MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Cảm xúc của cá nhân là một động lực cơ bản thôi thúc con người làm việc
bất kể họ làm gì. Cảm xúc còn có thể đem lại cho cá nhân những ý tưởng, những
lựa chọn đầy sáng tạo. Đời sống cảm xúc là lĩnh vực trong đó người ta có thể
chứng tỏ năng lực của mình. Theo Caroll E. Izard [1992]- nhà tâm lý học nghiên
cứu hàng đầu về cảm xúc cho rằng cảm xúc tạo nên hệ thống động cơ chính của
con người. Các cảm xúc có ý nghĩa phi thường trong hoạt động của cá nhân và
hoàn toàn không nên coi chung là cái đối lập với trí tuệ. Đúng hơn là bản thân các
cảm xúc là cấp bậc cao của trí tuệ [39].
Cảm xúc có tính hai mặt, một mặt, cảm xúc là động lực thúc đẩy cá nhân
hoạt động có hiệu quả, mặt khác, nếu không được quản lý và định hướng đúng
đắn, cảm xúc sẽ làm lệch hướng, thậm chí phá hủy nhận thức và hành động của cá
nhân, dẫn đến việc nhận thức và hành động của cá nhân trở nên “mù quáng” và sai
lầm. Vì vậy, quản lý và định hướng cảm xúc để trở thành động lực tích cực là một
trong những yếu tố quan trọng đảm bảo hiệu quả hoạt động. Thực tế cho thấy,
những người hiểu được các cảm xúc của mình, nắm được và làm chủ được chúng,
đoán được những cảm xúc của người khác và biết hòa hợp với họ một cách hữu
hiệu, là những người có lợi thế trong tất cả các lĩnh vực của cuộc đời để thành
công và hạnh phúc. Ngược lại, những người không kiểm soát được đời sống cảm
xúc của mình sẽ thường xuyên phải chịu những xung đột nội tâm, từ đó năng lực
tập trung chú ý và tư duy của họ sẽ bị phá vỡ và điều này chắc chắn có ảnh hưởng
xấu đến hiệu quả hoạt động cũng như cuộc sống của họ.
Cảm xúc và quản lý cảm xúc của con người hình thành, phát triển và thay
đổi trong các giai đoạn lứa tuổi. Những thành công, niềm vui, hạnh phúc hoặc
những thất bại, khó khăn, đau khổ… của mỗi con người phụ thuộc rất nhiều vào
cảm xúc, trong đó quản lý cảm xúc của bản thân đóng vai trò rất quan trọng. Trong
những năm cuối thế kỷ 20, nghiên cứu cảm xúc đã ngày càng được quan tâm ở
nhiều nước trên thế giới, đặc biệt đối với các trường học. Giáo dục phẩm chất nhân
cách của học sinh, sinh viên là những nội dung cốt lõi đều có liên quan đáng kể
đến cảm xúc và quản lý cảm xúc bản thân. Ở nước ta chủ yếu nghiên cứu về trí tuệ
trở thành người giáo viên thực thụ. Một mặt người giáo viên phải làm chủ cảm xúc
để làm chủ các tình huống sư phạm diễn ra rất đa dạng, phong phú. Mặt khác, họ
phải định hướng và giáo dục cho học sinh kỹ năng quản lý cảm xúc giúp các em
làm chủ cảm xúc của mình nhằm phát triển nhân cách hài hòa, thuận lợi. Vì vậy,
tác động hình thành cho sinh viên sư phạm kỹ năng quản lý cảm xúc là hết sức cần
thiết và có ý nghĩa to lớn. Đây là lý do để chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân của sinh viên sư phạm”.
2. Mục đích nghiên cứu
Phát hiện thực trạng kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân của sinh viên sư
phạm, phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng quản lý cảm xúc của sinh
viên sư phạm, đề xuất một số biện pháp tác động nhằm cải thiện kỹ năng quản lý
cảm xúc bản thân cho sinh viên sư phạm.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Biểu hiện và mức độ kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân của sinh viên sư phạm.
3.2. Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu gồm 360 sinh viên, trong đó có: 120 sinh viên của Trường
Đại học Sư phạm Hà Nội, 121 sinh viên của Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương
và 119 sinh viên của Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên.
2
4. Giả thuyết nghiên cứu
4.1. Kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân của sinh viên sư phạm ở mức trung
bình với 4 kỹ năng: Kỹ năng nhận diện cảm xúc bản thân, kỹ năng kiểm soát cảm
xúc bản thân, kỹ năng điều khiển cảm xúc bản thân, kỹ năng sử dụng cảm xúc bản
thân trong đó kỹ năng nhận diện cảm xúc tốt hơn những kỹ năng còn lại
4.2.Giữa các kỹ năng có sự tương quan: sinh viên nhận diện cảm xúc tốt sẽ
kiểm soát, điều khiển và sử dụng tốt các cảm xúc bản thân và ngược lại. Sinh viên
tự đánh giá kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân cao tuy nhiên khi tham gia tình
huống kết quả là thấp. Đây là cơ sở để làm thực nghiệm tác động nhằm cải thiện
kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân của sinh viên sư phạm.
3
giáo viên về khoa học cơ bản, nghệ thuật và kỹ thuật. Luận án chỉ nghiên cứu ở sinh
viên năm thứ nhất, thứ hai và thứ 3, không nghiên cứu năm thứ 4 vì quá trình
nghiên cứu kéo dài nên phạm vi nghiên cứu không cho phép nghiên cứu sinh viên
năm thứ 4 vì tính chất sắp ra trường.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
7.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp chuyên gia
7.2.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
7.2.3. Phương pháp phỏng vấn sâu
7.2.4. Phương pháp quan sát
7.2.5. Phương pháp trắc nghiệm
7.2.6. Phương pháp thực nghiệm
7.2.7. Phương pháp phân tích chân dung tâm lý
7.3. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
8. Đóng góp mới của luận án
Luận án đã hệ thống hóa và xác định rõ một số vấn đề lý luận về cảm xúc,
kỹ năng, kỹ năng quản lý cảm xúc của sinh viên sư phạm, cụ thể hóa được 4 kỹ
năng thành phần trong kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân của sinh viên sư phạm
(Kỹ năng nhận diện cảm xúc bản thân, kỹ năng kiểm soát cảm xúc bản thân, kỹ
năng điều khiển cảm xúc bản thân, kỹ năng sử dụng cảm xúc bản thân).
Luận án chỉ ra được thực trạng biểu hiện mức độ kỹ năng quản lý cảm xúc
bản thân của sinh viên sư phạm ở mức trung bình với 4 kỹ năng thành phần và
những yếu tố ảnh hưởng tới các kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân của sinh viên
sư phạm (khí chất, giới tính, năng lực học tập, khách thể giao tiếp). Kết quả của
thực trạng giúp cho sinh viên sư phạm chú ý học tập và luôn luôn cải thiện kỹ
năng quản lý cảm xúc bản thân được tốt hơn.
Kết quả nghiên cứu của luận án là tài liệu tham khảo bổ ích cho các giảng
viên, sinh viên trong giảng dạy, học tập và làm việc ở các trường đại học sư phạm,
cá nhân. cho rằng cảm xúc có nguồn gốc từ các năng lượng tính dục, bản năng. Tổng
hợp những cảm giác gắn liền với những thay đổi đó chính là trạng thái cảm xúc. Cảm
xúc gắn với phạm vi rộng lớn các thay đổi ngoại biên và cảm xúc gắn với trạng thái
phân bổ thần kinh và độ thông của các mạch máu.
Theo hướng nghiên cứu về cảm xúc với tư cách là động lực thì cảm xúc
được nhìn nhận là một động lực thúc đẩy cá nhân hành động. Vì vậy, vấn đề là
làm thể nào để duy trì, thỏa mãn hay củng cố những cảm xúc của cá nhân và cần
có những kích thích tác động để cải thiện cảm xúc tiêu cực, tăng cảm xúc tích cực
nhằm thúc đẩy hoạt động của con người.
Hướng nghiên cứu cảm xúc theo lứa tuổi cho thấy, các tác giả nghiên cứu
cảm xúc ở các lứa tuổi có sự phát triển cảm xúc khác nhau. Kết quả cho thấy càng
trưởng thành việc quản lý các cảm xúc sẽ thuận lợi hơn so với những lứa tuổi
khác.
1.1.1.4. Các nghiên cứu về quản lý cảm xúc.
1.1.2. Nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam có khá nhiều công trình nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc của giáo
viên, học sinh, sinh viên trên nhiều vùng miền. Xu hướng chung của các nhà tâm
lý học là làm sáng tỏ những vấn đề bản chất, cấu trúc của trí tuệ cảm xúc, cơ sở
phương pháp luận nghiên cứu trí tuệ cảm xúc; đồng thời từng bước thử nghiệm và
mau chóng đưa vào những trắc nghiệm phù hợp nhằm xác định chỉ số trí tuệ cảm
xúc của con người Việt Nam. Các tác giả Nguyễn Công Khanh, Nguyễn Huy Tú,
Trần Trọng Thủy, … được coi là những tác giả tiên phong trong lĩnh vực này.
5
Bài viết của tác giả Nguyễn Huy Tú: “Chỉ số thông minh cảm xúc cao - một
tiêu đề thành công” [81], “Trí tuệ cảm xúc - bản chất và phương pháp chẩn
đoán”[82] và “Các mô hình lý thuyết về trí thông minh cảm xúc” do Nguyễn
Công Khanh (dịch) [54] đã bước đầu tiếp cận đến trí tuệ cảm xúc. Gần đây, các tác
giả Nguyễn Công Khanh, Đinh Thị Kim Thoa và Nguyễn Thành Đoàn cũng đã
bàn đến phương pháp luận nghiên cứu trí thông minh cảm xúc.
Tác giả Dương Thị Hoàng Yến với đề tài: “Trí tuệ cảm xúc của giáo viên
1. Vui sướng
2. Đau khổ
3. Sợ hãi
4. Tức giận
5. Ngạc nhiên
6
6. Khinh bỉ
1.2. 2. Kỹ năng
1.2.2.1. Khái niệm kỹ năng
Kỹ năng là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm vào hoạt động hay hành động
thực tiễn trong điều kiện cụ thể để thực hiện hành động hay hoạt động đó có kết
quả theo mục đích đã đề ra.
1.2.2.2. Quá trình hình thành kỹ năng
K.K.Platonov và G.G.Golubev đưa ra các giai đoạn phát triển KN với 5 giai
đoạn bao gồm:
Giai đoạn 1: KN còn rất sơ đẳng khi chủ thể mới ý thức được mục đích và
tìm kiếm cách thức hành động dưới dạng “thử và sai”
Giai đoạn 2: KN đã có, nhưng chưa đầy đủ.
Giai đoạn 3: KN chung, song còn mang tính riêng lẻ.
Giai đoạn 4: KN ở trình độ cao, cá nhân sử dụng thành thạo các thao tác kỹ
thuật, cách thức thực hiện để đạt được mục đích.
Giai đoạn 5: KN tay nghề cao, khi cá nhân vừa thành thạo vừa sáng tạo
trong sử dụng các KN ở những điều kiện khác nhau [dẫn theo 52].
Chúng tôi nhất trí với quan điểm của các tác giả V.A.Cruchetxki, Phạm Minh Hạc,
N.Đ.Levitov, A.V.Petrovxki, Trần Quốc Thành nêu trên, như vậy quy trình hình
thành KN đi từ hình thành nhận thức về mục đích, cách thức, điều kiện hành động
tới việc quan sát và làm thử, cuối cùng là luyện tập để tiến hành hành động theo
đúng yêu cầu nhằm đạt được mục đích đề ra.
1.2.3. Kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân
1.2.3.1. Khái niệm kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Tình hình nghiên cứu về kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân của sinh viên sư
phạm được tìm hiểu trên các phương diện với tư cách là một hiện tượng tâm lý,
với tư cách là một động lực thúc đẩy cá nhân trong hoạt động và trong cuộc sống,
nghiên cứu trên phương diện lứa tuổi.
Kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân của sinh viên sư phạm là sự vận dụng
những tri thức, những kinh nghiệm và hiểu biết của mình để nhận diện, kiểm soát,
điều khiển, sử dụng những rung động của bản thân khi có những kích thích nhằm
đạt được những mục đích trong học tập và trong cuộc sống.
Kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân của sinh viên sư phạm bao gồm 04 thành
phần: Kỹ năng nhận diện cảm xúc bản thân, kỹ năng kiểm soát cảm xúc bản thân,
kỹ năng điều khiển cảm xúc bản thân, kỹ năng sử dụng cảm xúc bản thân.
Kỹ năng năng quản lý cảm xúc bản thân của sinh viên sư phạm có sự ảnh
hưởng của 04 yếu tố: khí chất, giới tính, năng lực học tập và khách thể giao tiếp.
Ở Việt Nam nghiên cứu vấn đề cảm xúc nói chung, kỹ năng quản lý cảm xúc
nói riêng đang trên bước đường hình thành và phát triển, còn là một lĩnh vực mới
mẻ cả về lý luận và thực tiễn. Những nghiên cứu về KNQLCX, đặc biệt là
KNQLCX bản thân của SVSP còn chưa nhiều và các nghiên cứu mới chỉ xoay
quanh thực trạng nhu cầu, hạn chế của hoạt động này ở tầm khái quát. Chính vì
vậy cần thiết phải có nhiều công trình nghiên cứu sâu hơn về lĩnh vực này để góp
phần nâng cao, phát triển hoàn thiện và phong phú hơn về KNQLCX của sinh viên
sư phạm.
CHƯƠNG 2
TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
KỸ NĂNG QUẢN LÝ CẢM XÚC BẢN THÂN
CỦA SINH VIÊN SƯ PHẠM
2.1. Tổ chức nghiên cứu
2.1.1. Nghiên cứu lý luận
8
Giai đoạn nghiên cứu lý luận được thực hiện suốt quá trình giải quyết những
năng sử dụng cảm xúc bản thân
Biểu đồ 2.5: Phân bố điểm số về kỹ năng
quản lý cảm xúc bản thân
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
Nghiên cứu KNQLXC của sinh viên là một đề tài mới và rất khó khăn, vì vậy để
giải quyết các nhiệm vụ đặt ra một cách khách quan, đầy đủ và logic đạt được mục
đích nghiên cứu của đề tài cần phải sử dụng phối kết hợp nhiều phương pháp nghiên
cứu như: phương pháp nghiên cứu lý luận, phương pháp chuyên gia, phương pháp
phỏng vấn sâu, phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phương pháp trắc nghiệm,
phương pháp quan sát, phương pháp nghiên cứu phân tích chân dung tâm lý, phương
pháp thực nghiệm. Các phương pháp này đã bổ sung, hoàn thiện kết quả nghiên cứu
cho nhau ở nhiều góc độ, từ khảo sát thực trạng tới kiểm nghiệm thực tiễn. Do đó để
thực hiện các phương pháp có hiệu quả đòi hỏi trong quá trình nghiên cứu phải thực
hiện từng phương pháp theo một quy trình tổ chức chặt chẽ. Bên cạnh đó các số liệu
10
được xử lý theo phương pháp định lượng và định tính nhằm đảm bảo kết quả nghiên
cứu và kết luận đủ tin cậy, có giá trị về mặt khoa học.
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KỸ NĂNG
QUẢN LÝ CẢM XÚC BẢN THÂN CỦA SINH VIÊN SƯ PHẠM
3.1. Thực trạng kỹ năng quản lý cảm xúc của sinh viên sư phạm
3.1.1. Đánh giá chung về kỹ năng quản lý cảm xúc sinh viên sư phạm
3.1.1.1 Đánh giá của sinh viên sư phạm về ý nghĩa của kỹ năng quản lý cảm xúc
bản thân.
Chúng tôi có tiến hành điều tra trên sinh viên để thu thập ý kiến của các sinh
viên trong 03 trường đánh giá về ý nghĩa của kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân
đối với 03 lĩnh vực sau khi tính tổng của các item đã lựa chọn dựa trên đặc điểm
tâm sinh lý của lứa tuổi sinh viên:
+ Lĩnh vực hoạt động học tập và hoạt động khác
+ Lĩnh vực giao tiếp và ứng xử với những người xung quanh
sinh viên sư phạm với ý nghĩa của việc quản lý cảm xúc đối với kết quả học tập,
giao tiếp ứng xử và hoạt động tinh thần của cá nhân thì thấy có tương quan thuận,
chặt chẽ, tương hỗ với nhau. Cụ thể r = 0,157
**
và p=0,00<0,01. Kết quả này
khẳng định cảm xúc tích cực có ảnh hưởng tốt đối với đời sống tinh thần, giao tiếp
và học tập của sinh viên, những cảm xúc tiêu cực làm cho sinh viên bế tắc và suy
nghĩ tiêu cực. Vậy làm thế nào để có cảm xúc tích cực nhiều hơn trong cuộc sống,
cần đòi hỏi phải có kỹ năng quản lý cảm xúc thật tốt. Đây là cơ sở và lý do nghiên
cứu tìm hiểu kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân của sinh viên sư phạm trong phạm
vi trường học đặc biệt là vấn đề học tập của sinh viên.
3.1.1.2. Kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân của sinh viên sư phạm
Khi tìm hiểu kỹ năng quản lý cảm xúc của sinh viên sư phạm chúng tôi
nghiên cứu trên hai mảng: Nghiên cứu trên tình huống và nghiên cứu qua tự đánh
giá của sinh viên. Kết quả cho thấy ở bảng 3.1.
Bảng 3.1. Kết quả tổng hợp kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân của sinh viên sư
phạm qua tình huống và qua tự đánh giá
Kỹ năng Tình huống Tự đánh giá r
ĐTB Mức độ ĐTB Mức độ
12
KNNDCX 3,88 TB 3,90 TB 0,095
KNKSCX 3,34 TB 3,09 TB 0,091
KNĐKCX 2,98 TB 3,27 TB 0,780
KNSDCX 3,51 TB 3,12 TB 0,119
KNQLCX 3,43 TB 3,34 TB 0,114
Xét theo điểm trung bình qua bảng số liệu cho thấy:
Mức độ kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân của sinh viên sư phạm chủ yếu
tập trung ở mức trung bình hoặc trên trung bình (ĐTB≤3.00). Ở kỹ năng nhận diện
cảm xúc: Kết quả xử lí tình huống cho điểm (TB=3,88), thấp hơn qua phiếu tự
đánh giá (ĐTB=3,90). Ở kỹ năng kiểm soát cảm xúc: Qua tình huống (ĐTB=3,34)
Dưới đây là những kết quả chi tiết về kỹ năng nhận diện cảm xúc bằng các
biểu hiện trên khuôn mặt qua hình ảnh, nhận diện cảm xúc qua tình huống và sinh
viên tự nhận diện cảm xúc của bản thân.
3.1.2.1 Kỹ năng nhận diện các dạng cảm xúc qua hình ảnh
Có 06 khuôn mặt thể hiện 06 dạng cảm xúc khác nhau: vui vẻ, đau khổ, sợ
hãi, tức giận, ngạc nhiên, khinh bỉ (câu 1-Phụ lục 1).Yêu cầu sinh viên nhận diện
chính xác các dạng cảm xúc. Kết quả thể hiện ở biểu đồ 3.3.
Biểu đồ 3.3. Mức độ nhận diện chính xác dạng cảm xúc thông qua hình ảnh
Xét theo điểm trung bình khi sinh viên được khảo sát nhận diện hình ảnh để
xác định dạng cảm xúc là tương đối tốt (bằng chứng là xét theo 360 em được khảo
sát thì chủ yếu các em trả lời được 4/6 hình ảnh với ĐTB=3,93).
Xét theo tỷ lệ %: Số sinh viên trả lời đúng 5 hoặc 6 hình rất nhiều, với
20,0% trả lời đúng 6 hình, 19,2% trả lời đúng 5 hình. Số sinh viên không trả lời
đúng hình nào là 3.6%, có 15,9% sinh viên nhận được 3,4 hình và 17,5% nhận
được 3 hình ảnh biểu lộ cảm xúc. Như vậy, với kết quả trên cho thấy mức độ nhận
diện được các dạng cảm xúc cơ bản của sinh viên tương đối cao. Chủ yếu là mức 5
hoặc 6 hình ảnh. Có thể thấy việc sinh viên nhận diện được các hình ảnh thể hiện
cảm xúc cơ bản là tương đối tốt. Tương ứng với lứa tuổi và đặc điểm tâm lý của
sinh viên, việc nhận diện các hình ảnh cảm xúc cơ bản là điều không khó khăn đối
với lứa tuổi.
14
Tuy nhiên việc nhận diện hình ảnh các dạng cảm xúc còn có nhiều sinh viên
nhận diện chưa đúng, có những sinh viên nhận diện sai và không chính xác còn
gặp nhiều khó khăn, cụ thể:
Bảng 3.2. Kỹ năng nhận diện các dạng cảm xúc trên hình ảnh
Các loại cảm
xúc
Đúng Sai
N % N %
Vui vẻ 210 58,3 150 41,7
ảnh lại chậm hơn
3.1.2.3 Kỹ năng nhận diện cảm xúc bản thân của sinh viên sư phạm qua tự đánh giá
15
Bên cạnh việc nhận diện cảm xúc bằng hình ảnh, qua tình huống chúng tôi
tiến hành tìm hiểu trên phiếu đo tự đánh giá của sinh viên. Kết quả được thể hiện ở
bảng 3.5.
Bảng 3.3. Kỹ năng nhận diện cảm xúc bản thân của sinh viên sư phạm qua tự
đánh giá
Tự nhận
diện cảm
xúc
ĐTB Thứ bậc % mức độ tự nhận diện cảm xúc của SVSP
Kém
(%)
Yếu
(%)
Trung
bình (%)
Khá
(%)
Tốt
(%)
Vui vẻ 4,07 1 3,1 7,2 15,6 28,1 46,1
Ngạc nhiên 3,81 5 2,5 10,6 21,7 34,2 31,1
Đau khổ 4.02 2 4,4 5,8 16,9 29,2 43,6
Sợ hãi 3,94 3 4,2 6,1 20,3 30,2 39,2
Khinh bỉ 3,73 6 1,7 17,2 19,4 30,0 31,7
Tức giận 3,87 4 2,8 7,8 20,6 37,5 31,4
Xét theo điểm trung bình khi sinh viên tự đánh giá kỹ năng tự nhận diện cảm
xúc bản thân của sinh viên sư phạm cho thấy đều ở mức Khá- Trung bình (ĐTB=
N % N % N %
Tức giận 2,61 24 6,7 92 25,6 244 67,8
Ngạc nhiên 2,18 79 21,9 136 37,8 145 40,3
Sợ hãi 2,28 111 30,8 35 9,7 214 59,4
Đau khổ 2,56 32 8,9 92 25,6 236 65,6
Khinh bỉ 2,13 99 27,5 113 31,4 148 41,1
Vui vẻ 2,60 31 8,6 79 21,9 250 69,4
Khi trả lời 06 tình huống tương đương với 03 mức kiểm soát khác nhau:
Mức thấp là những cách giải quyết bột phát, ngay lập tức, theo vô thức và theo bản
năng; mức trung bình là mức các sinh viên biết kìm nén cảm xúc ( nén cảm xúc
này diễn ra trong đầu); mức 3 là kiểm soát được những cảm xúc của mình, có
nghĩa là khi có cảm xúc diễn ra, thay vào việc thể hiện bột phát ngay bên ngoài thì
đã biết kìm nén, lắng nghe, quan sát nhận diện được cảm xúc đó. Nhìn vào bảng
3.6 cho thấy:
Nếu xét ở điểm trung bình: Có 3 dạng cảm xúc cơ bản là tức giận
(ĐTB=3,61), vui vẻ (ĐTB=2,60) và đau khổ (ĐTB=2,56) có điểm trung bình cao
hơn. Trong khi đó các dạng cảm xúc ngạc nhiên (ĐTB=2,18), sợ hãi (ĐTB=2,18),
khinh bỉ (ĐTB=2,13) có điểm trung bình thấp hơn.
3.1.3.2. Kỹ năng kiểm soát cảm xúc bản thân của sinh viên sư phạm qua tự đánh giá
Ở mục này chúng tôi có tiến hành điều tra bằng bảng hỏi sinh viên tự đánh giá
khả năng kiểm soát cảm xúc theo các mức độ khác nhau. Kết quả được thể hiện ở bảng
sau:
Bảng 3.5. Kỹ năng kiểm soát cảm xúc bản thân của sinh viên sư phạm qua tự đánh
giá.
Các yếu tố của kiểm soát ĐTB
Phân phối các mức độ
Không
bao
giờ
(%)
mức “thỉnh thoảng”, 32,1% mức “thường xuyên” , có tới 21,9% là mức “hiếm khi”,
10,8% là mức “Không bao giờ”.
Với kết quả trên cho thấy sinh viên lựa chọn chủ yếu ở mức “Hiếm khi”,
“Thỉnh thoảng”, “Thường xuyên”, tập trung nhiều ở mức “thỉnh thoảng”. Điều này
cũng chứng minh sinh viên sư phạm tự đánh giá kỹ năng kiểm soát cảm xúc ở mức
cao.
3.1.4 Kỹ năng điều khiển cảm xúc bản thân của sinh viên sư phạm
Nhóm kỹ năng thứ 3 nằm trong kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân của sinh
viên sư phạm là kỹ năng điều khiển cảm xúc. Trong kỹ năng này, chúng tôi cũng
tiến hành nghiên cứu trên hai phần: Tham gia trả lời theo tình huống và tự đánh
giá. Kết quả tổng hợp của hai phần được thể hiện ở biểu đồ 3.5
Biểu đồ 3.5. Kỹ năng điều khiển cảm xúc bản thân của sinh viên sư phạm
Kỹ năng điều khiển cảm xúc của sinh sư phạm chủ yếu tập trung ở mức khá
và trung bình. Sinh viên tự đánh giá kỹ năng quản lý cảm xúc tốt hơn là sinh viên
trả lời tình huống. Cụ thể:
18
Ở phần tham gia tình huống, tỉ lệ sinh viên đạt mức “trung bình” chiếm tỉ lệ
cao nhất chiếm 54,7%, mức độ “khá” chiếm 43,3%, trong khi đó mức độ “tốt” chỉ có
0,6%, mức độ “yếu” là 1,4% và không có sinh viên nào ở mức “kém”.
Ở phần sinh viên tự đánh giá, sinh viên đạt mức “khá” chiếm tỉ lệ cao nhất
50,8%, mức “trung bình” đứng vị trí thứ 2 chiếm 33,6%, trong khi đó 12,2% là
mức “tốt” và chỉ có 3,1% là mức “yếu” và 0,3% là mức “kém”.
Với kết quả trên một lần nữa cho thấy sinh viên tự đánh giá kỹ năng điều
khiển cảm xúc bản thân cao hơn kết quả khi tham gia thực hành qua tình huống.
Một điều cho thấy khi đánh giá mức độ kỹ năng điều khiển cảm xúc của bản thân
sinh viên tự đánh giá khác với thực tế trải nghiệm, thực hành qua các tình huống.
3.1.5 Kỹ năng sử dụng cảm xúc bản thân của sinh viên sư phạm
Đây là thành tố thứ 4 trong kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân của sinh viên
sư phạm. Trong phần này, kết quả nghiên cứu cũng được tìm hiểu trên hai mặt:
qua khảo sát và qua tự đánh giá. Kết quả tổng hợp được thể hiện ở biểu đồ 3.6.
khí chất có ảnh hưởng tới kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân sinh viên sư phạm.
Tuy nhiên sự ảnh hưởng này không thực sự rõ ràng.
3.2.2. Ảnh hưởng của yếu tố giới tính
Các số liệu ở bảng 3.15 cho thấy: có sự khác nhau về kỹ năng quản lý
cảm xúc bản thân của sinh viên giữa sinh viên nam và sinh viên nữ. Cụ thể:
Sinh viên nữ (ĐTB=3,43) thường có kỹ năng quản lý cảm xúc tốt hơn so với
sinh viên nam (ĐTB=3,41). Ở trong từng kỹ năng sinh viên nữ có điểm số
trung bình cao hơn sinh viên nam. Kết quả này giống nhau ở các kỹ năng nhận
diện cảm xúc, kỹ năng sử dụng cảm xúc. Tức là 2 trong 4 kỹ năng của kỹ năng
quản lý cảm xúc bản thân của sinh viên sư phạm, sinh viên nữ có điểm trung
bình cao hơn chỉ có kỹ năng điều khiển cảm xúc có điểm trung bình hướng
nội thấp hơn và kỹ năng kiểm soát có điểm trung bình giữa nam và nữ bằng
nhau (ĐTB=3,34). Tuy nhiên, sự khác biệt không lớn để thấy sự rõ ràng. Sự
khác biệt này rõ ràng nhất ở kỹ năng sử dụng cảm xúc với Sig=0,03<0,05.
Điều đó chứng tỏ giới tính có ảnh hưởng tới quản lý cảm xúc bản thân của
sinh viên sự phạm.
3.2.4. Tự đánh giá của sinh viên về các yếu tố ảnh hưởng
Nếu xét theo điểm trung bình thì yếu tố “năng lực học tập của sinh viên”
(ĐTB=3,82) là yếu tố có sự ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả học tập của sinh viên.
Lý giải điều này sinh viên H.K.H cho rằng: “Nhiệm vụ chính của sinh viên là học
tập và nghiên cứu. Do đó, kết quả học tập là một phần đánh giá năng lực của sinh
viên. Khi kết quả cao như mong đợi, sinh viên cảm thấy vui vẻ, hài lòng, thoải mái
20
nhưng ngược lại, sinh viên cảm thấy chán nản và mệt mỏi không có động lực học
tiếp”.
Yếu tố “Khách thể giao tiếp” (ĐTB=3,61). Yếu tố này bao gồm giao tiếp
ứng xử với bạn cùng lớp, ứng xử với thầy cô giáo. Nếu xét theo tỉ lệ %: Yếu tố
“Giao tiếp ứng xử của sinh viên” có tỉ lệ ở mức “rất thường xuyên” (30,8%)
ảnh hưởng đến kỹ năng quản lý cảm xúc của sinh viên sư phạm. Các em cho
rằng, yếu tố này ảnh hưởng rất nhiều đến kỹ năng quản lý cảm xúc nhất là
3- Kỹ năng kiểm soát cảm xúc
4- Các bài tập thư giãn cho kỹ năng điều khiển và sử dụng cảm xúc
3.3.2. Kết quả trước thực nghiệm
Kết quả thực nghiệm kỹ năng nhận diện cảm xúc
Những sinh viên trước khi tham gia thực nghiệm có kết quả nhận diện các
dạng cảm xúc ở mức yếu và kém. Đây là những sinh viên gặp khó khăn trong quá
trình nhận diện cảm xúc qua hình ảnh và tình huống cũng như tự nhận diện cảm
xúc của bản thân. Tuy nhiên khi tham gia 4 buổi học, trong đó kỹ năng nhận diện
21
cảm xúc có trải nghiệm của hình ảnh, tình huống, quan sát và miêu tả các dạng
cảm xúc. Kết quả cho thấy sinh viên có kỹ năng nhận diện tốt hơn. Số liệu trên
bảng 3.19 cho thấy, ở kỹ năng nhận diện cảm xúc bản thân sinh viên đạt ở mức
khá (35%) và tốt (65%). Không có sinh viên nào trong 20 sinh viên có kết quả ở
mức trung bình, yếu, kém.
• Kết quả kỹ năng kiểm soát cảm xúc
Với kỹ năng kiểm soát cảm xúc bản thân của sinh viên sư phạm có nét tương
đồng với kỹ năng nhận diện cảm xúc của bản thân. Nhìn chung mức độ kỹ năng
kiểm soát cảm xúc bản thân của sinh viên sư phạm có sự biến đổi rõ nét trước thực
nghiệm và sau thực nghiệm. Trước khi thực nghiệm, 20 sinh viên sư phạm chủ yếu
có kỹ năng kiểm soát ở mức yếu và kém. Sau khi tham gia giải các bài tập tình
huống, phương pháp tìm cách giải tỏa cảm xúc thì có 50% sinh viên đạt mức tốt,
40% sinh viên đạt mức khá chỉ còn một số rất ít (10%) sinh viên đạt ở mức độ
trung bình.
* Kết quả các bài tập thư giãn
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3
- Kết quả nghiên cứu thực trạng kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân của sinh
viên sư phạm cho thấy: phần lớn sinh viên sư phạm có kỹ năng quản lý cảm xúc
bản thân ở mức trung bình. Kết quả khảo sát cho thấy sinh viên tự đánh giá kỹ
năng quản lý cảm xúc bản thân cao hơn khi sinh viên tham gia trả lời tình huống
- Các yếu tố thuộc về giới tính, khí chất có ảnh hưởng đến kỹ năng quản lý
phạm như yếu tố khí chất, giới tính, năng lực học tập và khách thể giao tiếp trong
trường. Cụ thể, sinh viên có khí chất hướng ngoại có kỹ năng nhận dạng cảm xúc
tốt hơn sinh viên hướng nội, sinh viên hướng nội kiểm soát cảm xúc tốt hơn; sinh
viên nữ quản lý cảm xúc tốt hơn sinh viên nam. Tuy nhiên, sự tác động của các
yếu tố này chưa thực sự đặc trưng. Ngoài ra các yếu tố khác như năng lưc học
tập, khách thể giao tiếp cá nhân ảnh hưởng lớn đến kỹ năng quản lý cảm xúc bản
thân của sinh viên.
1.4.Sinh viên sư phạm có nhu cầu cao được bồi dưỡng kỹ năng quản lý cảm
xúc bản thân. Kết quả biện pháp tác động sư phạm bằng cách tổ chức lớp tập huấn
04 buổi về các kỹ năng nhận dạng cảm xúc nền tảng, kỹ năng kiểm soát, kỹ năng
điều khiển và kỹ năng sử dụng cảm xúc cho sinh, cho thấy các KN của sinh viên
được tập huấn có sự thay đổi rõ rệt.
1.5. Hai chân dung tâm lý đại diện khắc họa bức tranh chung về sinh viên sư
phạm từ khi tham gia khảo sát cho tới khi thực nghiệm. Đây là kết quả khẳng định
kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân của sinh viên sư phạm có sự thay đổi.
Với kết quả nghiên cứu trên cho phép chúng tôi khẳng định kết quả nghiên
cứu phù hợp với giả thuyết đã nêu trong luận án và các nhiệm vụ của đề tài đã
được giải quyết.
2. KIẾN NGHỊ
2.1. Đối với sinh viên.
Kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân là yếu tố quan trọng trong hoạt động sư
phạm. Vì vậy, sinh viên sư phạm phải có được kỹ năng này ở mức cao. Trong khi
đó các kỹ năng này ở sinh viên hiện nay mới ở mức trung bình, đặc biệt là các kỹ
năng kiểm soát, điều khiển và sử dụng cảm xúc bản thân. Vì vậy, sinh viên cần rèn
luyện để nâng cao kỹ năng này. Với kỹ năng nhận diện cảm xúc: Sinh viên cần
23
thực hành qua các dạng: đọc, quan sát, biểu lộ qua hình ảnh, ngôn từ, định nghĩa,
tình huống trong thực tế nhiều hơn để nắm bắt được các dạng cảm xúc của chính
bản thân mình. Sinh viên nên thường xuyên đặt những câu hỏi liên quan đến cảm
xúc hiện tại của mình để biết được những cảm xúc hiện tại đang diễn ra; Với kỹ