu
Bảng 1.1
TT
01
02
03
04
Tên nguyên
liệu
Tên khoa học
Địa long
Pheretima
asiatica
Michaelsen
Rau ngót
Sauropus
androgynus
(L)Merr
Đậu đen
Trong vỏ quýt có chứa
Tác dụng YHCT
Tác dụng thanh
nhiệt, trấn kinh,
lợi tiểu, bình
suyễn
Chữa sót nhau,
tưa lưỡi , hóc
Trừ thấp giải độc,
bổ thận thủy, bổ
huyết, chữa được
cước khí, bồi bổ
cơ thể
Tỳ vị khí trệ, khí
23
reticulata
Blanco
1,5 – 3,8% tinh dầu như
hư, đầy bụng ăn
Limonene,
Hesperidin,
không tiêu, đàm
Carotene, Cryptoxanthin,
thấp ứ trệ, phế khí
24
Liều dùng: 1500ml truyền tĩnh mạch chậm xxxx giọt/phút.
Cerebrolysin 10ml. Do Ebewe Pharma sản xuất.
-
Liều dùng: 10 – 30 ml/ngày x 15 ngày, tiêm tĩnh mạch chậm
Nootropyl 1g. Do. UCB sản xuất
-
Liều dùng: 6 – 12g/ngày x 15 ngày, tiêm tĩnh mạch
Aspirin 100mg do công ty cổ phần Tramaco sản xuất .
-
Liều dùng: 100mg x 01 viên/ngày, uống sau ăn x 15 ngày
- Các thuốc phối hợp khác :
+ Nếu có phù não: Truyền tĩnh mạch nhanh dung dịch manitol 20%
Liều dùng: 1 đến 2 g/kg, trong vòng 30 đến 60 phút. Nếu hàng rào máu
- não không nguyên vẹn thì truyền manitol có thể dẫn đến tăng áp lực nội sọ
(trường hợp này nên dùng furosemid).
+ Nếu tăng huyết áp: Dùng thuốc hạ áp : coveram 5/5 do SERVIER
sản xuất
Liều dùng: coveram 5/5mg x 01 viên/ngày, uống sáng.
2.2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Là những bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt giới, nghề
nghiệp, được chẩn đoán là NMN sau giai đoạn cấp được chuyển đến khám và
+ Trúng phong tạng phủ: lúc phát bệnh ở giai đoạn cấp có hôn mê.
-
Trong đề tài này nghiên cứu điều trị: Trúng phong kinh lạc, thể can thận
âm hư
Bảng 2.1
Tứ chẩn
Vọng
Văn
Vấn
Thiết
2.2.2.2.
Trúng phong kinh lạc, thể can thận âm hư
Chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi ít hoặc rêu vàng.
Nói nhỏ, nói khó.
Đại tiện táo, nước tiểu vàng.
Chân tay ấm, mạch hyền tế sác hoặc huyền hoạt.
Không nhận những bệnh nhân sau
- Bệnh nhân liệt nửa người không phải do nhồi máu não như: chảy
máu não, chấn thương, u não, có bệnh lý ở tim, dị dạng mạch máu não.
- Dị ứng thuốc nghiên cứu, bệnh lý về máu, sau mổ, sau đẻ, phụ nữ có thai.
-Bệnh nhân NMN có kèm theo các bệnh: lao, rối loạn tâm thần,
HIV/AIDS...
2.2.2.3. Tiêu chuẩn loại khỏi diện tổng kết nghiên cứu
- Trong thời gian điều trị, phát hiện các bệnh khác phải chữa trị (bệnh
ảnh hưởng đến quá trình nghiên cứu).
- Bệnh nhân không tuân thủ yêu cầu nghiên cứu như: uống thuốc