ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA: Công tác xã hội
Đề tài: Đặc điểm khuyết tật của người
khiếm thị tại mái ấm Thiên Ân- quận
Tân Phú.
Giảng viên PGS.TS Đỗ Hạnh Nga
Sinh viên: Nguyễn Văn Pil
MSSV: 1356150068
Hồ Chí Minh 10/06/2016
1
I.
Lí do chọn đề tài.
Chúng ta đang sống trong một xã hội hòa bình không còn chiến tranh khóc liệt,
cuộc sống càng ngày hiện đại. Dẫu hậu quả chiến tranh để lại đã qua đi nhưng
con người ngày càng bận rộn với cuộc sống kiếm tiền, kho học công nghệ thì
không ngừng phát triển dẫn đên nguồn thực phẫm đến thuốc uống trở ngày càng
nhiều hóa chất. Môi trường càng trở nên xấu và những bà mẹ đã vô tình tạo ra
những sinh linh bé nhỏ mang tật nguyền. Cuộc sống càng hiện đại càng phát
triển thì người khuyết tật càng nhiều và vấn đề công bằng, bình đẳng, an sinh xã
hội cần được quan tâm bởi chúng ta đều là con người. Trong các dạng tật thì
khiếm thị có thể nói tật tương đối nhẹ bởi vì họ không bị ảnh hưởng đến thần
kinh. Họ có thể sinh hoạt tốt nếu chúng ta can thiệp đúng cách.
Thống kê trên thế giới vào năm 2002 cho thấy ước tính hiện nay có khoảng 161
sống của người khiếm thị còn rất khó khăn. Chỉ có khoảng 8% người khiếm thị
được đến trường, khoảng 15% được tham gia các chương trình dạy nghề và
khoảng 20% có việc làm. Do tay nghề còn thấp và lại thiếu các trang thiết bị hỗ
trợ cho người khiếm thị, nên người khiếm thị nước ta thường phải làm các công
việc nặng nhọc với mức thu nhập thấp và không ổn định, biến động trong
khoảng 600.000 đến 2000.000 đồng/tháng.
Sự bất công về giác quan đã khiến cho họ sống trong những ngày không màu
sắc mà họ còn làm việc thật sự chưa ưu đãi và công bằng, cho nên việc quan
tâm đến đời sống người khuyết tậ nói chung và người khiếm thị nói riêng hết ức
cần thiết khi mà chúng ta đang sống trong một xã hội hòa bình, bình đẳng, tự do
và công bằng.
Một số Luật người khuyết tật được Quốc hội thông qua 17/6/2010, có hiệu
lực từ 01/01/2011. Luật người khuyết tật có 10 chương, 53 điều
I. Quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật
1. Người khuyết tật được bảo đảm thực hiện các quyền sau đây:
a) Tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội;
3
b) Sống độc lập, hòa nhập cộng đồng;
c) Được miễn hoặc giảm một số khoản đóng góp cho các hoạt động xã hội;
d) Được chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề, việc
làm, trợ giúp pháp lý, tiếp cận công trình công cộng, phương tiện giao thông,
công nghệ thông tin, dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch và dịch vụ khác phù hợp
với dạng tật và mức độ khuyết tật;
đ) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
2. Người khuyết tật thực hiện các nghĩa vụ công dân theo quy định
II. Chính sách của Nhà nước về người khuyết tật
1. Hàng năm, Nhà nước bố trí ngân sách để thực hiện chính sách về người
khuyết tật.
không thể đáp ứng; được miễn, giảm học phí, chi phí đào tạo, các khoản đóng
góp khác; được xét cấp học bổng, hỗ trợ phương tiện, đồ dùng học tập.
c) Người khuyết tật được cung cấp phương tiện, tài liệu hỗ trợ học tập dành
riêng trong trường hợp cần thiết; người khuyết tật nghe, nói được học bằng
ngôn ngữ ký hiệu; người khuyết tật nhìn được học bằng chữ nổi Braille theo
chuẩn quốc gia.
5
2. Phương thức giáo dục người khuyết tật
a) Phương thức giáo dục người khuyết tật bao gồm giáo dục hòa nhập, giáo dục
bán hòa nhập và giáo dục chuyên biệt.
b) Giáo dục hòa nhập là phương thức giáo dục chủ yếu đối với người khuyết tật.
Giáo dục bán hòa nhập và giáo dục chuyên biệt được thực hiện trong trường
hợp chưa đủ điều kiện để người khuyết tật học tập theo phương thức giáo dục
hòa nhập.
c) Người khuyết tật, cha, mẹ hoặc người giám hộ người khuyết tật lựa chọn
phương thức giáo dục phù hợp với sự phát triển của cá nhân người khuyết tật.
Gia đình có trách nhiệm tạo điều kiện và cơ hội thuận lợi để người khuyết tật
được học tập và phát triển theo khả năng của cá nhân.
Nhà nước khuyến khích người khuyết tật tham gia học tập theo phương thức
giáo dục hòa nhập.
C. Chính sách dạy nghề và việc làm
1. Dạy nghề đối với người khuyết tật
a) Nhà nước bảo đảm để người khuyết tật được tư vấn học nghề miễn phí, lựa
chọn và học nghề theo khả năng, năng lực bình đẳng như những người khác.
b) Cơ sở dạy nghề có trách nhiệm cấp văn bằng, chứng chỉ, công nhận nghề đào
tạo khi người khuyết tật học hết chương trình đào tạo và đủ điều kiện theo quy
định của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề.
của Chính phủ.
4. Chính sách nhận người khuyết tật vào làm việc
a) Nhà nước khuyến khích cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp nhận người khuyết
tật vào làm việc. Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động là người khuyết tật
được hưởng chính sách ưu đãi theo quy định.
b) Chính phủ quy định chi tiết chính sách khuyến khích cơ quan, tổ chức và
doanh nghiệp nhận người khuyết tật vào làm việc quy định.
G. Chính saách bảo trợ xã hội
Trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng
1. Đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng bao gồm:
a) Người khuyết tật đặc biệt nặng, trừ trường hợp quy định
b) Người khuyết tật nặng.
2. Đối tượng được hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng bao gồm:
a) Gia đình có người khuyết tật đặc biệt nặng đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm
sóc người đó;
b) Người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng;
c) Người khuyết tật quy định tại khoản 1 Điều này đang mang thai hoặc nuôi
con dưới 36 tháng tuổi.
8
3. Người khuyết tật quy định tại khoản 1 Điều này là trẻ em, người cao tuổi
được hưởng mức trợ cấp cao hơn đối tượng khác cùng mức độ khuyết tật.
4. Mức trợ cấp xã hội hàng tháng, mức hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng đối
với từng loại đối tượng theo quy định tại Điều này do Chính phủ quy định.
Nuôi dưỡng người khuyết tật trong cơ sở bảo trợ xã hội
1. Người khuyết tật đặc biệt nặng không nơi nương tựa, không tự lo được cuộc
sống được tiếp nhận vào nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội.
lực trợ giúp người khuyết tật.
2. Quỹ trợ giúp người khuyết tật được hình thành từ các nguồn sau đây:
a) Đóng góp tự nguyện, tài trợ của tổ chức, cá nhân trong nước, nước ngoài;
b) Hỗ trợ từ ngân sách nhà nước;
c) Các khoản thu hợp pháp khác.
3. Quỹ trợ giúp người khuyết tật được thành lập và hoạt động theo quy định.
II.
Đặc điểm chung của trẻ khiếm thính.
1. Đặc điểm bên ngoài.
10
Mắt, mi mắt đỏ, có mủ hoặc thường xuyên chảy nước mắt.
Mắt trông mờ, đục hoặc nhăn nheo hoặc có tổn thương đau.
Một hoặc cả hai bên đồng tử có màu xám hoặc trắng.
Trẻ 3 tháng tuổi vẫn không nhìn theo đồ chơi hoặc sự vật khi đưa qua mặt trẻ.
Trẻ 3 tháng tuổi vẫn không đưa tay với đồ chơi ở trước mặt trẻ, trừ khi đồ
chơi này phát ra tiếng động hoặc chạm vào trẻ.
Mắt “lệch”, 2 mắt không di động cùng hướng với nhau.
Mắt lác. Trẻ chậm sử dụng tay, vận động và đi lại so với trẻ khác.
Trẻ thường va đụng vào đồ vật hoặc rất vụng về.
Trẻ không thích thú với tranh ảnh, sách, đồ chơi có màu sắc khi để những thứ này
sát mặt.
Nhìn khó khăn khi trời tối (quáng gà)
Ở trường trẻ không đọc được chữ ở trên bảng hoặc những chữ nhỏ tron sách.
Trẻ bị mệt mỏi, đau đầu khi đọc sách.
Trẻ có thể bị mù hoặc khuyết tật/giảm chức năng nhìn phối hợp với các dạng
khuyết tật khác như bại não, chậm phát triển trí tuệ...
Đối với người lớn có khuyết tật/giảm chức năng nhìn có thể phát hiện nếu người
- Đời sống tình cảm, nội tâm của trẻ khiếm thị, đặc biệt là trẻ mù rất phức tạp,
những người sáng mắt thường áp đặt thế giới của mình đối với thế giới riêng của
người khiếm thị.
- Môi trường giao tiếp bị hạn chế, trẻ khiếm thị ít có cơ hội tham gia và trải nghiệm
thông qua những hoạt động với mọi người xung quanh.
Những khó khăn trong giao tiếp trẻ mù thường gặp
12
- Mất hoặc giảm khả năng biểu đạt cử chỉ, điệu bộ, nét mặt;
- Định hướng không gian trong giao tiếp;
- Bị động trong giao tiếp;
- Tâm lý mặc cảm, ngại giao tiếp.
b)
Nhận thức.
Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn trong các hoạt động và trong đời sống xã hội.
Nhưng các đặc điểm tâm lý của trẻ nhìn kém vẫn gần giống vẫn những đặc
điểm tâm lý của trẻ sáng cùng độ tuổi, nên trong giới hạn phạm vi của giáo trình
này chủ yếu tập chung vào đối tượng trẻ mù và nhìn quá kém.
* Đặc điểm nhận thức cảm tính
Hoạt động nhận thức cảm tính là hình thức khởi đầu trong sự phát triển hoạt
động nhận thức của con người.
Cảm giác là quá trình tâm lý phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật và
hiện tượng khi trực tiếp tác động vào giác quan của ta.
Ví dụ: Đặt vào tay trẻ mù một vật lạ, trẻ rất khó trả lời đúng đó là vật gì.
Nhưng nếu
hỏi: Em cảm thấy vật đó thế nào? (cứng, mềm, nhẵn, nóng, lạnh, nặng, nhẹ...).
Nếu trẻ trả lời được tức là trẻ có cảm giác.
bình thường là 2,2 mm và ở người mù được rèn luyện tốt là 1,2 mm). Nhờ
14
vậy, tay của người mù sờ đọc chữ Braille không gặp khó khăn về nguyên
tắc. Đó cũng chính là cơ sở khoa học của hệ thống ký hiệu Braille.
Đặc điểm thính giác của trẻ khiếm thị:
Cùng với cảm giác xúc giác, cảm giác thính giác là một trong những cảm
giác quan trọng giúp trẻ mù giao tiếp, định hướng trong các hoạt động: học
tập, lao động và sinh hoạt cuộc sống.
Tai người hơn hẳn tai động vật ở chỗ hiểu được ngôn ngữ, cảm thụ được
phẩm chất của âm thanh như cường độ, trường độ và nhịp điệu.
Âm thanh phản ánh nhiều thông tin:
- Vật nào phát ra âm thanh
- Khoảng cách và vị trí không gian của vật phát ra âm thanh đối với người
nghe, các vật xung quanh.
- Vật phát ra âm thanh tĩnh tại hay chuyển động? chuyển động theo hướng
nào? (an toàn hay nguy hiểm; sôi động hay yên tĩnh...).
- Nhờ âm thanh giọng nói của đối tượng đang giao tiếp, trẻ mù có thể biết
được trạng thái tâm lý của họ.
Ngưỡng cảm giác thính giác của trẻ khiếm thị
Độ nhạy cảm âm thanh của mọi người đều phát triển theo quy luật như nhau,
tuy nhiên, khi bị mù buộc họ phải thường xuyên lắng nghe đủ mọi âm thanh,
15
Khi vật chất đó tan trong không khí (hiện tượng thăng hoa), tác động vào cơ
quan thụ cảm là mũi (mùi);
Khi vật chất đó được cơ quan thụ cảm là lưỡi tiếp nhận (vị);
Thông qua mùi, vị người mù dễ xác định được đối tượng: nhà ăn hay nhà vệ
sinh;
Người mù cảm nhận người quen có thể qua mùi mồ hôi...
Cảm giác thăng bằng
Là cảm giác phản ánh sự cảm nhận vị trí của cơ thể trong không gian;
Bộ máy nhạy cảm thăng bằng là bộ phận tiền đình nằm ở tai trong.
Thực nghiệm cho thấy: trong điều kiện như nhau, nếu người sáng mắt nhắm
lại thì người mù có độ nhạy cảm thăng bằng và định hướng không gian tốt
hơn.
Đặc điểm tri giác của trẻ khiếm thị:
Tri giác là một quá trình tâm lý phản ánh một cách trọn vẹn thuộc tính
của sự vật và hiện tượng khi chúng tác động trực tiếp vào các giác quan
của ta.
Không phải chỉ có một cơ quan mà có cả hệ cơ quan phân tích tham gia
vào quá trình tri giác. Tuỳ theo đối tượng và nhiệm vụ tri giác mà xác
định giác quan nào giữ vai trò chính. Nếu nghe giảng văn thì thính giác
giữ vai trò chủ yếu, nếu xem tranh vẽ thì mắt giữ vai trò chính.
17
Hình ảnh xuất hiện trên vỏ não do tri giác sờ đem lại tuy bị hạn chế hơn
so với tri giác nhìn nhưng cũng giúp cho trẻ mù nhận biết hình ảnh một
cách trung thực.
b.
Nguyên nhân bị tật.
Do bẩm sinh; di truyền gen; bố hoặc mẹ bị nhiễm chất độc hoá học; mẹ bị cúm lúc
mang thai hoặc bị tai nạn gây chấn thương thai nhi
- Trong khi sinh: nhiễm khuẩn, forcep, trẻ bị sinh ngược, sinh khó, ngạt trong khi
sinh,…
- Hậu quả của các bệnh: thiếu vitamin, đau mắt hoặc do bị tai nạn lao động, giao
thông,…
Từ những nhân trên dẫn đến:
Do bệnh giang mai (của mẹ) hay nhiễm trùng bệnh lậu.
- Đục thủy tinh thể bẩm sinh
- Glôcom bẩm sinh (Bệnh cườm nước )
- Bệnh gai thị, thoái hóa sắc tố võng mạc
- Viêm màng bồ đào phôi thai.
- Teo nhãn cầu, không có nhãn cầu bẩm sinh.
- Cận thị nặng gây mù hay khuyết mi.
3.
Vai trò của gia đình đối với người khuyết tật.
Đối với người khuyết tật, gia đình giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc chăm
sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ. Trong thông điệp nhân Ngày quốc tế Gia đình, Tổng Thư
ký LHQ Ban Ki Mun nêu rõ: Đối với rất nhiều người khuyết tật, gia đình họ đã và
đang là một nguồn sức mạnh. Tuy nhiên, đối với một số người, gia đình lại bảo vệ
họ quá mức, dẫn tới hạn chế sự phát triển của họ. Điều bi kịch là đối với một số
người khác, gia đình của họ lại coi họ như vết nhơ hay sự sỉ nhục và họ trở thành
- Gia đình người khuyết tật có trách nhiệm sau đây:
+ Bảo vệ, nuôi duỡng, chăm sóc người khuyết tật;
+ Tạo điều kiện để người khuyết tật được chăm sóc sức khỏe và thực hiện quyền,
nghĩa vụ của mình;
+ Tôn trọng ý kiến của người khuyết tật trong việc quyết định những vấn đề liên
quan đến cuộc sống của bản thân người khuyết tật và gia đình;
+ Có trách nhiệm giáo dục, tạo điều kiện để thành viên gia đình nâng cao nhận
thức về vấn đề khuyết tật; thực hiện các biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu khuyết
20
tật bẩm sinh, khuyết tật do tai nạn thương tích, bệnh tật và nguy cơ khác dẫn đến
khuyết tật.
Xã hội có trách nhiệm đối với những người khuyết tật và gia đình họ. Chúng ta hãy
làm hết sức để tạo điều kiện cho gia đình hoàn thành vai trò trong việc bảo đảm
rằng những người khuyết tật được hưởng đầy đủ các quyền con người và nhân
phẩm, được phát triển đầy đủ với tư cách là những cá nhân bình thường. Đó là
thông điệp mà xã hội ngày nay luôn hướng đến nhằm góp phần vào sự phát triển an
sinh xã hội.
4.
Giáo dục cho người khuyết tật.
Hiện nay, việc giáo dục các trẻ mù đã hình thành ở nhiều tỉnh thành và hoạt động
khá hiệu quả, tuy nhiên phụ huynh các em cũng nên biết những biện pháp chăm
sóc các em ngay từ nhỏ để khi bước vào trường học, các em sẽ dễ dàng tiếp thu
những kiến thức và có khả năng hòa nhập tốt hơn:
Tạo sự cảm nhận từ các giác quan:
Các giác quan : Nghe - tiếp xúc - nếm - ngửi cần phải được tạo nhiều cơ hội hoạt
cũng có thể là những đồ chơi, và đó là niềm vui cho trẻ. Có thể với những món đồ
chơi mới, trẻ sẽ sợ hãi hơn là vui thích, vì thế nên cho trẻ làm quen từ từ, vì đó là
một khám phá. Phải kiên trì và nếu trẻ vẫn tỏ ra e dè thì nên cất đi và chờ một dịp
khác .
Hãy cho trẻ những món đồ chơi to bằng nhựa cứng hay gỗ mà trẻ có thể ngồi lên
và đẩy đi như một tấm ván bọc nệm có gắn bánh xe ...
Một trong những nhu cầu của trẻ là được tiếp xúc với thiên nhiên , hãy tạo nhiều
cơ hội cho trẻ đi chơi và vận động ở ngoài sân, công viên hay vùng quê ... cho trẻ
đi chân trần để nó cảm nhận được những cảm giác tiếp xúc khác nhau , những hoạt
động này giúp trẻ làm quen với những trẻ khác và vui chơi trong một nhóm bạn bè.
Quan tâm đến Sự an toàn:
Một yếu tố mà chúng ta phải luôn luôn chú ý là giữ cho trẻ một sự an toàn, cảm
giác bố mẹ lúc nào cũng ở bên trẻ bằng những lời nói và âm thanh sẽ giúp cho trẻ
có được sự ổn định.
Trẻ rất cần sự hoạt động, hãy tạo mọi cơ hội cho trẻ vận động ngoài trời, ngồi xích
đu, bập bênh, chơi nghịch trên cát ... chính những hoạt động này giúp trẻ làm quen
với những trẻ khác và thật thích thú khi có thể vui chơi trong một nhóm bạn bè.
22
Tuy nhiên, cần lưu ý là các khu vui chơi cần phải có một hàng rào đơn giản và
chắc chắn để ta an tâm và trẻ sẽ cảm nhận được phạm vi khu vực chơi của chúng,
điều này cũng giúp cho trẻ ổn định hơn.
Trên đây chỉ là những lời khuyên có tính gợi ý, trong việc chăm sóc trẻ khiếm thị
chắc chắn sẽ còn có những khó khăn làm nẩy sinh ra những giải pháp khác, nhưng
nói chung mục tiêu của mọi hoạt động đều giống nhau là giúp cho trẻ ý thức được
những năng lực của bản thân và biết cách phát triển chúng và giúp chúng nhận ra
được một điều là lúc nào chúng cũng có chúng ta ở bên cạnh để không rơi vào
những rối nhiễu tâm lý do tâm lý lo sợ và u sầu.
Mỗi trẻ là một cá thể và trẻ khiếm thị cũng vậy.Tuy nhiên, mỗi trẻ khiếm thị đều
Phục hồi chức năng cho người khuyết tật.
Khám chuyên khoa mắt: Khi có 1 lý do nào đó gây ảnh hưởng đến
khả năng nhìn thì nên đưa người đó đi khám chuyên khoa mắt để xác
định nguyên nhân và xử trí kịp thời, đề phòng mù mắt. Khám chuyên
khoa mắt càng sớm càng tốt. Nếu phát hiện các nguyên nhân làm
giảm khả năng nhìn như mắt hột, viêm mống mắt, viêm kết mạc, có
thể điều trị nội khoa. Các nguyên nhân khác như đục thuỷ tinh thể,
thiên đầu thống, lác mắt, sụp mi, vật lạ gây tổn thương có thể điều trị
bằng phẫu thuật. Đối với những người có tật khúc xạ cũng được khám
và đo kính mắt. Hiện nay ngành y tế có nhiều chương trình phòng và
điều trị phẫu thuật mắt.
Phục hồi chức năng khi bị khuyết tật/giảm chức năng nhìn rất nặng
hoặc bị mù hoàn toàn: huấn luyện cho NKT cách định hướng và vận
động di chuyển.
Phát triển các kỹ năng nhận biết nhờ cảm giác ngửi hoặc sờ mó.
- Nếu người bị mù vẫn còn trẻ, hướng dẫn họ cầm nắm các phần
khác nhau của cơ thể và cố gắng cảm nhận ra các phần đó. Để cho
trẻ sờ mặt những người xung quanh và nhận biết từng người một.
- Phát triển cảm giác nghe bằng cách để cho người có khó khăn về
nhìn nghe các loại tiếng động khác nhau và nhận biết chúng như
tiếng chuông, tiếng nhạc... để cho họ đoán tiếng ồn đó từ phía nào
tới.
- Luôn luôn nói và chỉ dẫn cho trẻ các hoạt động hàng ngày như ăn
gậy:
Chọn chiều cao của gậy từ mặt đất đến vị trí giữa vai và hông. Dạy họ
dùng gậy để khám phá môi trường xung quanh. Khi cầm gậy, cánh tay
duỗi thẳng, để cho họ đưa đẩy sang phải trái, đi tới đi lui. Dạy họ sử
dụng gậy, để lên xuống cầu thang, đi ngang qua phố. Khi đi lại chú ý
lắng nghe âm thanh xung quanh.
Hướng dẫn người có khuyết tật/giảm chức năng nhìn các chức năng
sinh hoạt hàng ngày như: ăn, uống, tự chăm sóc bản thân, các công
việc nội trợ:
Hướng dẫn cho trẻ hoặc người lớn có khuyết tật/giảm chức năng nhìn,
ăn chung 1 mâm cùng với gia đình theo phương pháp “đồng hồ”, có
nghĩa là xem cái mâm như 1 chiếc đồng hồ, đặt thức ăn vào đúng vị trí
12h, 3h, 6h, 9h... ngày nào cũng như vậy.
– Hướng dẫn trẻ hoặc người có khuyết tật/giảm chức năng nhìn khi
uống nước đặt cốc chén hoặc chai thuỷ tinh lên 1 chỗ đã định.
– Hướng dẫn trẻ các chức năng sinh hoạt hàng ngày như mặc quần áo,
chải đầu, tắm rửa, chơi các trò chơi. Hãy khuyến khích trẻ chơi cùng
với các trẻ khác.
– Hướng dẫn trẻ lớn, người lớn có khuyết tật/giảm chức năng nhìn
làm các công việc nội trợ, tuy nhiên phải biết cách đề phòng các tổn
25