Đánh giá tác dụng hỗ trợ điều trị thoái hóa khớp gối với viên khớp ATK - Pdf 31

1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thoái hóa khớp (THK) hay còn gọi là hư khớp là bệnh mạn tính thường
gặp ở người trung niên và người có tuổi, xảy ra ở mọi chủng tộc, mọi thành
phần của xã hội, ở tất cả các nước, phụ nữ thường cao hơn nam giới [1], [3],
[4], [14], [20], [18].
Thoái hóa khớp là những bệnh của khớp và cột sống mạn tính, đau và
biến dạng, không có biểu hiện của viêm. Tổn thương cơ bản của bệnh là tình
trạng thoái hóa của sụn khớp và đĩa đệm (ở cột sống), những thay đổi ở phần
xương dưới sụn và màng hoạt dịch. Nguyên nhân chính của bệnh là quá trình
lão hóa, tình trạng chịu áp lực quá tải, kéo dài của sụn khớp [3], [4], [14].
Hư khớp được biết đến và mô tả từ lâu nhưng mãi đến thế kỷ XX mới
được nghiên cứu đầy đủ. Bệnh có nhiều tên gọi tùy theo từng nước: viêm
xương khớp (osteoarthritis); Bệnh xương khớp thoái hóa hay viêm xương
khớp thoái hóa (osteoarthrose); Bệnh khớp do thoái hóa ( Rhumatisme dé
généraitif); Hư khớp hay thoái hóa khớp (arthrose) là từ được dùng ở nhiều
nước và ở Việt Nam [1], [3], [4], [14] [9].
Việc điều trị thoái hóa theo y học hiện đại đều chủ yếu tập trung vào các
biện pháp nhằm làm giảm nhanh các triệu chứng đau bằng việc sử dụng thuốc
giảm đau, chống viêm (nhóm Acetaminophen, hoặc kết hợp Acetaminophen
với Codein, hoặc nhóm NSAIDs hoặc nhóm Corticoid). Các biện pháp này có
thể hỗ trợ giảm đau chống viêm tốt, giúp bệnh nhân cải thiện vận động, sinh
hoạt. Nhưng về lâu dài, các biện pháp này không có ý nghĩa trong điều trị vì
chỉ làm giảm triệu chứng trong thời gian ngắn mà không được điều trị tận gốc
nguyên nhân. Hơn thế, các thuốc giảm đau chống viêm đều không được
khuyến cáo sử dụng lâu dài vì có nhiều tác dụng không mong muốn. Y học cổ


2

khoeo, bên trong là dây chằng bên trong(DCBT), phía trước có gân cơ tứ đầu
đùi và gân bánh chè, phía sau bao khớp dày lên được tăng cường bởi dây
chằng khoeo chéo và dây chằng khoeo cung…
- Cấu trúc phần mềm trong khớp chính là dây chằng chéo trước(DCCT),
dây chằng chéo sau(DCCS), đệm trên các diện khớp của mâm chày với lồi
cầu đùi là sụn chêm trong và sụn chêm ngoài.
1.2. Bệnh thoái hóa khớp:
Bệnh thoái hóa khớp hay còn được gọi là bệnh viêm xương khớp là bệnh
lý phổ biến nhất trong các bệnh lý về khớp trên thế giới. Tổn thương cơ bản
của bệnh là sự hủy hoại của sụn khớp, viêm bao hoạt dịch khớp và giảm độ
nhớt của dịch khớp, từ đó dẫn đến đau đớn và hạn chế vận động. Bệnh hay
gặp ở lứa tuổi trung niên, đặc biệt là ở phụ nữ khi bắt đầu bước vào thời kỳ
tiền mãn kinh. Bệnh thoái hóa khớp tiến triển từng đợt, diễn biến theo nhiều
giai đoạn, với xu hướng ngày càng nặng dần lên và y học hiện nay chưa có
khả năng chữa khỏi hoàn toàn. Tuy nhiên, việc phát hiện và điều trị sớm
bệnh thoái hóa khớp sẽ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh,


4
tránh cho họ khỏi phải chịu đau đớn kéo dài và cuối cùng trở thành tàn phế
[1], [3], [4], [14], [18].
1.3. Nguyên nhân gây thoái hóa khớp:
Về nguyên nhân, bệnh thoái hóa khớp có liên quan đến yếu tố tuổi tác và
thường xuất hiện một cách tự phát không có nguyên nhân rõ rệt. Một số
trường hợp bệnh khởi phát sau các yếu tố thuận lợi như: lệch trục khớp bẩm
sinh hoặc do bệnh lý, chấn thương cũ ở vùng quanh khớp, béo phì, bệnh gút,
tiểu đường; hoặc có thể do tập luyện thể thao quá mức, nghề nghiệp thường
xuyên phải mang vác nặng v.v…[1], [3], [4].
Các vị trí khớp hay bị thoái hóa thường là các khớp chịu sức nặng của
cơ thể như các khớp ở cột sống, khớp háng, khớp cổ bàn chân, và đặc biệt

của nó. Ghép sụn khớp vẫn còn trong giai đoạn thực nghiệm.
Khởi đầu bao giờ cũng điều trị bằng thuốc. Thất bại trong điều trị này cùng
với dấu hiệu đau vẫn tiếp tục dai dẳng và tăng nặng lên, xuất hiện thêm những
thay đổi về hình thái của chi dưới lúc đó mới cần có can thiệp ngoại khoa.
Điều trị ngoại khoa:
Có hai khả năng của điều trị ngoại khoa: Đục xương sửa trục của chi
dưới để lấy lại cân bằng và phân phối lại khả năng chịu lực cho khớp gối.
Thay khớp gối với mục đích thay sụn khớp đã bị hỏng.
1.6. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước:
- Thống kê của Tổ chức y tế thế giới (WHO) cho thấy có 0,5% dân số bị
bệnh khớp, trong đó có 20% bị thoái hóa khớp.


6
Theo Kenneth kiểm tra X quang những người trên 55 tuổi ở Hoa Kỳ thấy
80% có dấu hiệu thoái hoá khớp trong khi những người từ 25 - 34 tuổi chỉ có
10% có dấu hiệu thoái hoá khớp. Tỷ lệ thoái hoá khớp gối dưới 0,1% ở đô
tuổi 25 - 34 và lên tới 10 - 20% ở độ tuổi 65 - 74. Theo ước tính Hoa Kỳ có
tới 40 triệu người có biểu hiện thoái hoá khớp háng và các khớp ở chi dưới
(chiếm 33% tổng số những người lao động). Ở Pháp thoái hoá khớp chiếm
28,6% các bênh về khớp. Theo một thống kê của châu Âu, trong số 4326 bệnh
nhân thoái hoá khớp được kiểm tra thì khớp háng và khớp gối là các khớp bị
tổn thương nhiều hơn cả, trong đó thoái hoá khớp gối chiếm 92,1%.
- Ở Việt Nam, theo thống kê của bệnh viện Bạch Mai trong 10 năm
(1991 - 2000), thoái hóa khớp đứng hàng thứ ba (4,66%) trong nhóm các
bệnh có tổn thương khớp. Thoái hoá khớp gối chiếm 56,5% tổng số các bệnh
khớp do thoái hoá cần điều trị nội trú. Thoái hoá khớp cũng là bệnh chiếm tỷ
lệ cao nhất trong cộng đổng: 5,7% ở nông thôn và 4,1% ở thành phố. Có sự
liên quan chặt chẽ giữa thoái hóa khớp và tuổi tác:
+ 15 - 44 tuổi: 5% người bị thoái hóa khớp.

+ Nếu cốt tý không khỏi lại cảm phải phục tà thì sẽ vào thận, cân tý
không khỏi lại cảm phải phục tà sẽ vào can, tương tự mạch tý vào tâm, nhục
tý vào tỳ, bì tý vào phế. Phế tý thì phiền mãn khó thở và mửa; Tâm tý thì
mạch không thông, phiền thì tâm hạ nổi lên, khí bạo thượng gây khó thở, ợ
khan, quyết khí thượng lên thì sợ hãi; Can tý đêm ngủ giật mình, uống nhiều,
đái nhiều, ở trên như có cục; Thận tý thì trướng, vùng cùng cụt cột sống và
vùng đầu sưng; Tỳ tý thì chân tay rã rời, ho, nôn, ở phần trên thì rất lạnh.
- Cũng có phân loại một cách tổng quát theo nguyên nhân gây bệnh và
thường chia làm 2 loại: phong hàn thấp tý và phong thấp nhiệt tý. Tuy là tà


8
khí cùng tác động trong phong hàn thấp tý song có lúc phong là yếu tố trội
(phong thắng) có tên là hành tý, có lúc hàn là yếu tố trội (hàn thắng) tên là
thống tý, có lúc thấp là yếu tố trội (thấp thắng) có tên là trước tý. Ở phong hàn
thấp tý gặp lạnh thì cấp, gặp nóng thì hoãn
- Tuệ Tĩnh cho là phát bệnh ở buổi sáng là do khí trệ, dương hư; vào buổi
chiều là huyết nhiệt âm tổn. Trong điều trị, Hải Thượng Lãn Ông đề ra: chữa
phong nên bổ huyết, chữa hàn nên bổ hỏa, chũa thấp nên kiện tỳ, tuy dùng thuốc
phong thấp nhưng cần dùng thuốc bổ khí huyết để khống chế không cho bệnh tà
chủ yếu vào 2 kinh can thận, bổ nguồn gốc của tinh huyết để tác dụng đến gân
xương vì đó là bên trong có hư mà gây nên, thông thường các thầy thuốc nói
chung quan tâm đến cả khu phong, trừ thấp tán hàn, thông kinh hoạt lạc.
- Thể phong hàn thấp tý:
+ Triệu chứng: đau ê ẩm thân thể nhất là ở các khớp: cổ tay, cổ chân, bàn
ngón tay chân, khủy tay, khớp gối, đau tăng khi vận động, các khớp thường
không sưng, nóng đỏ. Có người sợ gió, đau có di chuyển (phong thắng); có
người thấy đau tại chỗ, sợ thấp lạnh, gặp nóng thì dễ chịu (hàn thắng); có
người than thể nặng nề (thấp thắng). Lưỡi thay đổi không rõ. Mạch có thể
huyền (đau nhiều) hoặc khẩn (lạnh nhiều) song không sác.

làm tổn thương chân âm, nhưng chỉ có vị tần giao thiên về nhuận, trừ phong
mà không táo, mà còn tác dụng giải được chứng cốt trưng, phát sốt.
- Phòng phong: vị ngọt, cay, tính ôn, không độc, qui kinh can - đại
trường - tam tiêu. Theo YHCT thuốc có tác dụng tán hàn giải biểu, trừ phong
thấp, giải kinh phong.
- Khương hoạt: vị cay, đắng tính ôn, có tác dụng giải biểu khứ hàn, dẫn khí
đi vào kinh thái dương và mạch đốc, thông kinh hoạt lạc ở chi trên và lưng,
chuyên trị phong thấp, đau nhức, đau các khớp nhất là các khớp ở phần trên.
- Thổ phục linh: vị ngọt, nhạt, tính bình qui kinh can – vị, có tác dụng
kiện tỳ - vị, cường gân cốt, trừ phong thấp, lợi cơ khớp, cầm tiêu chảy, trị cốt
thống, trị ung nhọt độc, giải độc thủy ngân.


10
- Quế chi: vị cay, ngọt, tính ôn, qui kinh phế - tâm – bang quang, có tác
dụng giải cảm tán hàn, thông kinh chỉ thống, hành huyết giúp khu trừ hàn khí,
tăng cường lưu thông khí huyết.
- Hà thủ ô: vị đắng, ngọt, sáp, hơi ôn qui kinh can thận. Hà thủ ô đỏ giúp
bổ ích tinh huyết, dung sống có tác dụng giải độc, triệt ngược, tư âm, cường
tráng, chủ trị tinh huyết hư, bồi bổ can thận.
- Ngưu tất: có vị chua, hơi đắng tính bình, không độc, qui kinh can –
thận. Tác dụng tan máu ứ, giảm sưng tấy, đau nhức, mạnh gân cốt.
- Dạng bào chế: viên nang mềm.
- Trình bày: hộp 30 viên nang.
- Nơi SX: Chi nhánh công ty cổ phần ARMEPHACO xí nghiệp dược
phẩm 120.
- Liều dùng và cách dùng: ngày uống 06 viên chia 02 lần trong ngày,
uống sau khi ăn, dùng liên tục trong 30 ngày.

Chương 2


2.1.2. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân theo YHCT [3], [5], [7], [20]:
Tất cả BN sau khi được khám, chẩn đoán xác định theo YHHĐ, sẽ được
khám theo YHCT: vọng, văn, vấn, thiết lựa chọn ra những BN thoái hóa khớp
gối thể phong hàn thấp và do can thận âm hư.


12
BN đau, hạn chế vận động, đau dữ dội trời lạnh đau tăng, chườm nóng
đỡ. BN có cảm giác nặng nề chân tay, rêu lưỡi trắng nhớt, kèm theo đau lưng,
mỏi gối, ù tai, nước tiểu trong, tiểu tiện nhiều lần, mạch trầm tế.
2.1.3. Tiêu chuẩn loại trừ:
- Bệnh nhân tâm thần, nghiện ma túy, lao, HIV, AIDS…
- Các bệnh nhân có kèm bệnh nội khoa cấp, mạn tính: tim mạch, đái tháo
đường, suy gan, thận, bệnh truyền nhiễm, bệnh cơ quan tạo máu…
- Bệnh nhân trong vòng 3 tháng gần đây có sử dụng các thuốc Corticoid
hoặc thuốc ức chế miễn dịch chậm.
- BN có tiền sử dị ứng một trong các thành phần của thuốc.
- Không tuân thủ phác đồ và liệu trình điều trị, bỏ uống thuốc ≥ 3 ngày
liên tiếp.
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu:
Nghiên cứu được tiến hành tại Bệnh viện đa khoa YHCT Hà Nội từ
tháng 12 năm 2013 đến tháng 6 năm 2014.
2.3. Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu tiến cứu so sánh đối chứng trước và sau điều trị.
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng mở, so sánh trước sau và có đối chứng.


13

- Liệu trình điều trị cho mỗi nhóm là 30 ngày.
- Theo dõi bệnh nhân:
+ Theo dõi đánh giá ghi vào bệnh án nghiên cứu tất cả các chỉ tiêu
nghiên cứu ở các thời điểm trước, trong và sau điều trị.
+ Theo dõi các tác dụng không mong muốn trên lâm sàng và cận lâm sàng.
- Kết thúc thời gian NC, thu thập số liệu, xử lí và báo cáo kết quả.


14
2.3.3. Chỉ tiêu nghiên cứu:
- Các đặc điểm chung:
+ Tuổi, giới, thời gian mắc bệnh.
+ Các yếu tố liên quan tới khởi phát bệnh: nghề nghiệp, vị trí tổn thương
khớp gối.
- Các đặc điểm lâm sàng
+ Mức độ đau: đánh giá theo thang điểm VAS trước, sau điều trị.
+ Mức độ tổn thương chức năng khớp gối theo thang điểm Lequesne
trước, sau điều trị.
+ Chức năng vận động gấp duỗi khớp gối: theo thước chia độ; theo chỉ số
gót – mông trước, sau điều trị.
+ Đánh giá tác dụng giảm sưng khớp gối: bằng thước dây đo trước, sau
điều trị.
- Đánh giá hiệu quả lâm sàng: theo các mức độ: Tốt, khá, trung bình,
kém trước, sau điều trị.
- Đánh giá theo Y học cổ truyền.
- Cận lâm sàng: các xét nghiệm làm ở thời điểm trước điều trị (D 0), sau
điều trị (D30)
+ Công thức máu: HC, BC, TC, Huyết sắc tố, Tốc độ máu lắng.
+ Sinh hóa máu: Glucose, ure, creatinin, AST, ALT.
+ Tổng phân tích nước tiểu 11 thông số

Tuổi
≥ 49
50 - 59
60 - 69
≥ 70
Tổng
X ± sd
Min-max
p

Nhóm NC (n = 30)
n
%
06
20,0
11
36,7
07
23,3
06
20,0
30
100
58,2 ± 10,5
38 - 78

Nhóm ĐC (n = 30)
n
%
03

Nhận xét:
Thoái hóa khớp gối gặp ở mọi lứa tuổi, chủ yếu là trên 49 tuổi. trong
NC này gặp nhiều lứa tuổi từ 50 – 59 chiếm TL 35%, tiếp đến lứa tuổi 60 –
69 chiếm TL 30% đến điều trị, tuổi thấp nhất là 38, cao nhất là 80, tuổi trung
bình của 2 nhóm NC là 59,9 ± 10,23, sự khác biệt giữa lứa tuổi 2 nhóm NC
không có ý nghĩa thống kê với P > 0,05.
3.1.2. Đặc điểm phân bố bệnh nhân theo giới của 2 nhóm nghiên cứu


17
Bảng 3.2. Sự phân bố về giới của 2 nhóm nghiên cứu
Nhóm NC (n = 30)
n
%
23
76,7
7
23,3
30
100

Giới
Nữ
Nam
Tổng
p

Nhóm ĐC (n = 30)
n
%

n
%
9
30,0
12
40

Nhóm ĐC (n = 30)
n
%
13
43,3
4
13,3

Tổng (n = 60)
n
%
22
36,7
16
26,7


18
Hưu trí
Tổng
p

9

khớp

Phải

Nhóm NC

Nhóm ĐC

(n = 30)
n
%
5
16,7

(n = 30)
n
%
3
10,0

Tổng
(n = 60)
n
%
8
13,3


19
Trái

Nhận xét:
Tổn thương thoái hóa 2 khớp chiếm đa số TL 70%, khớp gối trái nhiều
hơn 16,7%, gối phải 13,3%. Không có sự khác biệt nhiều vị trí tổn thương
trong 2 nhóm NC với p > 0,05. Trong đó phần nhiều bệnh nhân của 2 nhóm
NC thuận bên phải, như vậy thoái hóa khớp không liên quan đến vận động
nhiều hay ít của các khớp, trong y văn có đề cập đến vấn đề bệnh gặp nhiều ở
những người vận động nhiều. Điều này có lẽ chỉ đúng cho các trường hợp
bệnh nhân là vận động viên.


20

3.1.5. Đặc điểm lâm sàng của 2 nhóm trước nghiên cứu
Bảng 3.5. Triệu chứng lâm sàng của 2 nhóm trước nghiên cứu
Triệu chứng
1. Đau khớp
2. Hạn chế VĐ
3. Sưng khớp
4. Phá gỉ khớp
5. Lục cục tại khớp
7. Dấu hiệu bào gỗ
8. Nóng da tại khớp

Nhóm NC
(n = 30)
n
%
30
100
30


Tổng
(n = 60)
n
%
59
98,3
60
100
42
70,0
57
95,0
28
46,7
27
45,0
42
70,0

p
1,00
0,26
0,24
0,30
0,80
0,26

Biểu đồ 3.4. Triệu chứng lâm sàng của 2 nhóm trước nghiên cứu
Nhận xét:

22
73,3
30
100

(n = 30)
n
%
0
0
6
20,0
24
80,0
30
100

(n = 60)
n
%
0
0
14
23,3
46
76,7
60
100

0,54


%

n

%

n

%

Trung bình (5 – 7 Đ)

0

0

2

6,7

2

3,3

Nặng (8 – 10 Đ)

1

3,3


26,7

27

45,0

Tổng

30

100

30

100

60

100

p

0,76

Biểu đồ 3.6. Mức độ tổn thương chức năng KG theo Lequesne trước ĐT
Nhận xét:
Mức độ tổn thương khớp gối chức năng theo thang điểm Lequesne
trong 2 nhóm nghiên cứu chúng tôi thấy mức độ rất nặng và trầm trọng chiếm
TL cao tương ứng là 43,4% và 45%. Sự khác biệt về chỉ số Lequesne giữa 2

70,0
21
70,0
3
10
5
16,7
1
3,3
1
3,3
30
100
30
100
0,043

Tổng
(n = 60)
n
%
8
13,3
42
70,0
8
13,3
2
3,4
60


n
23
7
30

%
76,7
23,3
100

n
16
14
30

%
53,3
46,7
100

n
39
21
60

%
65,0
35,0
100


7,43 ± 1,17

3,53 ± 1,11

< 0,001

Chung

7,49 ± 1,17

3,05 ± 1,27


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status