TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN NHU CẦU DU LỊCH TÂM LINH
TẠI THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC
CỦA NGƯỜI DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN
HỒ PHI KHANH
AN GIANG, THÁNG 4 – 2016
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN NHU CẦU DU LỊCH TÂM LINH
TẠI THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC
CỦA NGƯỜI DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN
HỒ PHI KHANH
MSSV: DQT122493
GVHD: ThS. TRỊNH HOÀNG ANH
AN GIANG, THÁNG 4 – 2016
nhỏ người dân của thành phố Long Xuyên có xu hướng tìm đến những địa điểm
du lịch mới lạ hơn. Do đó, đề tài “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu
cầu du lịch tâm linh tại thành phố Châu Đốc của người dân thành phố Long
Xuyên” được thực hiện nhằm nhằm phân tích những yếu tố quan trọng, có ảnh
hưởng đến nhu cầu du lịch tâm linh tại Châu Đốc, từ đó đề xuất một số kiến
nghị góp phần phát triển du lịch tỉnh nhà.
Đề tài nghiên cứu được thực hiện thông qua hai bước chính là nghiên cứu sơ bộ
và nghiên cứu chính thức. Trong đó, nghiên cứu sơ bộ được thực hiện bằng
phương pháp thảo luận tay đôi với cỡ mẫu n=5 đáp viên; nghiên cứu chính thức
được thực hiện bằng cách chọn ngẫu nhiên 150 đáp viên để tiến hành phát phiếu
phỏng vấn, thu thập dữ liệu. Dữ liệu sau khi thu thập đầy đủ sẽ được phân tích
bằng phương pháp thống kê mô tả.
Kết quả phân tích cho thấy có 5 biến tác động mạnh nhất đến nhu cầu du lịch
tâm linh tại thành phố Châu Đốc đó là: “tính di động và di chuyển cá nhân”,
“các yếu tố cản trở”, “các điểm hấp dẫn du lịch”, “các hoạt động bổ sung” và
“nơi ăn nghỉ”. Đối với biến “các yếu tố cản trở” thì “nói thách” là yếu tố có ảnh
hưởng mạnh nhất, “lễ hội đặc sắc” là yếu tố có ảnh hưởng nhất của biến “các
điểm hấp dẫn du lịch”, “leo núi” là yếu tố có ảnh hưởng nhất của biến “các hoạt
động bổ sung”, yếu tố có ảnh hưởng nhất của biến “tính di động và di chuyển
cá nhân” là “tình hình giao thông tại thành phố Châu Đốc”, cuối cùng “thái độ
phục vụ” là yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất của biến “nơi ăn nghỉ”. Bên cạnh đó,
“nhân chủng bao gồm giáo dục” là biến không có ảnh hưởng đến nhu cầu du
lịch tâm linh. Ngoài ra, các biến còn lại như: kinh tế và giá cạnh tranh, chính
phủ/quy định, thái độ văn hóa xã hội, các tiện nghi và dịch vụ bổ trợ và thông
tin tham khảo có mức độ ảnh hưởng trung bình đối với nhu cầu du lịch tâm linh
tại Châu Đốc. Từ kết quả thu được, một vài kiến nghị đã được đề xuất để góp
phần xây dựng và phát triển du lịch tâm linh tỉnh nhà.
Tuy kết quả nghiên cứu cũng đã thỏa mãn được vấn đề và mục tiêu nghiên cứu
đã đề ra, nhưng đề tài vẫn còn mắc phải nhiều thiếu sót và hạn chế. Chẳng hạn
như kinh nghiệm của nhà nghiên cứu còn non nớt nên cách lập luận, phân tích
2.1 Cơ sở lý thuyết .......................................................................................... 4
2.1.1 Các khái niệm liên quan đến nhu cầu ....................................................... 4
2.1.2 Tháp nhu cầu Maslow ............................................................................... 5
2.1.3 Nhu cầu du lịch ......................................................................................... 6
2.1.4 Các khái niệm liên quan đến du lịch ......................................................... 9
2.1.5 Điểm đến du lịch ..................................................................................... 11
2.1.6 Các yếu tố cấu thành điểm đến du lịch ................................................... 11
2.2 Lược khảo tài liệu ................................................................................... 13
2.3 Mô hình nghiên cứu ................................................................................ 15
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................................. 17
3.1 Thiết kế nghiên cứu ................................................................................. 17
3.1.1 Nghiên cứu sơ bộ (định tính) .................................................................. 17
3.1.2 Nghiên cứu chính thức (định lượng) ....................................................... 17
3.1.3 Quy trình nghiên cứu .............................................................................. 18
3.2 Phương pháp thu thập dữ liệu ................................................................. 18
3.2.1 Nguồn dữ liệu thứ cấp ............................................................................. 18
3.2.2 Nguồn sữ liệu sơ cấp ............................................................................... 19
3.3 Phương pháp phân tích dữ liệu ............................................................... 19
3.4 Biến và thang đo ..................................................................................... 19
CHƯƠNG 4 MỘT SỐ ĐIỂM DU LỊCH TÂM LINH NỔI TIẾNG TẠI
THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC............................................................................. 22
4.1 Giới thiệu thành phố châu đốc ................................................................ 22
iv
4.2 Một số điểm du lịch tâm linh nổi tiếng tại thành phố Châu Đốc ............ 22
4.2.1 Miếu Bà Chúa Xứ núi Sam ..................................................................... 22
4.2.2 Chùa Tây An ........................................................................................... 23
4.2.3 Lăng Thoại Ngọc Hầu ............................................................................. 24
CHƯƠNG 5 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................ 26
Châu Đốc ......................................................................................................... 30
vi
DANH SÁCH HÌNH
Hình 1: Tháp nhu cầu Maslow........................................................................... 5
Hình 2: Mô hình nghiên cứu ............................................................................ 15
Hình 3: Quy trình nghiên cứu .......................................................................... 18
Hình 4: Một số hình ảnh tại Miếu Bà Chúa Xứ núi Sam ................................ 23
Hình 5: Một số hình ảnh của chùa Tây An ...................................................... 24
Hình 6: Một số hình ảnh tại Sơn Lăng............................................................. 24
vii
DANH SÁCH BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Cơ cấu mẫu theo giới tính .............................................................. 26
Biểu đồ 2: Cơ cấu mẫu theo độ tuổi ................................................................ 26
Biểu đồ 3: Cơ cấu mẫu theo trình độ học vấn ................................................. 27
Biểu đồ 4: Cơ cấu mẫu theo thu nhập .............................................................. 27
Biểu đồ 5: Thống kê số lượng thành viên trong gia đình ................................ 27
Biểu đồ 6: Cơ cấu mẫu theo tôn giáo............................................................... 28
Biểu đồ 7: Mục đích đến Châu Đốc................................................................. 28
Biểu đồ 8: Phương tiện di chuyển khi đến Châu Đốc du lịch tâm linh ........... 29
Biểu đồ 9: Nguồn thông tin tham khảo ............................................................ 30
Biểu đồ 10: Mức độ ảnh hưởng của biến các hoạt động bổ sung .................... 31
Biểu đồ 11: Mức độ ảnh hưởng của biến tính di động và di chuyển cá nhân . 32
Biểu đồ 12: Mức độ ảnh hưởng của biến nơi ăn nghỉ ..................................... 33
Biểu đồ 13: Mức độ ảnh hưởng của biến các điểm hấp dẫn du lịch ................ 34
hội vía Bà Chúa Xứ núi Sam, một trong những lễ hội du lịch văn hóa tâm linh
lớn nhất Nam Bộ. Du lịch tâm linh là thế mạnh để tỉnh An Giang phát triển
ngành du lịch, góp phần làm tăng ngân sách tỉnh nhà.
Trong thời gian gần đây, sự phát triển vượt bậc của nhiều hình thức du lịch khác
nhau, đặc biệt là du lịch sinh thái đã làm cho người dân tại Thành phố Long
Xuyên có xu hướng tìm đến loại hình du lịch này ở các tỉnh thành lân cận. Điều
này đã tạo nên một thách thức không nhỏ đối với du lịch An Giang. Bên cạnh
lợi thế sẳn có từ những sản phẩm du lịch tâm linh, An Giang cần có thêm nhiều
chiến lược tác động đến nhu cầu của du khách, từ đó kích thích họ đến với du
lịch tâm linh An Giang. Muốn hiểu rõ nhu cầu của du khách cần phải nghiên
cứu các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu. Bởi vì việc nghiên cứu này sẽ giúp cho
chúng ta hiểu được khách hàng đang cần gì, đang mong muốn điều gì, đồng thời
biết được yếu tố nào tác động nhiều, yếu tố nào tác động ít đến nhu cầu từ đó
điều chỉnh chiến lược cho phù hợp để có thể giữ chân khách hàng cũ và thu hút
khách hàng mới. Chính vì thế, đề tài “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu
cầu du lịch tâm linh tại thành phố Châu Đốc của người dân thành phố Long
Xuyên” được thực hiện với mong muốn cung cấp một phần thông tin hữu ích
góp phần phát triển du lịch tâm linh tại An Giang.
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu du lịch tâm linh tại thành phố Châu
Đốc của người dân Thành phố Long Xuyên, từ đó đề xuất một số kiến nghị để
góp phần phát triển ngành du lịch tỉnh An Giang.
1
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu du lịch tâm linh của người
dân tại Thành phố Long Xuyên.
Đề xuất một số kiến nghị để góp phần phát triển ngành du lịch tỉnh An
về nhu cầu, mong muốn, yêu cầu cùng các khái niệm về du lịch như: khách du
lịch, sản phẩm du lịch, tài nguyên du lịch, động lực du lịch, điểm đến du lịch.
Dựa trên cơ sở những lý thuyết đó để đưa ra mô hình nghiên cứu.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu - Trình bày thiết kế nghiên cứu, quy trình
nghiên cứu, phương pháp chọn mẫu, phương pháp phân tích dữ liệu.
2
Chương 4: Giới thiệu về du lịch tâm linh tại Châu Đốc – Trình bày những nét
chính về du lịch tâm linh tại Châu Đốc như: những địa điểm du lịch nổi tiếng,
doanh thu, số lượt khách qua các năm.
Chương 5: Kết quả nghiên cứu - Trình bày kết quả nghiên cứu được sau khi
phân tích dữ liệu.
Chương 6: Kết luận và kiến nghị - Dựa trên kết quả nghiên cứu được để đưa ra
kết luận và kiến nghị.
3
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1.1 Các khái niệm liên quan đến nhu cầu
2.1.1.1 Nhu cầu (Needs)
Nhu cầu là trạng thái thiếu hụt một thứ gì đó mà con người có thể tự cảm nhận
được. Những nhu cầu cơ bản của con người có thể kể đến như: ăn, uống, mặc,
ở, nhu cầu về tình cảm, tri thức hay nhu cầu được tôn trọng, được tự thể hiện…
Philip Kotler (1999) cho rằng: “Những nhu cầu này không phải do xã hội hay
những người làm marketing tạo ra. Chúng tồn tại như một bộ phận cấu thành cơ
thể con người và nhân thân con người”.
hạn.
4
Philip Kotler (1999) cho rằng: “Mong muốn trở thành yêu cầu khi có sức mua
hỗ trợ”. Chính vì thế khi kinh doanh cần quan tâm đến sức mua của khách hàng
để có thể đưa ra những sản phẩm phù hợp với yêu cầu từ đó thỏa mãn được
mong muốn và kích thích được nhu cầu của khách hàng.
2.1.2 Tháp nhu cầu Maslow
Trong mỗi con người, hiển nhiên sẽ tồn tại nhiều nhu cầu khác nhau, những nhu
cầu đó sẽ được phân thành nhiều nhóm với các cấp độ khác nhau. Theo Abraham
Maslow (1943) thì nhu cầu của con người được xếp theo thứ bậc 5 cấp độ như
sau:
Nhu cầu
tự
hoàn thiện
Nhu cầu tự tôn trọng
và được tôn trọng
Nhu cầu xã hội
Nhu cầu an toàn
Nhu cầu sinh lý
Hình 1: Tháp nhu cầu Maslow
(Abraham Maslow, 1943, trích trong Giáo trình kinh tế du lịch, 2006, tr.66).
Qua tháp nhu cầu có thể thấy được rằng Maslow đã phân chia nhu cầu thành
năm nhóm với các cấp độ từ thấp đến cao. Trong đó:
Nhu cầu sinh lý: Là nhu cầu được xếp vị trí cuối cùng nhưng nó lại bao gồm
những nhu cầu mạnh nhất của cơ thể, đó là những nhu cầu cơ bản như: ăn, uống,
ngủ….
Nhu cầu an toàn: Một khi những nhu cầu về tâm lý của con người đã được thực
chưa thể xuất hiện.
Tổng hợp vì khi đi du lịch con người thường sẽ phát sinh nhiều nhu cầu khác
nhau chẳng hạn như đi lại, ăn ở, mua sắm, tham quan, nghỉ ngơi….trong khi đó,
để có thể thỏa mãn được những nhu cầu này cần phải có sự đáp ứng của nhiều
ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau. Bên cạnh đó nhu cầu du lịch cũng là nhu cầu
tổng hợp của các nhu cầu khác. Theo Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa
(2006), nhu cầu du lịch được hình thành và phát triển trên nền tảng của nhu cầu
sinh lý (sự đi lại), và các nhu cầu tinh thần (nhu cầu nghỉ ngơi, tự khẳng định,
nhận thức, giao tiếp, v.v…).
Để có thể nắm bắt được nhu cầu du lịch của du khách thì cần thiết phải phân
tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu du lịch. Theo Hà Nam Khánh Giao (2011)
thì các yếu tố quyết định chính đến nhu cầu du lịch và lữ hành được chia thành
các nhóm lớn như sau:
Các yếu tố kinh tế và giá so sánh
Chính phủ/ quy định
Nhân chủng, bao gồm cả giáo dục
Địa lý
Thái độ văn hóa xã hội đối với du lịch
Tính đi động và di chuyển cá nhân
Công nghệ thông tin và truyền thông
2.1.3.1 Yếu tố kinh tế và giá so sánh
trạng hôn nhân và trình độ học vấn.
Về mặt tuổi tác, ở những độ tuổi khác nhau con người sẽ có những nhu cầu, sở
thích khác nhau đối với các loại sản phẩm dịch vụ. Ví dụ như những người trẻ
tuổi khi đi du lịch thường thích những nơi náo nhiệt, ồn ào hoặc thích khám phá
những nơi mới mẽ, mạo hiểm; còn những người lớn tuổi thường thích những
nơi thanh tịnh, yên bình để có thể nghỉ ngơi, thư giản. Bên cạnh đó, trong những
năm gần đây, với sự phát triển nhanh chóng của xã hội thì những người giàu có,
khá năng động, trên 50 tuổi ngày càng thích đi du lịch, điều này tạo nên một xu
hướng mới đối với thị trường du lịch trong thế kỷ XXI (Hà Nam Khánh Giao,
2011).
Về thành phần hộ gia đình, các thành viên trong gia đình có tác động rất lớn đến
quyết định mua sản phẩm của mỗi cá nhân. Bên cạnh đó, quy mô của một gia
đình sẽ ảnh hưởng đến quy mô, tần suất mua sắm; Hà Nam Khánh Giao (2011)
cho rằng: “ Hộ gia đình nhỏ hơn và nhiều lý do để đi du lịch thăm viếng gia
đình và bạn bè. Thu nhập của gia đình sẽ ảnh hưởng đến sức mua, cơ cấu sản
phẩm; vai trò của các thành viên trong gia đình có ảnh hưởng khác nhau đến
hành vi tiêu dùng tùy theo từng loại sản phẩm khác nhau.
Về trình độ học vấn (giáo dục), đây cũng là một trong những thành phần có ảnh
hưởng không nhỏ đến nhu cầu du lịch. Theo Hà Nam Khánh Giao (2011) thì:
“Nếu xét cho mục đích kinh doanh và giải trí, khi trình độ giáo dục cao hơn,
7
việc đi du lịch càng nhiều hơn”, bên cạnh đó Nguyễn Văn Đính và Trần Thị
Minh Hòa (2011) cũng cho rằng: “Mức độ giáo dục cao hơn, trình độ hiểu biết
của người dân được nâng cao, vì vậy càng muốn đi du lịch để mở mang hiểu
biết của mình”.
2.1.3.4 Địa lý
Địa lý bao gồm các yếu tố như: khí hậu, cảnh quan (đất đai, sông ngòi, tài
nguyên thiên nhiên), dân cư. Trong đó, khí hậu vừa ảnh hưởng đến việc thực
và di chuyển cá nhân được thể hiện thông qua hình thức di chuyển đến các địa
điểm du lịch như: xe máy, xe bus, xe hơi, xe khách, tàu, máy bay…. Theo Hà
Nam Khánh Giao (2011) thì di động cá nhân đã trở thành yếu tố quyết định
chính về số lượng và loại hình du lịch trong nhiều thập kỷ qua, đặc biệt là loại
hình du lịch nội địa.
8
2.1.3.7 Công nghệ thông tin và truyền thông
Trong nhiều năm qua sự phát triển không ngừng của truyền thông và công nghệ
thông tin đã góp phần tác động rất lớn đến nhu cầu của khách hàng. Sự ra đời
của truyền hình cáp, truyền hình vệ tinh với hàng loạt kênh truyền hình đa dạng,
phong phú cùng sự phát triển vượt bậc của Internet đã làm cho con người ngày
càng dễ dàng hơn trong việc tiếp cận các luồng thông tin, quảng cáo. Qua đó,
các thông tin, hình ảnh về những địa điểm du lịch cũng dễ dàng được truyền tải
đến với khách hàng, từ đó có thể kích thích nhu cầu du lịch của họ. Theo Hà
Nam Khánh Giao (2011) thì: “Sự tích lũy tác động của hàng ngàn giờ xem
truyền hình, ngay cả tác động trước việc truy cập vào các kênh đặc biệt và
Internet đã có một ảnh hưởng lến đến nhu cầu du lịch”.
2.1.4 Các khái niệm liên quan đến du lịch
2.1.4.1 Khái niệm về du lịch
Có rất nhiều khái niệm về du lịch tùy thuộc vào mỗi cách hiểu và cách tiếp cận
dưới nhiều góc độ khác nhau (Ngô Thị Diệu An & Nguyễn Thị Oanh Kiều,
2014).
Dưới góc độ của một du khách thì du lịch là một hoạt động di chuyển đến một
nơi khác nơi mình sinh sống trong một thời gian nhất định để thư giản, giải trí
nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, nghỉ dưỡng (Chính phủ Việt Nam
[CPVN], 2005).
Xét dưới góc độ của người dân và chính quyền sở tại, du lịch là một một hoạt
không chỉ thưởng ngoạn, tham quan, khám phá hay chiêm bái thần linh mà còn
tạo được một sợi dây gắn kết giữa các cá nhân, các nhóm với nhau. Bên cạnh
những cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng nổi tiếng thì lễ hội cổ truyền là địa điểm và
môi trường đáp ứng tốt nhất cho việc khai mở, phát triển các tuyến, tour du lịch
tâm linh.
Du lịch tâm linh vừa có thể đáp ứng nhu cầu thư giãn, thưởng ngoạn, vừa giúp
du khách có thể tìm hiểu phong tục, tập quán, tín ngưỡng của các vùng miền
văn hóa khác nhau. Các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể trải dài trên khắp
đất nước, vừa mang tính thiêng liêng, vừa mang tính thẩm mỹ chính là đối tượng
tìm hiểu của du khách bốn phương. Du khách kết hợp giữa du lịch và hành
hương để đến với những địa điểm vừa có ý nghĩa tôn giáo và tín ngưỡng, vừa
có cảnh đẹp. Qua đó, họ không chỉ tìm hiểu được những thông tin về cội nguồn
lịch sử, cội nguồn văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng bản địa, mà còn được gắn bó,
giao tiếp, ứng xử cùng nhau trong môi trường đậm đặc chất thiêng. Như vậy, du
khách được đáp ứng cả nhu cầu du lịch và tâm linh (Nguyễn Hải Hà, 2016)
2.1.4.3 Khách du lịch
Khách du lịch là một khái niệm khá phức tạp, tại mỗi quốc gia khác nhau sẽ xây
dựng khái niệm này theo những chuẩn mực khác nhau. Khách du lịch được phân
thành 2 nhóm: khách quốc tế và khách nội địa (Ngô Thị Diệu An & Nguyễn Thị
Oanh Kiều, 2014).
Như đã trình bày thì có rất nhiều khái niệm khác nhau về khách du lịch nội địa.
Tại Mỹ, khách du lịch nội địa là những người di chuyển đến địa điểm cách nơi
mình sinh sống 80 km với những mục đích khác nhau ngoài việc đi làm. Tại
Canada, khách du lịch nội địa là những người đi đến một nơi xa khoảng 40 km
và có nghỉ lại đêm tại nơi mình đến (Ngô Thị Diệu An & Nguyễn Thị Oanh
Kiều, 2014).
Theo CPVN (2005) thì: “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du
lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi
đến”.
Đối với bài nghiên cứu này, do đối tượng khảo sát đều là người dân đang sinh
trong hệ thống du lịch (Ngô Thị Diệu An & Nguyễn Thị Oanh Kiều, 2014,
tr.100).
Theo Vũ Đức Minh (2008) thì điểm đến du lịch là nơi xuất hiện các yếu tố du
lịch quan trọng nhất, đồng thời cũng là nơi du khách tìm được hầu hết các tiện
nghi và dịch vụ hỗ trợ cho chuyến đi của mình. Hầu hết các điểm đến du lịch
bao gồm nhiều yếu tố cấu thành như sau: các điểm hấp dẫn du lịch, giao thông
đi lại, nơi ăn nghỉ, các tiện nghi và dịch vụ bổ trợ, các hoạt động bổ sung (trích
trong Giáo trình tổng quan du lịch, 2014, tr.).
2.1.6 Các yếu tố cấu thành điểm đến du lịch
2.1.6.1 Các điểm hấp dẫn du lịch (attractions)
Theo Ngô Thị Diệu An và Nguyễn Thị Oanh Kiều (2014) thì điểm hấp dẫn du
lịch là một thuật ngữ phức tạp và chưa được hiểu một cách đầy đủ, nhiều lý
thuyết của các học giả đã được đưa ra để giải thích cho thuật ngữ này. Chẳng
hạn, theo Ủy ban du lịch Xcot-len thì điểm đến tham quan được hình thành vĩnh
viễn nhằm mục đích lâu dài để công chúng tiếp cận tiêu khiển, giải trí hoặc giáo
dục mà không phải một điểm bán lẻ, một điểm biểu diễn thể thao, nhà hát hoặc
rạp chiếu phim. Nơi đây phải mở cửa cho công chúng theo từng thời kỳ đã công
bố mà không cần đăng ký trước, đồng thời phải có khả năng thu hút cả khách
du lịch lẫn cư dân địa phương (trích trong Giáo trình tổng quan du lịch, 2014,
tr.102 ). Theo Victor Middleton (k.n) một chuyên gia marketing người Anh thì:
“ Điểm hấp dẫn du khách là một tài nguyên vĩnh cửu được lựa chọn và bị kiểm
soát, quản lý để công chúng viếng thăm thưởng thức, tiêu khiển, giải trí và giáo
dục” (trích trong Giáo trình tổng quan du lịch, 2014, tr.102).
11
Tóm lại, điểm hấp dẫn du lịch phải bao gồm các đặc điểm:
Công chúng có thể tiếp cận bằng nhiều cách khác nhau để phụ vụ mục
đích của mình như: vui chơi, giải trí, tiềm hiểu, khám phá, giáo dục.
Những người đến tham quan có thể là người dân sinh sống tại địa phương
như vậy mới có thể tạo được ấn tượng và giữ chân được họ. Yếu tố này thường
được đo lường bằng sự hài lòng của du khách thông qua thái độ, sự chu đáo,
nhiệt tình đón tiếp của cả chủ lẫn nhân viên tại các cơ sở kinh doanh. Bên cạnh
đó, nhu cầu của du khách ngày càng phong phú, chính vì thế các cơ sở kinh
doanh đã đa dạng loại hình lưu trú với nhiều dạng khác nhau để du khách có thể
dễ dàng lựa chọn. Chẵng hạn như, thay vì nhà nghỉ hay khách sạn thì hiện nay
đã có thêm buồng ngủ lưu động, nhà nghỉ cuối tuần hay nhà dân. Tuy nhiên,
một điều đáng lưu ý là những cơ sở này phải đem lại sự an tâm và tin tưởng cho
du khách khi sử dụng dịch vụ.
12
2.1.6.4 Các tiện nghi và dịch vụ bổ trợ (amenities)
Những tiện nghi và dịch vụ bổ trợ là các hoạt động kèm theo hoạt động chính
khi đi du lịch. Chẳng hạn đối với loại hình du lịch tâm linh, hoạt động chính của
du khách là thắp hương lễ phật, nhưng tồn tại song song và bổ trợ cho hoạt động
này là các hoạt động như: bán nhan đèn, trái cây, hoa quả, bán chuỗi…hoặc
những tiện nghi kèm theo như: sinh săm, cầu an, giải hạn.
Theo Ngô Thị Diệu An & Nguyễn Thị Oanh Kiều (2014) thì: “Khi quy mô các
điểm đến du lịch được mở rộng, lượng khách ngày đông thì các tiện nghi và
dịch vụ cần thiết cho du khách cũng tăng theo”.
Các cơ sở cung cấp các tiện nghi và dịch vụ bổ trợ thường do các nhà kinh doanh
nhỏ quản lý nên vừa có lợi vừa hạn chế. Có lợi ở chỗ các khoảng chi tiêu của
khách nhanh chóng đi vào nên kinh tế của địa phương, còn điểm hạn chế là các
doanh nghiệp nhỏ bị phân tán và thiếu một hành lang liên kết lại với nhau.
2.1.6.5 Các hoạt động bổ sung (activities)
Các hoạt động bổ sung là những hoạt động xuất hiện bên cạnh những hoạt động
thỏa mãn mục đích chính của chuyến đi. Chẳng hạn, ngoài thời gian tham quan,
ngắm cảnh vào buổi sáng, du khách có thể tham gia vào các hoạt động vui chơi,
giải trí vào buổi tối. Ví dụ như khi đến Đà Lạt ngoài việc ngắm hoa, tham quan
Thiên Huế chỉ dừng lại ở khả năng tạo không gian yên tĩnh và an bình cho khách
chưa thật sự cung cấp một sản phâm du lịch tâm linh đúng nghĩa.
Lê Hoàng Mai (2015) nghiên cứu về Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu
cầu du lịch của du khách khi đến tham quan du lịch tại thành phố Châu Đốc,
tỉnh An Giang. Đề tài này được thực hiện với cỡ mẫu n=150 đáp viên, sử dụng
biến phụ thuộc là tổng số ngày du lịch để đo lường nhu cầu của du khách, từ đó
áp dụng phân tích hồi quy (OLS) phân tích nhu cầu và sử dụng thang đo Liker
để khảo sát mức độ hài lòng của du khách đối với các hoạt động du lịch. Tác
giả tập trung khảo sát ở hai địa điểm chính là Miếu Bà Chúa Xứ và chợ Châu
Đốc. Kết quả nghiên cứu cho thấy: chi phí, thu nhập và các yêu tố khác (giới
tính, tuổi, nghề nghiệp, số năm đi học) đều có mức độ tác động khác nhau đến
cầu du lịch tại Châu Đốc. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng: du khách
đến Châu Đốc với các mục đích khác nhau, trong đó hành hương chiếm 63,33%,
du lịch chiếm 14%, công tác 1,33%, lý do khác là 21,33%.
Cả hai bài viết trên đều nghiên cứu về nhu cầu du lịch tại các địa điểm du
lịch tâm linh, tuy được thực hiện bằng các phương pháp khác nhau nhưng cả
hai nghiên cứu đều cho rằng yếu tố chi phí có tác động đến nhu cầu du lịch.
Mặt khác các nghiên cứu trên cũng cho thấy du lịch tâm linh đang khá phát
triển và nhu cầu của du khách khi đến các địa điểm du lịch tâm linh cũng rất
khác nhau.
Nghiên cứu của Lưu Thanh Đức Hải và Nguyễn Hồng Giang (2011) về Phân
tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách khi đến du lịch ở Kiên
Giang và nghiên cứu của Vũ Văn Đông (2012) Khảo sát các nhân tố ảnh hưởng
đến sự hài lòng của du khách khi đến du lịch ở Bà Rịa – Vũng Tàu. Cả hai bài
nghiên cứu đều sử dụng cùng một thang đo và khảo sát với cỡ mẫu là 295 du
khách. Hai tác giả đều sử dụng mô hình chất lượng dịch vụ gồm 5 nhóm yếu tố
tác động: Phong cảnh du lịch, hạ tầng kỹ thuật, phương tiện vận chuyển, hướng
dẫn viên du lịch và cơ sở lưu trú. Dữ liệu được phân tích bằng phương pháp
kiểm định thang đo bằng hệ số Cronbach Alpha, mô hình phân tích nhân tố
khám phá EFE. Kết quả đều đưa ra 5 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng
Tính di động
và di chuyển cá nhân
Nhu cầu
Nơi ăn nghỉ
Chính phủ/quy định
Nhân chủng
và giáo dục
Các điểm hấp dẫn
du lịch
Yếu tố kinh tế
và giá cạnh tranh
Hình 2: Mô hình nghiên cứu
Mục tiêu của bài nghiên cứu là phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu du
lịch tâm linh của du khách. Từ những lý thuyết đã nghiên cứu có thể rút ra được
các nhóm yếu tố tác động đến nhu cầu như đã thể hiện trong mô hình. Một số
yếu tố đã được đề cập trong phần cơ sở lý thuyết đã được điều chỉnh lại hoặc
không được đưa vào mô hình do trong quá trình thảo luận tay đôi, hầu hết đáp
viên được phỏng vấn đều không quan tâm đến những yếu tố này. Cụ thể, đối
với yếu tố “công nghệ thông tin và truyền thông”, hầu hết các đáp viên đều cho
rằng nhu cầu của mình không bị yếu tố này ảnh hưởng như đã trình bày trong
phần cơ sở lý thuyết, nhưng lại bị chi phối bởi các tác nhân như: bạn bè, người
thân, đồng nghiệp, nhân viên tư vấn du lịch…Do đó, biến “công nghệ thông tin
và truyền thông” sẽ được điều chỉnh thành biến “thông tin tham khảo” bao gồm
các tác nhân vừa kể trên để đưa vào mô hình. Nhận thấy các biến“điểm hấp dẫn
du lịch” và “thái độ văn hóa xã hội” bao gồm nhiều yếu tố của biến “địa lý”,