Đánh giá tác dụng hỗ trợ điều trị của thuốc “trúng phong hoàn” trên bệnh nhân nhồi mãu não giai đoạn cấp (trúng phong kinh lạc) - Pdf 42

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Tai biến mạch não (TBMN) là một bệnh lý thần kinh phổ biến và là một
vấn đề thời sự cấp bách. TBMN là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ
ba sau bệnh tim mạch và ung thư [1].
Theo Bethoux, tỷ lệ mắc TBMN của các nước phương Tây ước tính 5%
đến 10% dân số [2]. Tổ chức Y tế Thế giới thống kê, mỗi năm có hơn 4,5 triệu
người tử vong do TBMN. Riêng ở Châu Á hàng năm tử vong do TBMN là 2,1
triệu người [1], [3].
Ở Hoa Kỳ năm 2000 có khoảng 700.000 người bị đột quỵ não mới mắc,
trong đó có 500.000 trường hợp đột quỵ não lần đầu. Dự báo đột quỵ vẫn có
xu hướng tăng trong ba mươi năm tới: năm 1995 có 12,8% người Mỹ trên 65
tuổi bị đột quỵ não và tới năm 2025 sẽ có khoảng 18,7% [4], [5].
Tỷ lệ TBMN ở Châu Phi, Châu Á và các nước và khu vực đang phát
triển tương đương với Châu Âu, Châu Mỹ. Tại Trung Quốc, thống kê có tới
6.000.000 người bị đột quỵ, trong đó nhồi máu não (NMN) chiếm 62%.
Ở Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh đang tăng nhanh với mức độ đáng lo ngại.
Theo Lê Văn Thành và cộng sự, điều tra một số địa phương ở miền Nam cho
kết quả của bệnh tương đương với các nước trên thế giới [6].
Trong những năm gần đây với sự tiến bộ không ngừng của y học, các
phương pháp điều trị TBMN ngày càng được hoàn thiện, chất lượng điều trị
ngày càng được nâng cao. Bên cạnh những thành tựu to lớn mà Y học hiện đại
(YHHĐ) đã đạt được trong chẩn đoán, điều trị và phục hồi chức năng cho
bệnh nhân (BN) TBMN, Y học cổ truyền (YHCT) cũng đã có những đóng góp
tích cực trong dự phòng, điều trị và phục hồi chức năng cho những BN này. Kết
hợp YHHĐ và YHCT, dùng thuốc và không dùng thuốc đã đưa lại kết quả khá
lớn trong chẩn đoán và điều trị. Nhiều nghiên cứu đã cho ra các chế phẩm dựa
trên các bài thuốc cổ phương, nghiệm phương rất tiện sử dụng và đã đem lại



CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU MẠCH MÁU NÃO
Não được tưới máu bởi hai hệ động mạch: hệ động mạch cảnh trong và
hệ động mạch đốt sống - thân nền [7], [8].

Hìn
h 1.1. Hệ động mạch não [9].
- Hệ động mạch cảnh trong: tưới máu cho 2/3 trước của bán cầu đại não
và chia làm 4 ngành tận:


4
+ Động mạch não trước: tưới máu cho mặt trong của bán cầu, mặt dưới
và mặt ngoài thuỳ trán.
+ Động mạch não giữa: tưới máu cho mặt ngoài bán cầu, vùng trán - thái
dương, đỉnh - thái dương, nửa trước thuỳ chẩm.
+ Động mạch thông sau: tạo sự nối thông của vòng mạch đa giác Willis.
+ Động mạch mạc mạch trước: chạy vào các mạch để tạo thành đám rối
mạc mạch bên, giữa, trên.
- Hệ động mạch đốt sống - thân nền: cung cấp máu cho 1/3 sau của bán
cầu đại não, tiểu não và thân não. Hai động mạch não sau là hai nhánh tận
cùng của động mạch đốt sống thân nền, tưới máu cho mặt dưới của thuỳ thái
dương và mặt giữa thuỳ chẩm.
1.2. TAI BIẾN MẠCH NÃO THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI
1.2.1. Định nghĩa và phân loại tai biến mạch não
1.2.1.1. Định nghĩa
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 1989: “Tai biến mạch não là
tình trạng mất đột ngột hoặc cấp tính các chức năng của não, tồn tại trên 24
giờ hoặc dẫn tới tử vong trước 24 giờ. Các triệu chứng thần kinh khu trú phù

động mạch não, gây co thắt mạch não, làm cản trở lưu thông máu; hay gặp
trong xuất huyết dưới nhện, sau đau nửa đầu Migraine, sau sang chấn, sau sản
giật... [1], [10].
1.2.2.3. Sinh lý bệnh
Trong tình trạng thiếu máu não cục bộ, có nhiều cơ chế (tự điều hoà,
tuần hoàn bàng hệ) được phát động để đảm bảo cung cấp oxy cho vùng thiếu
máu. Tổn thương của mô não ở sau nơi mạch máu não bị tai biến xuất hiện
phụ thuộc vào lưu lượng máu đến nuôi dưỡng [13].
Các nghiên cứu cho thấy, NMN sẽ xảy ra khi lưu lượng dòng máu não
giảm xuống dưới 18 đến 20ml/100g não/phút. Trung tâm của ổ NMN là vùng
hoại tử có lưu lượng dòng máu từ 10 đến 15 ml/100g não/phút, còn xung
quanh vùng này (gọi là vùng nửa tối) có lưu lượng dòng máu là 20 đến 25
ml/100g não/phút. Ở đây tuy các tế bào não vẫn còn sống nhưng không


6
hoạt động. Các rối loạn sinh hóa ở vùng nửa tối có thể hồi phục được khi
tuần hoàn được tái lập về mức bình thường trong vòng ba giờ đầu, đây còn
gọi là vùng điều trị trong NMN. Lưu lượng máu càng thấp thì thời gian đưa
đến thiếu máu não cục bộ càng sớm, khả năng hoại tử tế bào thần kinh càng
nhiều [14].

Hình 1.2. Vùng nửa tối (vùng điều trị) trong nhồi máu não [15]
1.2.2.4. Lâm sàng
Thời gian xảy ra NMN thường vào ban đêm hoặc sáng sớm, khởi phát
cấp tính, đột ngột, các triệu chứng lâm sàng tăng nhanh tối đa ngay từ đầu, ý
thức tỉnh táo hoặc lú lẫn, ít khi có hôn mê.
Liệt dây VII trung ương và liệt nửa người cùng bên khi tổn thương ở bán
cầu đại não, hoặc liệt dây III, dây VII ngoại vi bên tổn thương và liệt nửa
người bên đối diện, nếu tổn thương ở vùng thân não nói chung, có thể có rối

bình thường sẽ tăng từ 2,9 lần (đối với nữ) đến 3,1 lần (đối với nam) [18],
[19]. Dùng thuốc huyết áp theo khuyến cáo về thái độ điều trị huyết áp ở bệnh
nhân TBMN thể NMN và không có chỉ định dùng thuốc tiêu sợi huyết
(AHA/ASA 2005 Guideline Update).
Mức huyết áp
HAtt ≤ 220 hoặc
HAttr ≤ 120mmHg

Thái độ
Theo dõi (chỉ cho thuốc hạ huyết áp khi có các
biến chứng nhồi máu cơ tim, tách thành động


8

HAtt ≥ 220 hoặc
HAttr 121 - 140mmHg
HAttr > 140mmHg

mạch chủ, phù phổi, bệnh não do tăng huyết áp).
Labetalol 10 - 20mg tĩnh mạch hoặc, Nicardipin
5mg/giờ (tĩnh mạch) → hạ khoảng 10 - 15% chỉ số số
huyết áp.
Nitroprussid 0,5mg/kg/phút (tĩnh mạch) → hạ
khoảng 10 - 15% chỉ số huyết áp.

* Rối loạn chuyển hoá lipid: lipid trong huyết tương tồn tại dưới dạng
kết hợp với apoprotein và được chia làm ba loại: lipoprotein trọng lượng phân
tử thấp; lipoprotein trọng lượng phân tử cao; triglycerid [19], [21], [22].
* Tiền sử cơn thiếu máu não thoáng qua: nguy cơ xảy ra TBMN sau cơn

- Hình ảnh nhồi máu - chảy máu: có sự kết hợp một hình ảnh tăng tỷ
trọng tự nhiên ở trong một vùng giảm tỷ trọng [10], [24].
- Trên thực tế chụp CLVT sọ não cho kết quả âm tính xấp xỉ một phần
ba số trường hợp TBMN đã được chẩn đoán lâm sàng [10], [24].

Ổ nhồi máu

Ổ nhồi máu

Hình 1.3. Hình ảnh ổ nhồi máu não trên phim cắt lớp vi tính sọ não
(Nguồn: hinhanhhoc.com)


10
* Chụp cộng hưởng từ và chụp mạch cộng hưởng từ: đây là phương
pháp hiện đại nhất, rõ ràng những vùng não tổn thương, có độ nhạy cao,
không bị nhiễu ảnh ở vùng hố sau. Có thể dựng ảnh nhiều chiều, phương pháp
chụp mạch cộng hưởng từ không phải tiêm thuốc cản quang và mạch não.
Nhưng phương pháp này có nhược điểm là: khó phân định, dễ gây nhầm lẫn
với một số tổn thương khác không do thiếu máu não nhưng cũng có thay đổi
tương tự như u não, các tổn thương viêm nhiễm. Hình ảnh: chủ yếu tăng tín
hiệu trong thì T2 [25].
* Xạ hình tưới máu não bệnh lý trên máy chụp cắt lớp phát điện tử dương
và chụp cắt lớp phát photon đơn: cung cấp những hình ảnh động học về quá
trình tưới máu não, các tổn thương mạch máu não, giúp chẩn đoán sớm, chính
xác các tổn thương mạch não, bổ sung thêm các thông tin về hình ảnh giải
phẫu và hình thái của chụp CLVT và cộng hưởng từ [25].
* Siêu âm Doppler: để phát hiện dấu hiệu tắc, hẹp hệ động mạch cảnh
trong và ngoài sọ [3], [25].
1.2.2.7. Tiên lượng: phụ thuộc vào các yếu tố sau: tuổi cao, tình trạng chung

cổ, ngực; chấn thương dập nát lớn…
Hay xảy ra ở người trẻ dưới 50 tuổi.
Lâm sàng: các triệu chứng xuất hiện đột ngột và nặng tối đa ngay từ đầu.
Triệu chứng chung có thể rối loạn ý thức nhẹ, co giật chiếm 20 – 25%. Triệu
chứng thần kinh khu trú tùy theo đường kính cục tắc và vị trí gây tắc mạch mà
có các triệu chứng thần kinh khu trú khác nhau.
Cận lâm sàng: chụp CLVT sọ não thấy vùng giảm tỷ trọng phù hợp với
động mạch nuôi não bị tắc [3], [16].
* Chẩn đoán NMN ổ khuyết: Lâm sàng: các triệu chứng thường nhẹ.
Liệt mặt, chi trên và chi dưới, có thể không hoàn toàn nhưng thường là
đồng đều. Liệt nhẹ nửa người kèm loạng choạng. Nói khó - bàn tay vụng
về. Cận lâm sàng: chụp CLVT sọ não có các ổ giảm tỷ trọng nhỏ đ ường
kính nhỏ hơn 1,5cm [16].


12
* Chẩn đoán NMN do huyết khối động mạch não: Lâm sàng: đau đầu, co
giật, nôn ít gặp, rối loạn ý thức nhẹ (hôn mê chỉ khi có nhồi máu diện rộng ở bán
cầu hoặc ở khu vực dưới lều tiểu não), BN có thể có rối loạn cơ tròn, rối loạn
thực vật gặp ở những BN có bệnh cảnh lâm sàng nặng nề. Loại trừ chẩn đoán tắc
mạch não và nhồi máu ổ khuyết. Chẩn đoán xác định bằng chụp CLVT sọ não.
1.2.2.9. Điều trị và phòng chống tai biến mạch não tái phát
 Điều trị
* Điều trị chung, cứu sống người bệnh trong giai đoạn cấp: ổn định các chức
năng sống, chức năng hô hấp và tuần hoàn... [1], [3], [16], [28], [27], [29].
* Điều trị đặc hiệu
- Phục hồi tuần hoàn bị tắc
+ Lấy huyết khối bằng dụng cụ cơ học có thể tái thông được các mạch
máu lớn, cửa sổ điều trị lên 8 giờ đối với tuần hoàn bên và có thể tới 12 giờ
đối với hệ tuần hoàn sau. Vì vậy, lấy huyết khối bằng dụng cụ cơ học là một

* Phòng bệnh cấp hai nhằm giảm tỷ lệ tai biến tái phát, kiểm soát tốt
tăng huyết áp, sử dụng thuốc chống đông.
* Chế độ dinh dưỡng, chăm sóc hộ lý và phục hồi chức năng: phải đảm
bảo cho BN ăn uống đủ dinh dưỡng, chống loét, chống bội nhiễm, điều trị
phục hồi chức năng phải được bắt đầu càng sớm càng tốt khi bệnh cảnh lâm
sàng và tình trạng toàn thân của BN cho phép. Nguyên tắc phục hồi là khôi
phục lại các mẫu vận động bình thường vốn có trên cơ sở loại bỏ các mẫu vận
động bất thường [33], [34].
Phòng chống tai biến mạch não tái phát
* Điều trị các yếu tố nguy cơ [1], [3]
Để giảm tỷ lệ TBMN trong cộng đồng vẫn là phòng bệnh. Theo khuyến
cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, dự phòng TBMN bằng cách giảm các yếu tố
nguy cơ. Chống các yếu tố nguy cơ trong cộng đồng có thể làm giảm 80%
nguy cơ TBMN.
Phương pháp dự phòng gồm hai loại:
- Dự phòng cấp 1: khi chưa mắc TBMN, giữ không để xảy ra TBMN.


14
- Dự phòng cấp 2: áp dụng khi dự phòng cấp 1 đã thất bại, dự phòng cấp
2 không cho TBMN tái phát.
* Phẫu thuật động mạch cảnh: nhằm loại bỏ nguyên nhân gây tắc và tái
lập tuần hoàn mạch cảnh [35].
1.3. TAI BIẾN MẠCH NÃO THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN
Trong YHCT không có bệnh danh TBMN nói chung và NMN nói riêng.
Căn cứ vào triệu chứng lâm sàng và tính chất xuất hiện đột ngột như trong giai
đoạn cấp của YHHĐ thì YHCT xếp TBMN vào chứng trúng phong là chứng
bệnh này đã được đề cập tới từ hơn 2.000 năm nay trong các y văn cổ như “Nội
kinh” qua các thời kỳ lịch sử được bổ sung và hoàn thiện dần [36], [37].
1.3.1. Quan niệm, nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh của chứng trúng phong

Ngày nay các thầy thuốc YHCT cho rằng nguyên nhân của trúng
phong là do:
+ Nội thương hao tổn: tố chất cơ thể âm huyết suy, dương thịnh hoả
vượng, phong hoả dễ tích hoặc do cơ thể già yếu can thận âm hư, can
dương thiên thịnh, khí huyết thượng nghịch, thượng bít thần khiếu đột
nhiên mà phát bệnh [37].
+ Ẩm thực bất tiết: do ăn uống không điều độ, ảnh hưởng đến công năng
tỳ vị, thấp nội sinh tích tụ sinh đàm, đàm thấp sinh nhiệt, nhiệt cực sinh
phong, phong kết hợp với đàm phạm vào mạch lạc, đi lên trên làm tắc thanh
khiếu gây bệnh [48].
+ Tình chí thương tổn: uất nộ thương can, can khí uất kết, khí uất hoá
hoả, can dương bạo cang, thận thủy hư không chế ước được tâm hoả, khí
huyết thượng xung lên não mà gây bệnh [37].
+ Khí huyết hư tà trúng vào kinh lạc: do khí huyết không đủ, mạch lạc
hư rỗng nên phong tà nhân chỗ hư trúng vào kinh lạc làm khí huyết tắc trở.
Hoặc người béo khí suy, đàm thấp thịnh, ngoại phong dẫn động đàm thấp bế
tắc kinh lạc gây nên bệnh [43].


16
Như vậy, nguyên nhân và cơ chế gây trúng phong rất phức tạp nhưng
quy lại không ngoài sáu yếu tố là phong (nội phong, ngoại phong), hỏa (can
hỏa, tâm hỏa), đàm (phong đàm, thấp đàm, nhiệt đàm), huyết (huyết hư, huyết
ứ), khí (khí hư, khí trệ, khí nghịch) và hư (tỳ hư, can thận hư, âm hư). Trong
những yếu tố đó thì can thận âm hư là căn bản, huyết ứ thường xuyên xảy ra,
hai yếu tố này tác động lẫn nhau làm cho phong động, khí huyết nghịch loạn,
gây trúng phong [37], [39], [44], [45], [46].


17


18
Trong giai đoạn cấp tính về cơ bản có ba trạng thái: không có rối loạn ý
thức, hôn mê nông và hôn mê sâu [48].
- Điều trị ở giai đoạn không có rối loạn ý thức, chỉ có liệt nửa người
thuộc trúng phong kinh lạc bao gồm các thể:
+ Lạc mạch rỗng hư, phong tà xâm nhập
• Triệu chứng: tự nhiên xuất hiện liệt nửa người, miệng méo, mắt lệch,
nói khó, chân tay tê bì kèm theo có đau đầu, ngạt mũi, đau nhức trong xương,
có thể có sốt, sợ lạnh; chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng hoặc vàng mỏng; mạch
phù [48], [49].
• Nguyên nhân bệnh sinh: do chính khí bất túc, phong tà thừa hư mà xâm
nhập gây tổn thương kinh lạc. Tố vấn - Thiên Cốt không luận viết: phong tà
có thể gây nên hàng trăm thứ bệnh khác nhau. Trong Thái âm dương minh
thiên cho rằng: khi phong xâm phạm vào cơ thể thường tác động tới phần
dương, gây nên bệnh ở phần trên của cơ thể. Khi phong tà xâm phạm vào bì
phu có thể lưu lại ở cơ phu hoặc vào kinh lạc làm cho cơ phu không được
nuôi dưỡng đầy đủ, nếu thể trạng đàm trọc nội thịnh thì phong kết hợp với
đàm tác động tới kinh lạc [48], [49].
• Pháp điều trị: Khứ phong, thông lạc, hoạt huyết, hóa vinh [49].
• Phương thuốc: Đại tần giao thang [49].
+ Phong đàm thượng nhiễu, đàm nhiệt phủ thực
•Triệu chứng: BN đau đầu, chóng mặt, nhiều đờm, đột ngột hoặc từ từ
dẫn tới liệt nửa người, miệng méo mắt lệch, chân tay tê bì, nói khó, tinh thần
không tỉnh táo, đại tiện táo. Lưỡi bệu màu đỏ sẫm, rêu lưỡi vàng nhớt. Mạch
huyền hoạt hoặc huyền sác [48].
• Nguyên nhân bệnh sinh: do ăn uống không điều độ, ăn quá nhiều đồ
cay nóng, đồ béo ngọt hoặc do lao động quá mệt nhọc làm cho tỳ mất kiện
vận, thủy thấp sẽ tích tụ lại sinh ra đàm, đàm uất lâu ngày hoá nhiệt gây trở
trệ kinh lạc, che lấp thanh khiếu. Nếu tinh thần uất ức, quá tức giận làm cho



20
• Nguyên nhân bệnh sinh: do ăn nhiều chất béo ngọt hoặc nghiện rượu
làm tỳ vị tích trệ, tân dịch tích tụ sinh đàm; hoặc uất giận ưu tư làm khí trệ
sinh đàm. Đàm uất hóa hỏa mà sinh bệnh [48].
• Pháp điều trị: Táo thấp hoá đàm, tức phong khai khiếu [48].
• Phương thuốc: Bán hạ bạch truật thiên ma thang gia giảm [48].
- Điều trị ở giai đoạn hôn mê nông: thường do phong nhiệt nhiễu thanh
không, đàm thấp hoặc đàm nhiệt làm bế tắc tâm khiếu gọi là chứng bế. Lâm
sàng chia thành dương bế và âm bế [50].
+ Dương bế
• Triệu chứng: bệnh nhân đột nhiên ngã lăn ra, bất tỉnh, mặt đỏ, hai gò
má đỏ, người nóng, đờm rãi nhiều, hơi thở thô, vật vã không yên, có thể có
nôn, nấc. Chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, dính. Bí đại tiểu tiện. Mạch huyền hoạt
hữu lực [48].
• Nguyên nhân bệnh sinh: do thể trạng thuộc thể can dương cang thịnh,
khi tinh thần bị kích thích quá mức làm cho can dương thăng phù lên trên gây
nên phong động. Huyết theo khí nghịch lên trên, kết hợp với đàm, hỏa làm
che lấp thanh khiếu, tâm không tàng được thần dẫn tới mê man, bất tỉnh [48].
• Pháp điều trị: Tân lương khai khiếu, thanh can tức phong [51], [52].
• Phương dược: An cung ngưu hoàng hoàn [51], [52].
+ Âm bế
• Triệu chứng: bệnh nhân đột nhiên ngã vật ra, bất tỉnh, mắt mở,
miệng há, hơi thở yếu, tay chân lạnh, ra mồ hôi đầm đìa, đại tiểu tiện dầm
dề không tự chủ, sắc mặt nhợt nhạt, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng nhờn,
mạch trầm hoãn [48].
• Nguyên nhân bệnh sinh: tình trạng dương khí suy yếu đến cực điểm, dễ
dẫn tới âm dương ly thoát, khí của tạng phủ và cơ thể suy kiệt sắp tuyệt [49].
• Pháp điều trị: Tân ôn khai khiếu, trừ đàm tức phong [49].

thần tỉnh sau hai đến ba ngày, phản xạ sinh lý hồi phục, các triệu chứng


22
chuyển biến rõ rệt) 5 trường hợp, có kết quả 29 trường hợp, có tiến bộ 23
trường hợp, không kết quả (trên bảy ngày chưa tỉnh, các triệu chứng không có
thay đổi rõ) 9 trường hợp. Tỷ lệ có kết quả: 86,36% [53].
Bệnh viện Phúc Kiến NC trên 56 BN trúng phong cấp tính dùng Hoa đà tái
tạo hoàn thấy kết quả chung đạt 89%, trong đó 43% đạt kết quả tốt [54].
An cung ngưu hoàng hoàn là thuốc cấp cứu YHCT truyền thống dùng
trong TBMN nhanh chóng và hiệu quả.
Nghiên cứu tác dụng dược lý của An cung ngưu hoàng hoàn trên thực
nghiệm thấy có tác dụng sau:
Nghiên cứu của Diệp Tổ Quang, Vương Kim Hoa và các cộng sự đã
nghiên cứu dược lực học của bài thuốc An cung ngưu hoàng hoàn cho thấy có
tác dụng thanh nhiệt, giải độc, trấn tĩnh có tác dụng bảo vệ tế bào não [55].
Chu Thừa Hỷ [52] nghiên cứu trên thỏ bị gây hôn mê chứng minh rằng:
An cung ngưu hoàng hoàn có thể giảm nhẹ hôn mê ở động vật, ức chế các
chứng trạng thần kinh, giảm các sóng bệnh lý trên điện não đồ lớp vỏ não,
đồng thời giảm tỷ lệ tử vong của động vật thực nghiệm.
An cung ngưu hoàng hoàn có tác dụng phòng và điều trị tổn thương gan,
tác dụng này có thể liên quan tới tác dụng thanh nhiệt giải độc của nó [55]. Có
tác dụng hạ áp rõ rệt trên động vật thực nghiệm, kéo dài thời gian sống của
chuột trong tình trạng thiếu oxy, làm thân nhiệt của những người sốt cao (39,5
- 40ºC) giảm xuống bình thường, làm cho trạng thái co rút, co giật giảm rõ rệt [56].
Một số nghiên cứu lâm sàng của An cung ngưu hoàng hoàn:
Vu Phượng Vân và cộng sự điều trị 53 BN hôn mê do trúng phong bằng
thụt giữ An cung ngưu hoàng hoàn, 36 BN có hiệu quả rõ rệt, 17 BN có tiến
triển, tỷ lệ hiệu quả đạt 100% [57].
Khúc Xuân Viện điều trị cấp cứu 20 BN trúng phong thể dương bế bằng

tiện, hỗ trợ chống phù não [58].


24

1.4. BÀI THUỐC “TRÚNG PHONG HOÀN”
1.4.1. Nguồn gốc
Từ lâu nay, trong nhân dân có nhiều những bài thuốc nghiệm phương
điều trị TBMN rất hiệu quả nhưng chưa có những NC cơ bản và có hệ thống.
“Thần dược cứu mệnh” là bài thuốc được dùng phổ biến trong nhân dân. Bài
thuốc này thường được dùng dưới dạng thuốc sắc, việc này rất mất thời gian,
không phù hợp để điều trị một bệnh cấp tính như chứng trúng phong. Lương
y Nguyễn An Định đã tổng hợp những kinh nghiệm trong nhân dân viết bài
trên một số báo ở Long An năm 1997 để điều trị chứng trúng phong với biểu
hiện mắt miệng méo xếch, chảy dãi, chân tay co quắp, cấm khẩu, bán thân bất
toại. Bài thuốc gồm có 3 vị là: Hắc đậu, Địa long, Hắc diện thần [59].
“Trúng phong hoàn” có nguồn gốc từ bài thuốc “Thần dược cứu mệnh”
để làm giảm tính lạnh của một số vị thuốc trong bài thuốc (Hắc đậu, Địa
long) cũng như để tăng tác dụng trừ đàm, bài thuốc được gia thêm Trần bì.
Được Viện YHCT Quân đội sản xuất theo đề tài khoa học công nghệ cấp Bộ
Quốc Phòng. Thuốc được bào chế dưới dạng viên hoàn mềm. Chế phẩm
“Trúng phong hoàn” được bào chế tại tại Khoa Dược - Viện YHCT Quân Đội
và đã đạt tiêu chuẩn kiểm định cơ sở.
Nguyễn Minh Hà, Nguyễn Hùng Sơn và cộng sự (2016) đang hoàn thiện
và nghiệm thu đề tài “Nghiên cứu xây dựng quy trình bào chế, đánh giá tính
an toàn và tác dụng điều trị nhồi máu não giai đoạn cấp của thuốc Trúng
phong hoàn”. Trong khuôn khổ đề tài khoa học cấp Bộ quốc phòng, sau khi
hoàn thành các nghiên cứu thực nghiệm đã kết luận: viên hoàn mềm Trúng
phong hoàn không xác định được liều LD50, không gây ảnh hưởng đến thể
trạng chung, chức năng tạo máu, chức năng gan thận trên động vật thực

 Tên khoa học: (Pheretima) là toàn
thân đã chế biến của con giun đất
Pheretima asiatica Michaelsen. Họ
cự dẫn – Megascolecida [59].
Hình 1.4. Địa long
 Tác dụng: Hypoxanthin chiết xuất từ dược liệu có tác dụng làm giãn khí
quản, kháng histamin, hạ huyết áp [60].
 Tác dụng dược lý
Tác dụng hạ nhiệt, an thần; làm giãn phế quản nên có tác dụng hạ cơn
suyễn; hạ huyết áp chậm mà lâu dài, có thể do làm giãn mạch nội tạng; kháng
histamin và chống co giật; tăng hoạt tính dung giải của fibrin chống hình
thành huyết khối; phá huyết do chất lumbritin [59].
Trên invitro và thử nghiệm lâm sàng cũng cho thấy địa long giúp cải
thiện tuần hoàn máu, điều trị TBMN do trúng phong, hạ sốt, lợi tiểu, kháng vi
rút, kháng ung thư và hoạt tính kháng khuẩn [60]. Trong đó tác dụng TBMN
do trúng phong đã được chứng minh trên invitro và thử nghiệm lâm sàng với
các tác dụng liên quan đến làm tan cục máu đông và chống đông máu [59],
[61], [62].



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status