LUAN VAN HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ BẢO HIỂM VÀ PHÚC LỢI NÔNG DÂN TẠI HÀ NỘI - Pdf 37

MỤC LỤC
Chương 3: Tác động đối với đời sống của người dân địa phương và tính bền vững của Quỹ Bảo
hiểm và Phúc lợi nông dân xã Thanh Văn..........................................................................................64


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BHXH:

Bảo hiểm xã hội

UBND:

Ủy ban nhân dân


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Danh mục các bảng
Bảng 1.1: Cơ cấu mẫu được lựa chọn
Bảng 2.1: Cơ cấu nghề nghiệp của thành viên tham gia quỹ được khảo sát
Bảng 2.2. Trình độ chuyên môn của thành viên điều hành, giám sát quỹ
Bảng 2.3. So sánh nguồn quỹ của các quỹ cộng đồng
Bảng 2.4. Chế độ đóng – hưởng tại một số quỹ lương hưu nông dân
Bảng 3.1: Các nhu cầu của người dân được đáp ứng khi tham gia quỹ
Bảng 3.2: Đánh giá tính ổn định về nguồn thu của quỹ
Bảng 3.3: Các khoản thu của quỹ
Bảng 3.4: Các khoản chi của quỹ
Bảng 3.5: So sánh mức đóng – hưởng của Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi nông dân xã
Thanh Văn và Bảo hiểm xã hội tự nguyện Việt Nam
Danh mục các hình
Hình 1.1: Các hệ thống có ảnh hưởng đến hoạt động của Quỹ

Trong hệ thống an sinh của mỗi quốc gia, bảo hiểm xã hội đóng vai trò quan
trọng, là hệ thống xương sống của toàn thể hệ thống an sinh. Nghị quyết số 21-NQ/TW
ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công
tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giai đoạn 2012 – 2020 ghi rõ: “Bảo hiểm xã hội và
bảo hiểm y tế là hai chính sách xã hội quan trọng, là trụ cột chính của hệ thống an
sinh xã hội, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị
- xã hội và phát triển kinh tế - xã hội” [3, tr.2]
Là một nước nông nghiệp, với nông dân chiểm trên 70% dân số và 50% lực
lượng lao động, muốn đạt được an sinh cho toàn dân thì cần chú trọng đặc biệt đến an
sinh xã hội cho nông dân. Tuy nhiên, ở Việt Nam, hệ thống chính sách an sinh xã hội
1


nói chung và bảo hiểm xã hội nói riêng chưa chú ý đúng mức đến người nông dân.
Luật Bảo hiểm xã hội Việt Nam được Quốc hội thông qua năm 2006, trong đó đã bước
đầu đề cập đến hệ thống Bảo hiểm xã hội tự nguyện dành cho nông dân (có hiệu lực
năm 2008). Đó là một dấu hiệu quan trọng, tạo ra hành lang pháp lý để phát triển hệ
thống bảo hiểm xã hội dành cho nông dân nói riêng và đảm bảo an sinh cho người
nông dân nói chung. Tuy nhiên, qua nhiều năm thực hiện, bảo hiểm xã hội tự nguyên
chưa thu hút được sự tham gia của người dân, nhất là nông dân. Theo báo cáo của Bảo
hiểm xã hội Việt Nam, đến tháng 10 năm 2012, mới có 135 nghìn người tham gia trong
số 30 triệu đối tượng của loại hình bảo hiểm này trong đó chủ yếu là những người thiếu
thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc các cán bộ cấp xã. Bảo hiểm xã hội tự
nguyện không thu hút được người dân là do mức đóng cao so với thu nhập của người
nông dân và các chế độ hưởng kém hấp dẫn…
Trong khi chính sách của nhà nước tỏ ra kém hiệu quả do thiếu tính sát thực thì
các cơ chế cộng đồng trong việc đảm bảo an sinh lại được phát huy. Căn cứ trên nhu
cầu của người dân về lương hưu để đảm bảo cuộc sống khi về già, nhiều địa phương đã
hình thành các loại hình quỹ lương, quỹ bảo hiểm, quỹ phúc lợi. Có thể kể đến các Quỹ
lương hưu tự nguyện ở tỉnh Nghệ An, Quỹ Phúc lợi tại nhiều xã ở tỉnh Bắc Giang, Bắc

An sinh xã hội, phúc lợi xã hội, bảo hiểm xã hội là những lĩnh vực quan trọng
trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở các quốc gia. Do đó, nghiên cứu về an sinh xã hội,
phúc lợi xã hội và bảo hiểm xã hội là rất nhiều:
Neil Gilbert và Paul Terrell (2009): Dimensions in Social Welfare Policy/Khuôn
khổ của chính sách phúc lợi xã hội (tái bản lần 7) đã phân tích và đưa ra một công cụ
khá hoàn thiện, có chiều sâu và bao hàm nhiều lĩnh vực khi nghiên cứu về chính sách
phúc lợi xã hội. Nghiên cứu đưa ra những minh họa thực tế để chứng minh cho các
luận điểm lý thuyết về bảo đảm thu nhập, phúc lợi trẻ em, những thành phố kiểu mẫu,
chăm sóc hàng ngày, hành động của cộng đồng và sức khỏe tâm thần. Ngoài ra, tác giả
còn nêu ra tổng quan về xu hướng của chính sách phúc lợi xã hội của các bang có hệ
thống phúc lợi tiến bộ, bao gồm: tính phù hợp, tài chính, phân phối và phân phối lợi
ích…
3


Neil Gilbert (1989) trong “Phúc lợi tư bản hiện đại ở Mỹ/The enabling state:
Modern welfare capitalism in America”: Sau hơn hai thập niên áp dụng chế độ tài
chính và phúc lợi cải tiến ở Hoa Kỳ và một nước công nghiệp dân chủ khác, chế độ
phúc lợi mới đã vượt xa những hình mẫu truyền thống. Lựa chọn mô hình nào là vấn
đề đặt ra. Nghiên cứu trên sẽ trình bày chi tiết một tầm nhìn mới về sự chuyển dịch của
phúc lợi xã hội – từ cách thức phân phối đến đối tượng hưởng lợi. Nghiên cứu tím hiểu
về lợi ích của các tổ chức tư nhân và hướng tiếp cận theo hướng thị trường trong phân
phối nguồn quỹ dự phòng xã hội; kiểm tra cách thức chuyển dịch từ thuế tiêu dung, hỗ
trợ tín dụng, các chi phí phát sinh khác sang nguồn quỹ phúc lợi xã hội.
Còn Howard Jacob Karger trong “Chính sách phúc lợi xã hội Mỹ/American
social welfare policy” (tái bản lần 6, 2009) lại nghiên cứu về chính sách phúc lợi xã hội
Mỹ với cái nhìn đa chiều, gắn phúc lợi xã hội với nhiều vấn đề của xã hội Mỹ như
công nghệ, tôn giáo, bất bình đẳng, chính sách thuế và cả những biến đổi xã hội mang
tính cập nhật nhất: Bầu cử tổng thống 2008, khủng hoảng kinh tế, sự đóng băng của thị
trường bất động sản…

cha mẹ của họ. Bằng cách này, tác giả hợp nhất hình thức bảo hiểm nhà nước, tập thể,
gia đình, cá nhân…thành một phương thức bảo hiểm phức tạp. Phương thức này bao
gồm hệ thống bảo hiểm xã hội của nhà nước và các hệ thống hỗ trợ của gia đình và
cộng đồng. Hệ thống bảo hiểm xã hội này bao gồm hưu trí cơ bản, hưu trí xã hội và các
kế hoạch hưu trí mang tính chất gia đình dành cho nông dân. Nghiên cứu cũng chỉ ra
cách thức quản lý Quỹ Bảo hiểm xã hội nông thôn và làm rõ những thành phần cơ bản
trong hệ thống bảo hiểm xã hội khá phức tạp dành cho nông dân Trung Quốc này.
Zhang Jianwei (2008) trong “Nghiên cứu về an sinh lương hưu/Study on farmer’s
pension security” lại quan tâm đến hệ thống lương hưu cho người cao tuổi ở nông thôn
Trung Quốc. Theo đó, cuộc sống của những người cao tuổi ở nông thôn Trung Quốc
chủ yếu dựa vào hỗ trợ của gia đình, nhưng đang phải đối mặt với nhiều thách thức
lớn. Nông dân Trung Quốc lại được chia thành nhiều nhóm khác nhau và nghiên cứu
5


chỉ đi sâu vào việc thiết kế hệ thống lương hưu cho những nông dân đích thực. Bởi vì,
tuy là nông dân nhưng những người làm việc tại các thị trấn, đô thị, trong các doanh
nghiệp lại được hưởng các chế độ của hệ thống an sinh xã hội đô thị. Nghiên cứu
hướng đến thiết lập một hệ thống bao gồm các thiết chế chính thức và không chính
thức có khả năng khích lệ cá nhân, gia đình, chính phủ và các nguồn lực xã hội trong
việc giảm trừ bất ổn kinh tế mà những người nông dân gặp phải khi bước vào giai đoạn
cao tuổi. Trong khi đó, những hỗ trợ của gia đình cho người cao tuổi vẫn được coi là
mô hình mang tính lâu dài và cần được củng cố ở khía cạnh kinh tế và đạo đức.
Như vậy, có thể thấy rằng, các nghiên cứu về an sinh xã hội, phúc lợi xã hội và
bảo hiểm xã hội trên thế giới là rất nhiều. Tuy nhiên, các nghiên cứu đó chỉ tập trung
vào thể chế chính sách, khuôn khổ và mối liên hệ của an sinh xã hội, phúc lợi xã hội
cũng như bảo hiểm xã hội với các yếu tố kinh tế - xã hội xung quanh nó. Các giải pháp
mang tính cộng đồng như các loại hình quỹ ở Việt Nam chưa được nghiên cứu.
2.2.


và làm rõ bối cảnh xã hội cũng như các chính sách phúc lợi xã hội cụ thể: ưu đãi xã
hội, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, cứu trợ xã hội, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó
khăn, người tàn tật, già hóa dân số, thiên tai…
Nhóm tác giả Viện Xã hội học do Bùi Thế Cường làm chủ nhiệm đề tài cũng có
một hướng tiếp cận khá độc đáo về phúc lợi xã hội. Đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về
phúc lợi xã hội (năm 2001)” tập trung đi sâu phân tích và so sánh giữa mô hình phúc
lợi thực dân, tổ chức phúc lợi với tư tưởng của Hồ Chí Minh về phúc lợi; lại tiếp tục
phân tích và so sánh sự biến chuyển trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phúc lợi xã hội ở
các thời kỳ cách mạng khác nhau: thời kỳ cách mạng tháng tám và kháng chiến chống
Pháp, thời kỳ xây dựng xã hội chủ nghĩa (1954-1969).
Đề tài Hệ thống phúc lợi thời kỳ đổi mới (2001-2003) của Viện Xã hội học, Viện
Khoa học Xã hội Việt Nam lại tập trung đi sâu phân tích hệ thống phúc lợi trong thời
kỳ đổi mới.
1

Năm 2010, Công tác xã hội mới được coi là một nghề khi Thủ tướng phê duyệt “Đề án phát triển nghề công tác
xã hội giai đoạn 2010-2020”.

7


Một nghiên cứu khá toàn diện về hệ thống an sinh xã hội Việt Nam năm 2007
được thực hiện bởi tác giả Bùi Quang Dũng. Qua phân tích tình hình xã hội cũng như
hệ thống các chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam năm 2007, tác giả đã phát hiện ra
nhiều vấn đề trong hệ thống an sinh xã hội: việc hạn chế tiếp cận hệ thống an sinh xã
hội của người nghèo, các chính sách an sinh xã hội chưa đồng bộ, độ bao phủ của
chính sách thấp…Từ đó, tác giả đưa ra các kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động
của hệ thống an sinh xã hội Việt Nam.
Nhắc tới lý luận chung về an sinh xã hội và phúc lợi xã hội cũng không thể không
kể đến hai giáo trình phổ biến hiện nay. Giáo trình “An sinh xã hội” (NXB Đại học

hội cơ bản chăm sóc người cao tuổi hiện đại phù hợp với bối cảnh xây dựng nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa qua từng giai đoạn.
Đề tài “Chiến lược an sinh xã hội thời kỳ 2011-2020” của Viện Khoa học Lao
động đã tổng kết kết quả thực hiện chính sách an sinh xã hội thời kỳ 2001-2010 và đề
ra chiến lược an sinh mang tầm quốc gia giai đoạn 2011-2020. Thông qua phân tích
định hướng của Đảng và Nhà nước về chính sách an sinh xã hội cũng như các hệ thống
chính sách về thị trường lao động chủ động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, các
chương trình giảm nghèo…nghiên cứu đề ra những chỉ tiêu mang tính chiến lược cho
việc phát triển và hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội nói chung và mỗi lĩnh vực chính
sách cụ thể nói riêng.
Trên cơ sở tổng kết, đánh giá hệ thống an sinh xã hội ở vùng nông thôn cũng như
xu hướng phát triển kinh tế xã hội, đề tài: “Hệ thống An sinh xã hội với dân cư nông
thôn giai đoạn 2011-2020” trên cơ sở tổng kết, đánh giá hệ thống an sinh xã hội ở
vùng nông thôn cũng như xu hướng phát triển kinh tế xã hội để đưa ra các giải pháp
mang tính định hướng trong việc hoạch định chính sách an sinh xã hội tại nông thôn
trong thời kỳ mới.
Một đề tài nghiên cứu khá toàn diện về hệ thống an sinh và phúc lợi xã hội Việt
Nam cũng như đề ra các kiến nghị để định hướng hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội và
9


Phúc lợi xã hội giai đoạn 2015 – 2020 cũng đang được Khoa Xã hội học, trường Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội. Đề tài nằm trong chương trình
khoa học lý luận trọng điểm do đó mang tính khái quát và cập nhật cao. Thông qua
nghiên cứu đời sống, nghiên cứu hiệu quả của các chính sách về lao động – việc làm,
bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, ưu đãi và trợ giúp xã hội, đề tài sẽ cung cấp bức tranh
toàn cảnh về thực trạng các chính sách an sinh xã hội nói chung và các chính sách cụ
thể trong từng lĩnh vực nói riêng. Đồng thời, thông qua phân tích mô hình của các nước
trên thế giới, thông qua những thông tin thực tế tại Việt Nam, đề tài hướng đến việc
định hướng để hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi xã hội trong tương lai có

Các nghiên cứu về việc tiếp cận hệ thống an sinh của các đối tượng cụ thể trong
xã hội cũng là một mảng quan trọng trong các nghiên cứu về an sinh xã hội và phúc lợi
xã hội:
Viện Khoa học Lao động (2010) với đề tài: “Nghiên cứu khả năng tiếp cận hệ
thống an sinh xã hội của khu vực không chính thức”. Đề tài tập trung đi sâu nghiên cứu
đến khả năng tiếp cận chính sách việc làm, chính sách dạy nghề và chính sách bảo
hiểm xã hội của khu vực phi chính thức, từ đó đưa ra các giải pháp trên cơ sở học tập
những kinh nghiệm quốc tế.
Cũng là khả năng tiếp cận của khu vực không chính thức, Hoàng Bá Thịnh (2011)
trong nghiên cứu “Lao động nữ di cư làm việc ở khu vực phi chính thức và mức độ tiếp
cận an sinh xã hội” lại đi sâu vào nghiên cứu lao động phụ nữ di cư, nghiên cứu chỉ ra
những khó khăn, rào cản của lao động nữ di cư trong khu vực phi chính thức trong việc
tiếp cận an sinh xã hội của nhóm này tại các khía cạnh cụ thể: chính sách bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế; dịch vụ giáo dục và y tế,…
Nghiên cứu “Cơ chế bảo trợ xã hội đối với sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ ở
Việt Nam” do Oxfam và Viện nghiên cứu và quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) phối
hợp (2011). Thông qua khảo sát 580 hộ nông dân ở Hà Tĩnh và Vĩnh Long, nghiên cứu
chỉ ra rằng: nguy cơ tổn thương của người nông dân, gồm những tác động từ bên ngoài
11


như biến động kinh tế vĩ mô, thiên tai, lũ lụt và những nguyên nhân khác như tiếp cận
vốn, vấn đề sức khỏe của người nông dân…Trong khi đó, bảo hiểm xã hội lại chưa hề
phát huy được vai trò trong việc bảo vệ người dân trước những rủi ro. Bảo hiểm xã hội
có tỷ lệ tham gia thấp (20%), Bảo hiểm y tế có 57,4% dân số tham gia…Nghiên cứu
khuyến nghị về việc tăng cường sự tham gia các loại hình bảo hiểm của người dân, qua
đó tăng năng lực ứng phó với các rủi ro.
Là xương sống và lưới đầu tiên trong hệ thống an sinh xã hội Việt Nam, bảo hiểm
xã hội cũng là một nội dung quan trọng được nhiều cơ quan, tổ chức đặc biệt là trong
lĩnh vực hoạch định chính sách.

nhiều bài viết được đăng trên các tạp chí, các báo. Tuy nhiên, các bài báo mới chỉ
mang tính báo chí, giới thiệu mô hình mà chưa có tìm hiểu sâu sắc, mang tính khoa học
về Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội.
Như vậy, có thể thấy có rất nhiều các nghiên cứu trong và ngoài nước về an sinh
xã hội, phúc lợi xã hội cũng như các cơ chế cộng đồng trong hệ thống an sinh. Ngay cả
nghiên cứu về loại hình quỹ lương hưu tự nguyện cũng đã có. Tuy nhiên, nghiên cứu
này lại có hướng tiếp cận khác biệt. Nghiên cứu sẽ vận dụng các kiến thức của an sinh
xã hội và công tác xã hội; tiếp cận từ nhu cầu của người dân. Nghiên cứu không chỉ tập
trung vào tính bền vững về tài chính của quỹ như các nghiên cứu trên mà còn đánh giá
tính bền vững đó qua cơ sở pháp lý, qua tác động xã hội của quỹ, qua nhu cầu của
người dân, qua độ phù hợp với tình hình thực tế của địa phương để từ đó đưa ra những
lựa chọn và những giải pháp sát thực để đảm bảo tốt hơn việc thực hiện bảo xã hội cho
nông dân, hướng đến an sinh toàn dân.
3. Ý nghĩa của nghiên cứu
3.1.
Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu vận dụng lý thuyết và quan điểm khoa học về an sinh xã hội và công
tác xã hội vào nghiên cứu một loại hình quỹ bảo hiểm và phúc lợi xã hội dành cho
nông dân. Thông qua nghiên cứu, các lý thuyết, quan điểm về an sinh xã hội, bảo hiểm
xã hội và công tác xã hội sẽ được vận dụng trong điều kiện thực tế ở Việt Nam.
13


Nghiên cứu cũng sẽ khẳng định vai trò của các cơ chế cộng đồng trong việc đảm
bảo an sinh cho người nông dân. Nghiên cứu đi sâu vào phân tích hoạt động của Quỹ
dưới góc nhìn khoa học để cung cấp những tài liệu mang tính khoa học về một loại
hình quỹ cộng đồng vốn đã và đang tồn tại trong hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi xã
hội tại Việt Nam. Về cụ thể, nghiên cứu sẽ tìm hiểu so sánh về thể chế tổ chức, thể chế
tài chính và thể chế chính sách của loại hình quỹ này với các loại hình bảo hiểm chính
thống của Nhà nước hiện nay để tìm ra sự giống và khác nhau.

tính cộng đồng tương tự.
4. Câu hỏi nghiên cứu
Lịch sử ra đời và hoạt động của loại hình Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi dành cho
nông dân tại xã Thanh Văn, Thanh Oai, Hà Nội được thực hiện như thế nào?
Tác động của quỹ đối với đời sống của người dân được thể hiện như thế nào?
Tính bền vững của Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi dành cho nông dân xã Thanh
Văn, Thanh Oai, Hà Nội được thể hiện như thế nào?
Có nên duy trì hoạt động của các loại hình quỹ tự nguyện trong hệ thống bảo
hiểm xã hội dành cho nông dân hay không?
5. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu:
Hoạt động của Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi nông dân tại xã Thanh Văn, huyện
Thanh Oai, Hà Nội.
5.2. Khách thể nghiên cứu
Người dân xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội
6. Phạm vi nghiên cứu
Thời gian: Từ tháng 3/2013 đến tháng 6/2013
Không gian: Xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội.
Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu tập trung nghiên cứu hoạt động của loại hình
quỹ bảo hiểm và phúc lợi dành cho nông dân xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội.
Qua đó so sánh các thể chế của quỹ với các loại hình quỹ cộng đồng khác cũng như
bảo hiểm xã hội của nhà nước. Nghiên cứu cũng tập trung đánh giá các tác động của
quỹ đối với đời sống của người dân địa phương. Ngoài ra, nghiên cứu đánh giá tính
bền vững trong hoạt động của quỹ trên các tiêu chí: tính pháp lý, độ phù hợp với nhu
cầu của người dân, tính bền vững về tài chính…Từ đó đưa ra các đề xuất có tính thực
tiễn về việc duy trì loại hình quỹ cộng đồng trong hệ thống các cơ chế đảm bảo an sinh
xã hội cho người dân ở khu vực phi chính thức; đưa ra các giải pháp hoàn thiện, nâng
cao hiệu quả hoạt động của loại hình quỹ cộng đồng tại Thanh Văn nói riêng và hướng
15


phương pháp nghiên cứu. Phương pháp luận cho biết cách thức tiếp cận một vấn đề xã
hội cụ thể. Phương pháp luận định hướng cho nghiên cứu, quyết định hướng tiếp cận
vấn đề của nghiên cứu. Vì thế nó có vai trò quan trọng, quyết định sự thành công của

16


một nghiên cứu khoa học. Luận văn này dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là
phương pháp luận để lý giải các hiện tượng, các vấn đề xã hội. Quan điểm của chủ
nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, tất cả các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách
quan không tồn tại riêng rẽ, tách rời mà có mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau. Điều
đó đòi hỏi, khi nghiên cứu về loại hình quỹ bảo hiểm phúc lợi dành cho nông dân
không được xem xét nó một cách riêng lẻ, tách biệt với những mối liên hệ của nó trong
xã hội. Khi phân tích hoạt động của Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi xã Thanh Văn, Thanh
Oai, cần đặt các hoạt động của nó trong mối liên hệ với tình hình kinh tế - xã hội địa
phương, đời sống người dân, các luật pháp, chính sách quy định về an sinh xã hội nói
chung và hoạt động của các loại hình quỹ cộng đồng nói riêng. Sự tồn tại và phát triển
của Quỹ sẽ kết quả của sự tác động tổng hợp của nhiều nhân tố.
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử xem xét các sự vật, hiện tượng trong
xã hội với cái nhìn mang tính lịch sử của nó. Việc nghiên cứu về tổ chức và hoạt động
của loại hình quỹ bảo hiểm và phúc lợi cũng phải đặt trong các bối cảnh kinh tế, văn
hóa, xã hội mà nó tồn tại; đồng thời cần nghiên cứu kỹ lưỡng sự biến chuyển trong các
hoạt động của quỹ theo thời gian.
9.2.
Phương pháp thu thập thông tin
9.2.1. Trưng cầu ý kiến
Nghiên cứu tiến hành trưng cầu ý kiến của người dân tham gia quỹ.
Dung lượng mẫu: 155

74
155

47,7
100

Dưới 60
Tổng

18

75
155

47,9
100


9.2.2. Phỏng vấn sâu
Mục đích phỏng vấn sâu là để thu thập các thông tin chính xác, cụ thể, có tính
chiều sâu. Để có những thông tin cụ thể, chính xác làm căn cứ phân tích hoạt động của
Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi tại xã Thanh Văn, Thanh Oai, Hà Nội.
Số lượng phỏng vấn sâu 25. Trong đó:
15 nông dân tham gia quỹ
05 người dân không tham gia quỹ
02 cán bộ quản lý quỹ
02 đại diện chính quyền
01 chuyên gia về bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội ;
9.2.3. Phân tích tài liệu:
Nghiên cứu cũng thu thập và phân tích các tài liệu về lịch sử hình thành và phát

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về an sinh xã hội. Cho đến nay, do sự phức
tạp và đa dạng của an sinh xã hội nên tồn tại nhiều nhận thức khác nhau về lĩnh vực
này. An sinh xã hội cũng có những khác biệt giữa các quốc gia.
Có nguồn gốc từ tiếng Anh, Social security nhưng khi dịch sang tiếng Việt,
ngoài an sinh xã hội, nó còn được dịch là bảo đảm xã hội, bảo trợ xã hội, an toàn xã
hội…với những ý nghĩa không hoàn toàn giống nhau. Theo nghĩa chung nhất, Social
20


securiry là sự đảm bảo thực hiện các quyền con người được sống hòa bình, tự do làm
ăn, cư trú, di chuyển, tự do ngôn luận trong khuôn khổ của pháp luật; được bảo vệ,
bình đẳng trước pháp luật; được học tập, có việc làm, nhà ở; được đảm bảo thu nhập để
thỏa mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi bị rủi ro, tai nạn, tuổi già…Điều này
cũng được thể hiện qua một số định nghĩa:
Theo định nghĩa của Ngân hàng Thế giới: “An sinh xã hội là những biện pháp
công cộng nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềm
chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những
bấp bênh về thu nhập”.
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO - 1984): “An sinh xã hội là sự bảo vệ mà xã
hội cung cấp cho thành viên của mình thông qua một số biện pháp được áp dụng rộng
rãi để đương đầu với những khó khăn, những cú sốc về kinh tế và xã hội làm mất hoặc
suy giảm nghiêm trọng hoặc tử vong. An sinh xã hội cung cấp chăm sóc y tế và trợ
giúp cho các gia đình có nạn nhân là trẻ em” [10, tr.11]. Định nghĩa này nhấn mạnh
khía cạnh bảo hiểm xã hội và mở rộng tạo việc làm cho những đối tượng ở khu vực
kinh tế không chính thức.
Theo tác giả Hoàng Chí Bảo trong đề tài KX02.02/06-10: “An sinh xã hội là
sự an toàn của cuộc sống con người, từ cá nhân đến cộng đồng, tạo tiền đề và động
lực cho sự phát triển con người và xã hội. An sinh xã hội là những bảo đảm xã hội
cho con người tồn tại như một con người và phát triển các sức mạnh bản chất người,
tức là nhân tính trong hoạt động, trong đời sống hiện thực của nó như một chủ thể

Trong nghiên cứu này, phúc lợi xã hội được coi là bộ phận thu nhập được phân
phối lại để thỏa mãn các nhu cầu vật chất, tinh thần cho người dân. Người dân có thể
nhận được các loại hỗ trợ về y tế, nghỉ dưỡng, học tập…mà không phải trả tiền.
1.1.4. Bảo hiểm xã hội
Theo Luật Bảo hiểm xã hội số 71/2006/QH (2006): “Bảo hiểm xã hội là sự bảo
đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc
mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết
tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội” [18, tr.2]..
22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status