Phát triển kỹ năng tiếp nhận và xử lý thông tin học tập của sinh viên sư phạm trong đào tạo theo học chế tín chỉ - Pdf 37

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRỊNH VĂN TÙNG

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG TIẾP NHẬN VÀ XỬ LÝ
THÔNG TIN HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN SƯ PHẠM
TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRỊNH VĂN TÙNG

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG TIẾP NHẬN VÀ XỬ LÝ
THÔNG TIN HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN SƯ PHẠM
TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
Chuyên ngành: Lí luận và lịch sử giáo dục
Mã số: 62.14.01.02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. Đặng Thành Hưng
2. PGS.TS. Bùi Văn Quân

THÁI NGUYÊN - 2016

ĐH

Đại học

ĐHSP

ĐH sư phạm

GDH

Giáo dục học

HCTC

Học chế tín chỉ

GV

Giảng viên

KN

Kĩ năng

KNHT

Kĩ năng học tập

KNTN và XLTTHT


4.2. Xử lý, phân tích kết quả thực nghiệm...........................................................................124
4.2. Xử lý, phân tích kết quả thực nghiệm...........................................................................124


1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật ngày nay đã làm cho tri thức loài người
tăng lên nhanh chóng, theo thời gian lượng thông tin mà con người thu nhận được
ngày càng tăng. Nếu như không có các biện pháp hữu hiệu để thu thập, tìm kiếm và
xử lí thông tin thì sẽ làm hạn chế thành quả lao động của con người. Trong khi đó
thời gian học tập tại trường là có hạn, để tồn tại và phát triển con người phải tự học
suốt đời. Để đáp ứng nhu cầu đó mục tiêu dạy học ở Nhà trường phải hướng vào
mục tiêu rèn luyện cho người học cách thức tự chiếm lĩnh tri thức, trong đó những
KNTN và XLTTHT của SV trở thành những KN quan trọng cần được nghiên cứu
và phát triển.
Việc dạy học ở các trường Cao đẳng, Đại học với chức năng, nhiệm vụ của
mình quán triệt một trong những tư tưởng chỉ đạo, xuyên suốt là dạy học hướng
vào việc phát huy cao độ vai trò chủ thể tích cực, độc lập, sáng tạo của người học
trong quá trình dạy học bằng cách “tích cực hoá” “hoạt động hoá ”người học,
chuyển từ “phương pháp tập trung vào người thầy” sang “phương pháp tập trung
vào người học”, tăng cường dạy phương pháp, dạy KNHT, đặc biệt là phương pháp
và KN tự học, tự nghiên cứu cho người học.
Hoạt động học tập là hoạt động chủ yếu của sinh viên. Học tập của sinh viên
không chỉ đơn thuần là lĩnh hội tri thức mà còn là quá trình rèn luyện kỹ năng nghề
nghiệp. Kết quả học tập của sinh viên phụ thuộc vào việc sinh viên hình thành, củng
cố được các kỹ năng học tập, tiếp thu vận dụng được các tri thức vào thực tiễn cuộc
sống. Vì vậy, việc hình thành kỹ năng học tập cho sinh viên là công việc có ý nghĩa
then chốt trong quá trình dạy học.
Các nhà tâm lí học và giáo dục học đã chỉ ra rằng, quá trình học tập, KNHT

nguồn TTHT khác nhau.
Đào tạo theo TC là phương pháp đào tạo tiên tiến, vì thế nó đòi hỏi sự đổi mới
trong phương pháp dạy và học, từ cách tiếp cận nội dung sang cách tiếp cận phương
pháp. Cái chúng ta cần ở SV ngày nay khi ra trường không phải là những kiến thức ghi
chép được trong quyển vở mà thầy đọc cho như trước kia, mà là năng lực tự tiếp nhận,
tự xử lí thông tin và năng lực sáng tạo để xử lí những vấn đề thực tiễn.
Thực tiễn dạy học ở các Trường SP hiện nay theo chúng tôi kết quả lĩnh hội
kiến thức của SV còn hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu đào tạo, hạn chế hơn cả


3
là KNHT nói chung và KNTN và XLTTHT nói riêng. Nhận thức được vấn đề này,
GV ở các Trường SP đã cố gắng đưa ra nhiều biện pháp khắc phục và có những cải
tiến đáng kể. Tuy nhiên những biện pháp đưa ra chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, tài
liệu tập huấn,… của GV, chưa có chương trình chặt chẽ, chưa thống nhất theo các
biện pháp hợp lí dựa trên cơ sở khoa học. Mặt khác thực tiễn cho thấy việc triển
khai đào tạo theo HCTC ở Việt Nam còn gặp rất nhiều khó khăn và bất cập từ cơ sở
vật chất, phương tiện kỹ thuật đến tổ chức quản lý và đánh giá,…đặc biệt là sự thích
ứng của SV đối với phương thức đào tạo mới này trong đó năng lực tự học, KNHT
nói chung và KNTN và XLTTHT của SV nói riêng chưa đáp ứng được yêu cầu của
quá trình đào tạo theo HCTC.
Kỹ năng học tập là một hệ thống rất phong phú và đa dạng. Có những KN
cho hoạt động học tập chung và những KN riêng cho từng môn học, từng dạng,
từng loại hình chuyên biệt của hành động học tập. Những KNHT chung bao gồm
các KN nhận thức, KN giao tiếp, KN quản lí học tập,…. Để học tập có kết quả học
sinh cần nắm được cả KNHT chung và KNHT chuyên biệt. Do đó, trong quá trình
dạy học bộ môn giáo viên phải quan tâm rèn luyện cả 2 loại KN trên cho học sinh.
Nghiên cứu của chúng tôi chỉ quan tâm đến phát triển KNTN và XLTTHT của SVSP
trong đào tạo theo HCTC.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “phát triển

6. Phạm vi nghiên cứu
Luận án giới hạn vấn đề nghiên cứu trong phạm vi sau:
- Nghiên cứu kỹ năng tiếp nhận và xử lý thông tin học tập của sinh viên sư
phạm và phát triển các kỹ năng tiếp nhận và xử lý thông tin học tập trong đào tạo
theo học chế tín chỉ của sinh viên sư phạm hệ đào tạo Đại học.
- Tổ chức khảo sát thực trạng tại các trường đại học sư phạm Hà Nội; đại học
Hồng Đức; đại học Vinh; đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh.
- Tổ chức thực nghiệm phát triển kỹ năng tiếp nhận và xử lý thông tin học
tập thông qua môn học Giáo dục học cho các sinh viên khối ngành sư phạm tại
trường đại học Hồng Đức.
- Nghiên cứu đề xuất các biện pháp phát triển kỹ năng tiếp nhận và xử lý thông
tin học tập cho sinh viên sư phạm hệ chính quy tại các trường đại học sư phạm.


5
7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp luận nghiên cứu
7.1.1. Tiếp cận hệ thống
Luận án xem xét kỹ năng tiếp nhận và xử lý thông tin học tập là bộ phận hợp
thành của quá trình dạy học trong nhà trường và là một kỹ năng học tập.
7.1.2. Tiếp cận phức hợp
Để nghiên cứu kỹ năng tiếp nhận và xử lý thông tin học tập luận án dựa trên
nhiều lí thuyết khác nhau, nhiều thành tựu của nhiều khoa học liên quan làm cơ sở
cho việc phát triển các kỹ năng của sinh viên sư phạm như là Tâm lí học, Giáo dục
học,…
7.1.3. Tiếp cận hoạt động
Vận dụng lí thuyết hoạt động vào việc nghiên cứu đối tượng được xem xét.
Thực chất việc phát triển kỹ năng là phát triển khả năng triển khai hành động phù
hợp với mục đích và lôgíc của nó.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu cụ thể

rõ hơn những kết quả thu được qua phiếu hỏi, đồng thời bổ sung thêm những thông
tin cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài.
Phương pháp thực nghiệm
Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính hiệu quả, khả thi của các biện
pháp phát triển kỹ năng tiếp nhận và xử lý thông tin học tập của sinh viên sư phạm
đáp ứng quá trình đào tạo theo học chế tín chỉ.
7.3. Phương pháp hổ trợ
Sử dụng phần mềm xử lí số liệu (SPSS 17.0) để xử lí số liệu điều tra và thực
nghiệm sư phạm.
8. Đóng góp mới của luận án
- Xác định được cấu trúc và đặc điểm của KNTN và XLTTHT của SVSP
trong điều kiện đào tạo theo học chế tín chỉ.
- Xây dựng được hệ thống KNTN và XLTTHT trong đào tạo theo học chế
tín chỉ cần phát triển cho sinh viên sư phạm.
- Khảo sát và đánh giá thực tiễn của việc phát triển kỹ năng tiếp nhận và xử
lý thông tin học tập của sinh viên sư phạm trong đào tạo theo học chế tín chỉ hiện
nay.


7
- Xây dựng được 5 biện pháp phát triển kỹ năng tiếp nhận và xử lý thông tin học tập
cho sinh viên sư phạm trong đào tạo theo học chế tín chỉ gồm: Biện pháp phát triển
KN định hướng, lựa chọn các nguồn thông tin học tập phù hợp với môn học; biện
pháp phát triển KNTN và XLTTHT trong các giờ học trên lớp; biện pháp áp dụng
KNTN và XLTTHT trong quá trình làm việc độc lập với sách, giáo trình và các tài
liệu dạng in; biện pháp hướng dẫn SV các kỹ thuật khai thác mạng (LAN, Internet)
áp dụng KNTN và XLTTHT; biện pháp tổ chức môi trường và điều kiện học tập
khuyến khích SV chủ động rèn luyện KNHT.
9. Luận điểm bảo vệ
- Kỹ năng tiếp nhận và xử lý thông tin học tập trong đào tạo theo học chế tín

nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố, nhiều cuốn sách về hệ thống tín chỉ
học tập đã được xuất bản. Các nhà nghiên cứu giáo dục Mỹ - cái nôi của HCTC là
những người đầu tiên nghiên cứu về hệ thống học tập này.
Tác giả C. James Quann của ĐH Quốc gia Washington [125] đã định nghĩa
các khái niệm tín chỉ, giờ tín chỉ, chuyển đổi giờ tín chỉ,... trong tài liệu "The
Academic Credit System" (Về hệ thống tín chỉ học tập). Các định nghĩa này của
Quann được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu về tín chỉ của các tác giả Việt
Nam hiện nay.
Tác giả Heffeman James trong tài liệu "The Credibility of the Credit Hour:
The History, Use and Shortcomings of the Credits System" đã trình bày tổng quan
về HCTC với những khái niệm, quá trình triển khai đào tạo, các ưu điểm và nhược
điểm của hệ thống, những điều kiện tiên quyết để đảm bảo cho sự chuyển đổi thành
công và khả năng áp dụng HCTC trong các nước đang phát triển.
Các tác giả Robert Allen và Geoff Layer [49] đã có công trình nghiên cứu
"Credit - Based Systems as Vehicles for Change in Universities and Colleges" (Hệ
thống tín chỉ là phương tiện thay đổi trong các trường ĐH và cao đẳng). Các tác giả
khẳng định sự phát triển của giáo dục ĐH đại chúng là một thách thức đối với các
nhà quản lý và nhu cầu tất yếu phải có sự thay đổi trong hệ thống giáo dục ĐH.
Hiện nay, HCTC đã được triển khai và nghiên cứu ở nhiều nước trên thế
giới và các nhà khoa học vẫn không ngường nghiên cứu về hệ thống này nhằm
ngày càng hoàn thiện để nâng cao chất lượng giáo dục phù hợp với sự phát triển
của xã hội.
Tại Việt Nam, việc nghiên cứu và triển khai đào tạo theo HCTC trong các
trường ĐH đã được đề cập cách đây trên 20 năm nhưng gặp rất nhiều lúng túng


9
trong cả khâu nghiên cứu, quản lý và triển khai. Ngay từ năm 1988, theo chủ trương
của Bộ GD & ĐT, một số trường ĐH đã áp dụng học chế mềm dẻo: kết hợp giữa
niên chế với học phần. Trong giai đoạn 1993 - 1998 các tác giả ở Vụ ĐH đứng đầu



10
- Tác giả Lê Viết Khuyến [125] đã có những công trình nghiên cứu về quá
trình triển khai HCTC, các yêu cầu và mức độ phù hợp của từng yêu cầu đó đối với
thực trạng giáo dục Việt Nam.
Gần đây có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu phân tích sâu về HCTC phải
kể đến như: Tác giả Đặng Xuân Hải [53], [54] nghiên cứu về kỹ thuật dạy học trong
đào tạo theo HCTC; tác giả Trần Thị Minh Đức [41] nghiên cứu về mô hình hoạt động
của cố vấn học tập; tác giả Nguyễn Thị Kim Liên [88] nghiên cứu về kỹ năng học tập
của SV đào tạo theo HCTC; Nguyễn Mai Hương [85], [86], Bùi Ngọc Lâm [95], Trần
Mai Hương [87] nghiên cứu về hoạt động tự học, hoạt động lập kế hoạch, những khó
khăn của SV và hoạt động quản lý quá trình dạy và học trong đào tạo theo HCTC.
Khi tìm hiểu lịch sử nghiên cứu về HCTC chúng tôi nhận thấy rằng có rất nhiều
công trình nghiên cứu và các tài liệu bàn về HCTC. Tuy nhiên, hiện nay không có
nhiều công trình nghiên cứu cơ sở lý luận về HCTC cũng như nghiên cứu về các kỹ
năng học tập cần thiết của SV trong đào tạo theo HCTC. Chủ yếu các nghiên cứu của
các tác giả là các bài học kinh nghiệm hoặc được dịch từ các tài liệu nước ngoài.
1.1.2. Nghiên cứu về KN và KNHT
1.1.2.1. Các nghiên cứu về KN
Kỹ năng là vấn đề được quan tâm nghiên cứu từ rất sớm. Nhà bác học lỗi lạc
Hy Lạp cổ đại Arixtot (384-322 TCN), trong cuốn“ Bàn về tâm hồn” đã coi kỹ năng
làm việc là một trong 3 bộ phận cấu thành phẩm hạnh của con người. Trong đó nội
dung của phẩm hạnh được xác định là “Biết định hướng, biết việc làm, biết tìm tòi”.
Có nghĩa là con người có phẩm hạnh là con người phải có kỹ năng định hướng làm
việc sáng tạo [68]. Các công trình nghiên cứu của các nhà giáo dục học nổi tiếng thế
kỷ 19 như G.Rutxo, K.D.Usinxki, I.A.Comenxki [124] cũng đã đề cập đến kỹ năng
trí tuệ và sự hình thành kỹ năng này. Tuy nhiên, từ thế kỷ XIX trở về trước vấn đề
kỹ năng chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống.
Thế kỷ XX trở lại đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ

trò kỹ năng, kỹ xảo trong quá trình hoạt động lao động; các giai đoạn hình thành kỹ
năng, kỹ xảo.Trong giáo trình tâm lý học lao động, tác giả đã nêu khái niệm kỹ
năng, các điều kiện hình thành kỹ năng hoạt động lao động. Tác giả Phạm Tất Dong
[29] nghiên cứu và đã chỉ ra 4 giai đoạn hình thành kỹ năng sơ bộ, giai đoạn hoạt
động với những kỹ năng chưa thành thạo, giai đoạn kỹ năng phát triển cao, giai
đoạn phát triển cao nhất của kỹ năng. Ngoài ra còn có các tác giả như Trần Quốc
Thành [120], [121], Ngô Công Hoàn và Hoàng Anh [65], Dương Diệu Hoa [62],...
Các tác giả đều cho rằng, muốn thực hiện hành động con người phải có
những tri thức về hành động đó. Đó là hiểu được mục đích, cách thức thực hiện,
phương tiện, điều kiện hành động và sử dụng chúng vào hoạt động thực tiễn. Xuất
phát từ chỗ coi kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động, các tác giả này quan niệm
rằng, khi nắm được kỹ thuật hành động, hành động đúng theo yêu cầu kỹ thuật thì


12
sẽ đạt được kết quả. Muốn nắm được kỹ thuật hành động và hành động đúng theo
kỹ thuật thì phải có quá trình học tập và rèn luyện. Kỹ năng được biểu hiện ở khả
năng vận dụng những tri thức đã có vào một lĩnh lực hoạt động cụ thể, đảm bảo cho
hoạt động diễn ra đạt hiệu quả. Theo hướng này, kỹ năng vừa vừa có tính mềm dẻo
linh hoạt vừa có tính mục đích. Khi kỹ năng ở con người bắt đầu thì cần xem xét kỹ
năng ở mặt kỹ thuật của thao tác, của hành động hay hoạt động. Mặt khác khi kỹ
năng đã được hình thành ổn định, con người biết sử dụng nó một cách sáng tạo
trong các hoàn cảnh khác nhau thì kỹ năng được xem xét như một kỹ xảo.
1.1.2.2. Các nghiên cứu về KNHT
- Tác giả G.X. Gatxchuc [47] đi sâu nghiên cứu KNHT, đặc biệt KNHT độc
lập và vận dụng sáng tạo kiến thức vào thực tiễn. Các tác giả này đề cập nhiều đến
điều kiện để hình thành các KN bên trong quá trình dạy học.
- Một số tác giả phương Tây nghiên cứu KNHT của SV như D. Chalmer, R.
Fuller [153] đã đưa ra các KN: quản lý thời gian, xác định mục tiêu, tập trung tư
tưởng, nghe, ghi, chép, đọc sách, hiểu, nhớ, kiểm tra, giúp đỡ, hợp tác, giải quyết

Hưng [73], [74], [83] ,... đại đa số các tác giả đều quan tâm xây dựng hệ thống kỹ
năng, phân chia thành các nhóm kỹ năng và mô tả các kỹ năng cụ thể. Những kỹ
năng học tập của sinh viên được các tác giả đề cập khá đa dạng chẳng hạn: Kỹ năng
quản lý thời gian, xác định mục tiêu, tập trung tư tưởng, nghe ghi chép, đọc sách,
ghi nhớ, kiểm tra, ôn tập, kỹ năng học hợp tác, kỹ năng giải quyết vấn đề, sử dụng
thời gian hiệu quả...
- Tác giả Lê Khánh Bằng [5] cho rằng, để phát huy tính tích cực tự học của
người học, người học phải rèn luyện các kỹ năng cơ bản như kỹ năng định hướng,
kỹ năng thiết kế, kỹ năng thực hiện kế hoạch, kỹ năng tự kiểm tra, tự đánh giá quá
trình học tập của bản thân. Ông cũng đưa ra biện pháp hình thành kỹ năng học tập
là giáo viên cần đổi mới phương pháp dạy học, chuyển từ phương pháp dạy học
hướng vào giáo viên sang phương pháp dạy học hướng vào hoạt động của học sinh.
- Tác giả Mạnh Tuấn [135] đã nghiên cứu và giới thiệu hệ thống kỹ năng học
tập cần thiết giúp sinh viên có thể thành công trong học tập. Trong đó tác giả đã xây
dựng các bài tập dạy các kỹ năng, các nguyên tắc sử dụng các kỹ năng thành công
và các giai đoạn hình thành kỹ năng học tập. Theo tác giả để học được một kỹ năng
cần trải qua 4 giai đoạn : Bắt đầu học các nhà lý thuyết học tập gọi là thiếu kỹ năng
một cách vô thức (không biết mình là thiếu kỹ năng); Sau đó chúng ta ý thức được
thiếu thốn kỹ năng của bản thân và lợi ích của các kinh nghiệm học tập; giai đoạn
tiếp theo chúng ta đạt tới mức dùng các kỹ năng một cách có ý thức; cuối cùng sau
một thời gian áp dụng, thực hành, chúng ta có thể đạt tới cấp độ dùng kỹ năng một
cách vô thức.


14
- Tác giả Hà Thị Đức [42] và các cộng tác viên lại quan tâm nghiên cứu quy
trình tự học của sinh viên như quy trình làm việc với sách giáo khoa và quy trình
nghiên cứu khoa học Tác giả Trần Thị Minh Hằng [56] trong luận án tiến sĩ của
mình lại đi sâu nghiên cứu một số các yếu cơ bản trong tự học của sinh viên và
cũng đưa ra một số nhóm kỹ năng như sau: Nhóm kỹ năng định hướng gồm: kỹ

- Kỹ năng học tập của SV bao gồm ba nhóm thành phần đó là: nhóm KN lập
kế hoạch hoạt động học tập; nhóm KN tổ chức việc học và nhóm KN tự kiểm tra, tự
đánh giá việc học của bản thân.
- Kỹ năng học tập bao gồm: nhóm KNHT trên lớp; nhóm KN đọc tài liệu học
tập và nhóm KN xêmina.
Kỹ năng học tập đã được nhiều tác giả nghiên cứu ở nhiều góc độ: Vai trò
của KNHT đối với người học, các KNHT cần có ở người học, mô tả các KN đó và
khẳng định vai trò của giáo viên đối với việc dạy KNHT cho người học. Một số
KNHT cụ thể đã được một số tác giả đi sâu nghiên cứu tìm ra biện pháp rèn luyện
như KN ôn tập, KN đọc sách [24], [31], [32], [84], [89], [98], [99], [155], [167],...
1.1.3. Nghiên cứu về phát triển KNTN và XLTT học tập
Trên cơ sở coi KNTN và XLTTHT là một KNHT và trong phạm vi đề tài
này chúng tôi quan tâm nhiều đến việc nghiên cứu KNTN và XLTTHT của SV.
- Liên quan đến KNTN và XLTTHT của SV có nhiều tác giả trên thế giới quan
tâm nghiên cứu như: D.Denise Chalmer và R.Richard Fuller [153]; Paul Trewer
[168], Craig Rusbult [154], Mary holmer [162], Colin Rose và Malcolm J. Nicholl
[16], Jean A. Reynolds [159], Kanyik, Robert an Shankman, Florence V. [161]
- Paul Trewer [168] nghiên cứu về kỹ năng học tập có liên quan tới học ở đại
học đã giới thiệu và phân tích các kỹ năng như: Quản lý thời gian, xác định mục
tiêu, tập trung tư tưởng, nghe, ghi chép, đọc sách, siêu nhận thức, nhớ kiểm tra, giúp
đỡ, kỹ năng học hợp tác, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng tra cứu, kỹ năng quyết
định, lập sơ đồ khái niệm, tư duy phê phán.
- Tác giả D. Denise Chalmer và R. Chard Fuller [153] đã đưa ra một hệ
thống các chiến lược cần dạy cho SV như: Các chiến lược thu thập thông tin xử lý
các thông tin, các chiến lược xác nhận kết quả học tập và chiến lược quản lý cá
nhân. Các tác giả cho rằng giáo viên là người chịu trách nhiệm dạy và quản lý các
chiến lược học tập của sinh viên để họ thực hiện sao cho có hiệu quả và phù hợp với
môn học.
- Ngoài tác giả Denise Chalmer và Chard Fuller [153], tác giả


nay đề cập đến ở những khía cạnh và mức độ nhất định như tác giả Vũ Đình Cự
với "Khoa học - Công nghê - lực lượng sản xuất hàng đầu" [19], [20], Lê Hữu
Nghĩa và Phạm Duy Hải với "Tư duy khoa học trong giai đoạn cách mạng khoa học
- công nghệ" [108], Nguyễn Duy Thông "Thông tin và phản ánh" [127], Trần Hồng
Lưu với "Sức mạnh thông tin trong xã hội hiện đại" [100].
Dưới góc độ tự học, tự tiếp nhận và xử lý thông tin học tập với tư duy con
người nói chung và tư duy người học nói riêng đã có một số công trình và tác giả
nghiên cứu. Tiểu biểu là các tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức [66], Nguyễn
Văn Hộ và Hà Thị Đức [67], Lê Khánh Bằng [5],…


17
Hiện nay, thực hiện Nghị Quyết của Chính phủ về “đổi mới cơ bản và toàn
diện giáo dục ĐH Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020” BGD&ĐT đã ban hành Quy
chế đào tạo ĐH và CĐ hệ chính quy theo HCTC, theo Quyết định số
43/2007/BGD&ĐT ngày 15/8/2007 [10]. Hiện nay, các trường ĐH và CĐ đang
chuyển từ học phần niên chế sang HCTC, phương pháp dạy học hướng vào SV, đòi
hỏi người học phải phát huy cao độ tính tích cực, độc lập, sang tạo trong học tập để
đáp ứng được các mục tiêu học tập.
Vấn đề KNTN và XLTTHT của SV là một KNHT quan trọng nhưng đến nay
ít người quan tâm nghiên cứu một cách nghiêm túc, chuyên biệt và có hệ thống.
Chưa có những công trình nghiên cứu đầy đủ về nó như là một hoạt động học tập,
phương pháp học tập độc lập để đưa ra những chỉ dẫn giúp cho GV và SV tổ chức
quá trình dạy và học một cách có hiệu quả. Vì vậy, việc nghiên cứu tìm ra những
biện pháp phát triển KNTN và XLTTHT cho SV không chỉ có ý nghĩa về mặt lí
luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc góp phần nâng cao chất lượng
dạy học, hiệu quả đào tạo của các cơ sở giáo dục ĐH.
Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước trên cho thấy
phần lớn các tác giả đi vào nghiên cứu KNHT của học sinh phổ thông, các công
trình nghiên cứu về KNHT của SV còn ít. Những đóng góp của các tác giả trên về

sinh viên, sinh viên tích lũy đủ số tín chỉ quy định cho một ngành học thì được cấp
bằng tốt nghiệp đại học, được ra trường.
1.2.2. Đặc trưng của học chế tín chỉ
Quyết định số 43/2007/QĐ - BGD&ĐT về ban hành “Quy chế Đào tạo đại
học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ” (gọi tắt là Quy chế 43) đã xác
định rõ các đặc điểm và yêu cầu của đào tạo TC [10].
Đào tạo theo TC là phương thức đào tạo tiên tiến, có tính nhân văn và tính
hiệu quả cao, đồng thời đã và đang là xu thế tất yếu ở các trường ĐH. Dưới đây là
một số đặc điểm và cũng là ưu thế của phương thức đào tạo theo TC.
- Trao quyền chủ động cho SV và đòi hỏi cao tính chủ động của họ
Đào tạo theo TC với đặc điểm là “hướng tới người học, lấy người học là trung
tâm” và cá nhân hoá quá trình đào tạo mà các hệ thống khác không có được. Mặt
khác, cho phép SV chủ động tiến tới văn bằng đại học bằng lựa chọn nhiều cách tổ
hợp các đơn nguyên kiến thức có số TC khác nhau (tức là có giá trị khác nhau);
Trong đào tạo theo TC, mỗi môn học chỉ kéo dài và chấm dứt sau một học
kỳ. Do đó, đòi hỏi SV phải chủ động hơn trong việc học. Việc kiểm tra đánh giá
được tiến hành bằng nhiều hình thức đa dạng và cũng kéo dài trong suốt học kỳ nên
gánh nặng thi cử được giảm nhẹ, nhưng cũng không cho phép SV được chây lười.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status