Đánh giá tác dụng hỗ trợ điều trị hội chứng cai ma tuý (opiat) thể tâm tỳ hư bằng điện châm - Pdf 19



1

B GIO DC V O TO B Y T
TRNG I HC Y H NI
HONG VN THNG
Đánh giá tác dụng hỗ trợ
điều trị hội chứng cai ma tuý (opiat) thể
tâm - tỳ h- bằng điện châm
CNG LUN VN THC S Y HC

Chuyờn ngnh : Y hc c truyn
Mó s : 60.72.60 CNG LUN VN THC S Y HC Ngi hng dn khoa hc:
1. TS. NGUYN DIấN HNG
2. PGS.TS. NG KIM THANH H NI - 2011 3
Lêi c¶m ¬n

Với tất cả sự kính trọng, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
- Đảng ủy, Ban giám hiệu Trường Đại học Y Hà Nội, Phòng đào tạo
sau đại học, Khoa Y học cổ truyền, các phòng ban của nhà trường đã
tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận
văn.

kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố
trong bất cứ tài liệu nào.

Tác giả luận văn
Hoàng Văn Thắng

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

AC : Adenylcyclase.
AIDS : Acquired Immune Deficiency Syndrome.
(Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải).
cAMP : Adenosin Mono Phospha Cyclic (AMP vòng).
CDTP : Chất dạng thuốc phiện.
CMT : Chất ma tuý.
Cs : Cộng sự.
DSM IV – R : Diagnostic and Statistical Manual Revision.
(Sổ tay thống kê và chẩn đoán rối loạn tâm thần).
ICD – 10 : International Clasiffication of Diseases
(Bảng phân loại bệnh tật quốc tế lần thứ 10).
HCC : Hội chứng cai.
HIV : Human Interferon Virus (Kháng thể kháng virus).
NMT : Nghiện ma tuý.
UBQGPCMT : Uỷ ban quốc gia phòng chống ma tuý. 5
WHO : World Health Organisation (Tæ chøc y tÕ thÕ giíi).
YHCT : Y häc cæ truyÒn.
YHH§ : Y häc hiÖn ®¹i.


1.6.2. Châm cứu hỗ trợ cai nghiện ma tuý ở Việt Nam 34
1.7. PHƢƠNG PHÁP ĐIỆN CHÂM: 36
CHƢƠNG 2: CHẤT LIỆU, ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 38
2.1. CHẤT LIỆU NGHIÊN CỨU 38
2.2. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU 39
2.2.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân 39
2.2.2. Tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện ma tuý. 39
2.2.3. Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân. 41
2.3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu. 42
2.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá và theo dõi. 42
2.3.3. Phác đồ huyệt: 44
2.3.4. Kỹ thuật điện châm. 45
2.3.5. Liệu trình điều trị. 45
2.3.6. Tiêu chuẩn đánh giá kết quả cắt cơn đói ma tuý. 46
2.3.7. Xử lý số liệu. 46
2.3.8. Đạo đức trong nghiên cứu 47
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 48
3.1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA ĐỐI TƢỢNG
NGHIỆN MA TUÝ THỂ TÂM - TỲ. 48
3.1.1. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi. 48
3.1.2. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới. 49
3.1.3. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nghề nghiệp. 49
3.1.4. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo thời điểm nghiện 50
3.1.5. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo thời gian nghiện. 51
3.1.6. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo loại ma tuý sử dụng 52
3.1.7. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo cách sử dụng 53
3.1.8. Phân bố đối tượng theo mức độ nghiện 54
3.1.9. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo số lần dùng trong ngày 55

4.2.4. Tai biến gặp phải trong quá trình điện châm điều trị hỗ trợ hội
chứng cai nghiện chất dạng thuốc phiện thể Tâm – Tỳ hư 79
KẾT LUẬN 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 8
9
DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1. Các triệu chứng của hội chứng cai 40
Bảng 2.2. Bảng điểm của Himmelsbach (1982) . 40
Bảng 3.2. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới. 49
Bảng 3.3. Phân bố bệnh nhân theo nghề nghiệp 49
Bảng 3.4. Phân bố bệnh nhân theo thời điểm nghiện 50
Bảng 3.5. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo thời gian nghiện. 51
Bảng 3.6. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo loại ma tuý sử dụng . 52
Bảng 3.7. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo cách sử dụng 53
Bảng 3.8. Phân bố đối tượng theo mức độ nghiện 54
Bảng 3.9. Phân bố bệnh nhân theo số lần sử dụng chất ma túy/ ngày. 55
Bảng 3.10. Phân bố bệnh nhân theo số lần cai 56
Bảng 3.11. Đánh giá nhiễm HIV trên nhóm bệnh nhân nghiên cứu 57
Bảng 3.12. Kết quả điện châm hỗ trợ điều trị 57
Bảng 3.13. Bảng theo dõi diễn biến các triệu chứng trong điều trị 58
Bảng 3.14. Bảng đánh giá sự thay đổi của Opiat trong nước tiểu 59

tâm lý hành vi mà còn suy sụp nghiêm trọng về sức khỏe, thể chất, tinh thần,
khả năng lao động dẫn đến phá vỡ mối quan hệ tốt đẹp trong gia đình và xã
hội mà còn là nguyên nhân trực tiếp làm lây lan nhanh HIV/AIDS [1].
Đến nay NMT đã, đang và vẫn là một vấn đề bức xúc của nhiều quốc
gia trên thế giới. Ở Việt Nam, NMT chủ yếu vẫn là nghiện các chất dạng
thuốc phiện. Số người nghiện vẫn ngày một gia tăng, nhất là trong giới trẻ 11
NMT vẫn được xác định là bạn đồng hành với nhiễm HIV, viêm gan virus,
các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục…các rối loạn tâm thần cũng như các
vấn đề tệ nạn xã hội khác.
Hiện giờ trên thế giới chưa có một phương thuốc nào được coi là “chữa
khỏi” NMT (nhất là nghiện opioid). Tỷ lệ tái nghiện sau cai vẫn là 80 – 85%.
Với các chất ma túy dạng opioid. Điều trị giải độc để cắt hội chứng cai
(HCC) là bước quan trọng để sau đó tiến hành các biện pháp tái phục hồi,
chống tái nghiện về sau. Trong các phương pháp điều trị giải độc hiện nay,
nhiều phương pháp YHCT như các bài thuốc, xoa bóp bấm huyệt… nhất là
phương pháp châm cứu đã và đang thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều
tác giả trong nước và trên thế giới.
Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về từng thể bệnh riêng lẻ nhưng chưa
có một đề tài nào nghiên cứu về điều trị hỗ trợ cai NMT thể phối hợp giữa tạng
Tâm và tạng Tỳ. Để đóng góp vào việc đánh giá kết quả của một phác đồ điều
trị chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tác dụng hỗ trợ điều trị
hội chứng cai ma tuý (Opiates) thể Tâm - Tỳ hư bằng điện châm” với 3
mục tiêu sau:
1- Đánh giá tác dụng hỗ trợ điều trị hội chứng cai ma tuý (Opiates) thể
Tâm - Tỳ hư bằng điện châm.
2- Đánh giá sự thay đổi một số chỉ tiêu cận lâm sàng trên bệnh nhân
hỗ trợ điều trị hội chứng cai ma tuý (Opiates) thể Tâm - Tỳ hư trước
13
kiệt quệ kinh tế sau nhiều năm chiến tranh, lượng cung ứng ma túy dồi dào và
giá rẻ, cộng với những hạn chế trong việc cai nghiện đã tạo nên cơn bão ma
tuý ở Afghanistan. Được biết, hơn 90% lượng thuốc phiện và heroin lưu
thông trên thế giới có xuất xứ từ Afghanistan.
Tại nước Nga, các loại ma tuý đã gây ra cái chết của gần 70.000 công
dân mỗi năm. Đây là con số tương đương với số dân của hai thành phố. Hoạt
động buôn bán ma tuý ở Nga đang thu lời 15 tỷ USD cho các băng nhóm tội
phạm. Mỗi ngày, các lực lượng cảnh sát Nga thu giữ hàng chục kg ma tuý các
loại. Bên kia bờ Thái Bình Dương, Mỹ tiếp tục là thị trường tiêu thụ ma tuý
lớn nhất thế giới và hiện tượng giới trẻ lạm dụng chất ma tuý trở thành vấn đề
nghiêm trọng. Không chỉ từ mặt đất, những lời kêu gọi đấu tranh với nạn ma
tuý đã vang lên từ vũ trụ. Thay mặt phi hành đoàn Trạm vũ trụ quốc tế ISS,
trưởng đoàn phi hành Gennady Padalka đã hướng tới cư dân Trái đất với
những lời như sau: "Nhìn từ vũ trụ, hành tinh Trái đất của chúng ta trông thật
mỏng manh, nhưng nhỏ bé hơn thế lại là con người, đang tự giết mình bằng
các chất gây nghiện. Ma túy chỉ tạo nên ảo giác cuộc sống. Ma túy giết hại
con người và cả gia đình, người thân của anh. Chúng tôi, các phi công vũ trụ
đội bay ISS kêu gọi: Không có chỗ cho ma túy trên Trái đất" [5].
Bên cạnh việc sử dụng các chất ma tuý cổ điển chiết xuất từ thảo mộc,
người NMT ngày nay còn sử dụng nhiều CMT tổng hợp như các chất cường
thần, các chất gây ảo giác, các chất gây ngủ, các chất giải lo âu ở một số
nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan việc sử dụng Amphetamin ngày
càng chiếm ưu thế, đặc biệt là trong các vũ trường [10], [21].
Số người NMT ngày càng nhiều, thành phần thanh niên NMT ngày
càng tăng, mặc dù các nước trên thế giới đều tích cực phòng chống NMT.
15
là NMT độ tuổi ngày càng trẻ: dưới 18 tuổi là 4,5%, dưới 30 tuổi khoảng 68,3%
và 80% trong độ tuổi lao động. Đối tượng NMT không chỉ tập trung ở nhóm
người có trình độ thấp, không nghề nghiệp, có tiền án tiền sự mà lan sang cả
những đối tượng có trình độ học vấn cao, công việc ổn định, kinh tế khá giả [23].
Tại Hà Nội năm 1997 có khoảng 10.000 người NMT [29] thì năm 2002
có 13.614 người nghiện, năm 2005 có 18.561 người nghiện. Đến nay có
khoảng 20.000 người NMT có nghĩa là 1 năm có thêm khoảng 1000 người
nghiện mới [29].
Năm 2000 Quảng Bình còn được xem là địa bàn “Trắng về ma tuý”
nhưng đến tháng 6/2007 có 776 đối tượng liên quan đến NMT - Đây là những
đối tượng có hồ sơ quản lý tại cơ quan công an nhưng thực tế số lượng người
NMT còn lớn hơn nhiều tập trung chủ yếu ở thành phố Đồng Hới. Tại Sài Gòn,
7/1997, số người nghiện công an nắm được là 4.500. Ðến tháng 7/1998, con
số tăng lên 10.038, bao gồm 81% ở độ tuổi dưới 30. Thực tế ước tính Sài Gòn
có khoảng 20.000 người nghiện.
Thực trạng hiện nay về tình hình diễn biến buôn bán cũng như sử dụng
ma túy rất phức tạp cả về hình thức cũng như phương thức, số người NMT
trong cả nước được điều trị còn chiếm tỷ lệ thấp so với tổng số người nghiện,
tỷ lệ tái nghiện còn cao, số người nghiện mới gia tăng, tập trung ở giới trẻ.
Theo báo cáo mới nhất của Bộ công an (19/03/2011): số lượng người nghiện
ma tý còn nhiều (trong năm 2008-2009 có khoảng 170.000 – 180.000 người
nghiện/năm); lượng ma túy nhập vào Việt Nam rất lớn.
Số người nghiện mới và tái nghiện gia tăng, các chất gây nghiện ngày
càng đa dạng và phức tạp đòi hỏi các cấp, các ngành và toàn xã hội cùng quan
tâm giúp đỡ người nghiện cắt cơn và tái hoà nhập cộng đồng bởi nếu chỉ
người nghiện quyết tâm thôi thì chưa đủ. 16

kinh trung ương, gây ra các biến đổi chức năng tâm thần đặc trưng có thể
phân ra các loại sau [39]:
1.2.2.1. Các chất gây êm dịu
- Các thuốc bình thản, giải lo âu, gây ngủ (Benzodiazepin, barbituric
Là các thuốc hướng thần được sử dụng để điều trị các chứng mất ngủ và lo âu
nhưng bị nhiều người lạm dụng).
- Rượu (Ethanol).
- Thuốc phiện và các chế phẩm của nó (Morphin, heroin, codein…).
1.2.2.2. Các chất kích thần.
- Các Amphetamin và chế phẩm của nó (Pervitin rilatin). Amphetamin
được đóng viên hoặc ở dạng bột trắng, dễ hoà tan trong nước nên bị lạm dụng
bằng đường tiêm chích.
- Cocaine: Ðây là hoạt chất trích từ lá cây Coca dạng bột trắng, tơi xốp
như bông tuyết, mượt mà, tinh thể nhỏ, sáng bóng, kết thành khối cuội nhỏ.
Còn được gọi là Crack, Ice, hay "Morphine nhận tạo". Cocaine có tác dụng
giống Morphine nhưng không chế biến từ cây thuốc phiện, mà được tổng hợp
thành Pethidine (Meperidine, Dolosal, Dolargan ) có tác dụng giảm đau,
chống co giật, êm dịu thần kinh như các loại Demerol, Methadone
1.2.2.3. Các chất kích thần gây ảo giác.
- Estasy (XTC).
1.2.2.4. Các dung môi hữu cơ gây êm dịu và ảo giác.
- Colles (chất tẩy), Dissolvants (chất hoà tan).
1.2.2.5. Các chất gây ảo giác.
- Các sản phẩm của Canabis (Cần sa), Marijuana (Lá khô), Haschich (Rễ):
Cần Sa (Bồ Ðà - Cannabis) chia làm 2 loại: Marijuana, Kif, Bham và
Hashish. Cần Sa giống sợi thuốc lá, màu nâu đen, được vấn thành điếu như 18
điếu thuốc nhưng bẻ cong đầu hoặc gói vào giấy thành từng gói. Lá Cần Sa có

+ Thuốc phiện chín (Preparedopium) Thường gặp ở các nước Nam Á
được bào chế từ thuốc phiện sống bằng cách dùng nước nóng hoà tan nhiều lần,
rồi lọc qua vải nhiều lần, sấy khô dịch lọc và đóng thành bánh, có hình dạng kích
thước khác nhau. Thuốc phiện chín màu nâu, thơm hơn thuốc phiện sống.
+ Xái thuốc phiện (Drossopium) Là phần còn lại trong tẩu sau khi
thuốc phiện được hút xong. Thường trong xái thuốc phiện vẫn còn lại một
lượng thuốc phiện nhất định nên ở các nước Đông Nam Á người ta thường
trộn xái thuốc phiện với thuốc phiện sống để hút lại [2].
Ngoài ra còn một dạng thuốc phiện nữa là thuốc phiện y tế
(Medicalopium) thuốc phiện y tế được bào chế sạch hơn được chiết suất sấy khô
trong điều kiện nhiệt độ, ánh sáng ổn định có nồng độ ma tuý cao hơn từ 9- 12%
có màu sáng thẫm, vàng đậm hoặc đỏ sẫm [2]. Được sử dụng để chữa ỉa chảy,
làm giảm trương lực ruột, làm mềm cơ trơn ống tiêu hoá, giảm đau [22].
- Codein: Là Alcaloide của cây thuốc phiện được bào chế dưới dạng
viên uống.
- Morphin: Là Alcaloide của cây thuốc phiện được bào chế dưới dạng
bột hoặc tiêm. Ðây là hoạt chất chính của thuốc phiện. Dạng bột: kết tinh màu
trắng, không mùi, vị đắng và chua dễ chuyển màu xám dưới ánh sáng và
không khí. Dạng nước: không màu, có mùi khai của Amoniac. Dạng viên:
Morphine Sulfate (Moscontine) thực chất là thuốc tây trị đau ở người bệnh
ung thư, còn để điều chế Apo Morphine gây nôn ói khi ngộ độc. Một tấn
thuốc phiện chín có thể điều chế được 50 -70 kg Morphine.
- Heroin: Là chế phẩm của morphin tồn tại dưới dạng bột màu trắng.
Còn gọi là hàng trắng, bạch phiến, xì ke (Scag), có dạng bột trắng, dễ hút 20
nước, được gói trong giấy bạc thành viên nhỏ, đựng trong túi nylon nhỏ thành
tép hàn kín. Heroine được sử dụng: hút (trộn với thuốc lá), hoặc hít (để lên tờ
giấy bạc, hơ lửa cho Heroine bốc khói và hít khói; nặng hơn thì không cần hơ

(các receptor) ở hệ viền, vùng dưới đồi, đồi thị, nhân đuôi và đám rối thần
kinh chi phối ruột (Đám rối Auerbach) [13], [37]. Có một số thụ thể tiếp nhận
Morphin nhưng chủ yếu là thụ thể nằm ở não, tập trung nhiều nhất là vùng
dưới đồi, một ít ở hệ thần kinh thực vật [20].
Tại các thụ cảm thể có sẵn những peptid nội sinh (Endorphin,
Enkephalin). Các Neuropeptid này tác động qua lại với Morphin và dẫn
truyền Morphin qua hệ thần kinh đến các vùng khác nhau của cơ thể gây ra
những tác dụng đặc hiệu [20].
Morphin có nhiều tác dụng có lợi, đặc biệt có tác dụng chữa bệnh như:
- Giảm đau (đây là tác dụng quan trọng nhất).
- Gây khoái cảm: Giảm các phiền muộn do các stress gây ra.
- Gây thản nhiên, bàng quan: Giảm lo âu và đau khổ.
- Ức chế hô hấp: Chống ho.
- Tăng cường lực cơ trơn dạ dày, ruột, chống tiêu chảy và nhiều tác
dụng khác.
Nhưng Morphin gây nhiều tác hại hơn, tác hại lớn nhất là gây nghiện với
ba trạng thái tăng dung nạp, lệ thuộc về cơ thể và lệ thuộc về tâm lý.
- Giải thích sự nghiện ma túy.
Nghiện ma tuý đƣợc giải thích nhƣ sau: [20], [37].
Từ khi tìm ra Morphin nội sinh (Endorphin) thì cắt nghĩa hiện tượng quen
các chất dạng thuốc phiện (CDTP) càng rõ: chất chủ vận nội sinh“ Receptor” của
CDTP là Enkephalin bị giáng hóa quá nhanh nên không gây quen thuốc.
Enkephalin hoặc mọi Opioid sẽ kích thích thụ thể, làm ức chế sự giải phóng một 22
số men, chủ yếu là ức chế Adenylcyclase (AC) từ đó giảm sản xuất ra cAMP
(AMP vòng).
Khi dùng CDTP nhiều lần, CDTP tác động liên tục vào thụ thể làm ức
chế liên tục AC và giảm cAMP trong cơ thể. Do cAMP là chất truyền tin thứ

1.3.4. Cơ sở sinh học của trạng thái lệ thuộc về mặt cơ thể.
Cơ sở sinh học của trạng thái lệ thuộc ma tuý về mặt cơ thể [13], [37].
Khi người nghiện dừng sử dụng CDTP các thụ thể vẫn duy trì
phương thức đáp ứng với một lượng CDTP đưa vào cơ thể hàng ngày, tức là
vẫn liên tục tổng hợp một lượng lớn men AC, do lượng Endorphin quá nhỏ
không thể ức chế được việc tổng hợp này và lượng cAMP trong cơ thể cao
vọt, kích thích mạnh hệ thần kinh trung ương, báo động gay gắt trạng thái
thiếu hụt Morphin dẫn tới nhu cầu cấp thiết phải đưa Morphin vào cơ thể, nếu
không đưa vào thì cơ thể xuất hiện các triệu chứng sau:
+ Từ giảm đau chuyển sang đau đớn cơ bắp và nội tạng.
+ Từ thản nhiên, bàng quan chuyển sang bồn chồn.
+ Từ khoái cảm chuyển sang buồn bực.
+ Từ hẹp đồng tử chuyển sang giãn đồng tử.
+ Từ khô da chuyển sang vã mồ hôi.
Và nhiều triệu chứng trái ngược khác như: Dị cảm, buồn nôn, nôn, tiêu
chảy, mất ngủ
1.3.5. Cơ sở sinh học của trạng thái lệ thuộc về mặt tâm thần.
Cơ sở sinh học của trạng thái lệ thuộc ma tuý về mặt tâm thần [3], [37].
Theo nhận định của hội đồng các chuyên viên về lạm dụng ma túy của
WHO thì sự lệ thuộc vào chất ma túy trước hết và chủ yếu là sự lệ thuộc về
mặt tâm thần. Do bản năng sinh tồn, cơ thể phải tự điều chỉnh để sớm chấm
dứt sự lệ thuộc về mặt cơ thể (HCC) trong vòng từ 1-2 tuần. Tuy nhiên mất
hội chứng cai rồi, đối tượng NMT vẫn tiếp tục nhớ và thèm chất ma túy trong 24
một thời gian rất dài. Đó là nguyên nhân làm cho gần 100% các đối tượng
NMT lại tái nghiện một thời gian ngắn sau khi cắt cơn trong 10 ngày nếu
không điều trị duy trì. Đây là một hiện tượng tâm sinh học phức tạp, chưa
được sáng tỏ hoàn toàn và có nhiều cách giải thích khác nhau.

tình cảm, tư duy của con người: “Tâm chủ thần minh”.
- Cảm khoái và sự thèm muốn dùng ma tuý là do Can, Tâm có chức
năng liên quan mật thiết với chức năng của Tỳ, Vị “Tỳ – Vị khai khiếu tại
khẩu – vị giác”.
- Hơi thơm của thuốc phiện, cảm giác khoan khoái, nhẹ nhõm khi dùng
thuốc phiện có liên quan đến Phế - Đại trường “Phế chủ khí, Phế chiều bách
mạch, Phế khai khiếu tại Tỳ”.
1.4.2. Hội chứng tạng phủ của NMT theo lý luận YHCT và phƣơng pháp
châm cứu trong điều trị hỗ trợ cai nghiện ma tuý.
Vận dụng lý luận YHCT [7], [8], [33], [36] trong nghiên cứu để biện
chứng luận trị trong điều trị. Theo Nguyễn Tài Thu không phải hội chứng nào
do ma tuý gây ra ở mọi người nghiện đều giống nhau, mà tuỳ theo trạng thái
sinh lý khác nhau của từng người, thời gian sử dụng, mức độ sử dụng mà sinh
ra sáu nhóm chứng trạng khác nhau: Can - Đởm, Tỳ - Vị, Tâm - Tâm bào,
Tiểu trường - Tam tiêu, Thận - Bàng quang, Phế - Đại trường. Sau đó phải
dựa trên thể trạng: Hàn - Nhiệt, Hư - Thực của từng bệnh nhân mà chia ra hai
hội chứng khác nhau là: [20], [35].
- Hội chứng thịnh (Chứng thực):
+ Biểu hiện: Thần kinh hưng phấn, nằm ngồi không yên, mất ngủ, vật vã,
đập phá, nhức đầu, co giật chân tay, thở mạnh, nói lung tung, đau bụng đi ngoài,
tim đập nhanh, hồi hộp, nhức trong tuỷ xương và tứ chi, nam giới thì di mộng
tinh, nữ giới thì kinh nguyệt không đều. Chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng dày.

Trích đoạn Đỏnh giỏ nhiễm HIV ĐẶC ĐIỂM CÁC ĐỐI TƢỢNG NGHIỆN MA TUí THỂ TÂ M- Liờn quan giữa nghiện ma tuý và HIV
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status