VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ HẢI
KỸ NĂNG QUẢN LÝ CẢM XÚC BẢN THÂN
CỦA SINH VIÊN SƯ PHẠM
Mã số CHUYÊxxÀCCCCHCCCC : 62.22.01.01
Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số : 62 31 80 05
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC
1
Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phan Trọng Ngọ
TS. Dương Thị Diệu Hoa
Phản biện 1: PGS.TS. Nguyễn Xuân Thức
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Phản biện 2: PGS.TS. Nguyễn Hồi Loan
Trường Đại học KHXH- NV, ĐHQGHN
Phản biện 3: PGS.TS. Mạc Văn Trang
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
2
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Cảm xúc của cá nhân là một động lực cơ bản thôi thúc con người làm việc
bất kể họ làm gì. Cảm xúc còn có thể đem lại cho cá nhân những ý tưởng, những
lựa chọn đầy sáng tạo. Đời sống cảm xúc là lĩnh vực trong đó người ta có thể chứng
tỏ năng lực của mình. Theo Caroll E. Izard (1992)- nhà tâm lý học nghiên cứu hàng
đầu về cảm xúc cho rằng cảm xúc tạo nên hệ thống động cơ chính của con người.
Các cảm xúc có ý nghĩa phi thường trong hoạt động của cá nhân và hoàn toàn
không nên coi chung là cái đối lập với trí tuệ. Đúng hơn là bản thân các cảm xúc là
cấp bậc cao của trí tuệ. [39]
phạm, bên cạnh đó cũng xuất hiện nhiều trung tâm đào tạo kỹ năng quản lý cảm xúc
cho các đối tượng nhưng những nghiên cứu về kỹ năng quản lý cảm xúc chưa
nhiều. Theo thống kê thanh niên, sinh viên hiện nay đang thiếu rất nhiều những kỹ
năng như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thuyết phục, kỹ năng ra quyết định…, đặc biệt
kỹ năng quản lý cảm xúc khi đối mặt với các sự kiện, trong học tập, trong các mối
quan hệ trong cuộc sống.
Với sinh viên nói chung và sinh viên sư phạm nói riêng, việc quản lý cảm
xúc là hết sức quan trọng. Đặc biệt sinh viên sư phạm là những giáo viên trong
tương lai. Nhân cách của họ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển
nhân cách của học sinh khi họ trở thành người giáo viên thực thụ. Một mặt người
giáo viên phải làm chủ cảm xúc để làm chủ các tình huống sư phạm diễn ra rất đa
dạng, phong phú. Mặt khác, họ phải định hướng và giáo dục cho học sinh kỹ năng
quản lý cảm xúc giúp các em làm chủ cảm xúc của mình nhằm phát triển nhân cách
hài hòa, thuận lợi. Trên cơ sở đó họ phải biết vận dụng việc quản lý cảm xúc trở
thành một công cụ trong quá trình dạy học. Vì vậy, tác động hình thành cho sinh
viên sư phạm kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân là hết sức cần thiết và có ý nghĩa to
lớn. Đây là lý do để chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Kỹ năng quản lý cảm
xúc bản thân của sinh viên sư phạm”.
4
2. Mục đích nghiên cứu
Phát hiện được thực trạng kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân của sinh viên sư
phạm, phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng quản lý cảm xúc của sinh
viên sư phạm, đề xuất được một số biện pháp tác động nhằm cải thiện kỹ năng quản
lý cảm xúc bản thân cho sinh viên sư phạm.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Biểu hiện và mức độ kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân của sinh viên sư
phạm.
3.2. Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu gồm 360 sinh viên, trong đó có: 120 sinh viên của Trường
sử dụng cảm xúc bản thân.
6.2. Về khách thể nghiên cứu
Luận án chỉ tập trung nghiên cứu trên khách thể là sinh viên của 03 trường đại
học sư phạm (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Sư phạm Nghệ
thuật Trunng, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên). Đây là các trường Sư
phạm lớn ở khu vực phía Bắc, là đại diện các trường sư phạm đào tạo giáo viên về
khoa học cơ bản, nghệ thuật và kỹ thuật. Luận án chỉ nghiên cứu ở sinh viên năm thứ
nhất, thứ 2 và thứ 3, không nghiên cứu năm thứ 4 vì quá trình nghiên cứu kéo dài nên
phạm vi nghiên cứu không cho phép.
7. Nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu
7.1. Nguyên tắc tiếp cận nghiên cứu vấn đề
7.1.1. Nguyên tắc tiếp cận liên ngành khoa học
7.1.2. Nguyên tắc tiếp cận hoạt động
7.1.3. Nguyên tắc tiếp cận hệ thống
7.1.4. Nguyên tắc phát triển
7.1.5 Nguyên tắc tiếp cận lịch sử
7.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
7.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
6
7.2.2. Phương pháp chuyên gia
7.2.3. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
7.2.4. Phương pháp phỏng vấn sâu
7.2.5. Phương pháp quan sát
7.2.6. Phương pháp trắc nghiệm
7.2.7. Phương pháp thực nghiệm
7.2.8. Phương pháp phân tích chân dung tâm lý
7.2.9. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
8. Đóng góp mới của luận án
Luận án đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận về cảm
xúc, kỹ năng, kỹ năng quản lý cảm xúc của sinh viên sư phạm; cụ thể hóa được 4 kỹ
trình này, các tác giả đã tập trung nghiên cứu các vấn đề về định nghĩa cảm xúc,
biểu hiện, độ ổn định, sự xuất hiện và nguồn gốc của cảm xúc, phân loại cảm xúc và
sự ảnh hưởng của các yếu tố tâm- sinh lí cá nhân đến cảm xúc và ảnh hưởng của
cảm xúc đến các hoạt động của cá nhân Chẳng hạn, trong công trình “Những cảm
xúc của người”, Carrol E. Izard (1992) đã trình bày một cách hệ thống những vấn
đề cơ bản về cảm xúc của cá nhân: cảm xúc là gì? Các loại cảm xúc, biểu hiện cảm
xúc qua nét mặt, điệu bộ, mối quan hệ và ảnh hưởng của cảm xúc đến nhận thức, ý
thức và hành vi của cá nhân v.v. P.A. Ruđich [1986], trong cuốn “Tâm lý học” đã
đề cập tới định nghĩa và đặc điểm cơ bản của cảm xúc, quan hệ giữa cảm xúc với
nhu cầu, vai trò của cảm xúc trong đời sống của con người, cơ sở sinh lí của cảm
xúc, những nét và biểu hiện bên ngoài của cảm xúc qua nét mặt Trong tác phẩm
“Tâm lý học (nguyên lí và sử dụng)”, Stephen Worchel- Wayne Shebilsue (2007),
đã đề cập tới hàng loạt vấn đề về cảm xúc, từ việc đi tìm một định nghĩa phổ biến
về cảm xúc, đến việc giới thiệu hàng loạt thuyết tâm lý học về cảm xúc như thuyết
8
James -Langer về cảm xúc và cho rằng sự xuất hiện cảm xúc là kết quả của những
tác động bên ngoài, của các thay đổi nội tại trong phạm vi vận động chú ý và không
chú ý. Kế thừa và phát triển quan niệm cảm xúc của Darwin, S. Freud (2002) cho
rằng cảm xúc có nguồn gốc từ các năng lượng tính dục, bản năng. Tổng hợp những
cảm giác gắn liền với những thay đổi đó chính là trạng thái cảm xúc. Theo James,
cảm xúc gắn với phạm vi rộng lớn các thay đổi ngoại biên còn Langer lại cho rằng
cảm xúc với trạng thái phân bổ thần kinh và độ thông của các mạch máu; Thuyết
Canon-Bar; các thuyết về nhận thức, thuyết phản hồi của Tomkins (1962), sau đó
được Izard và Ekman (1977), Friesen (1971) đào sâu và hiện vẫn là một lĩnh vực
nghiên cứu năng động….
1.1.1.2. Nghiên cứu cảm xúc với tư cách là một động lực thúc đẩy cá nhân trong
hoạt động và trong cuộc sống
Cảm xúc với tư cách là một động lực tâm lý được đề cập trong hầu hết công
trình nghiên cứu tâm lý học cá nhân, tâm lý học phát triển. Từ các thực nghiệm của
B.Skinner (1953), S. Freud (2002), A.Maslow (1970), Carrol E. Izard (1992),
của trẻ được thể hiện qua các cung bậc khác nhau. Chẳng hạn, nghiên cứu về
“Khóc” của Klein, & Marshall (1992); các nghiên cứu về “cười” của Emde,
Gaensbauer, Harmon (1976); Lewis, Hitchcock, & Sullivan (2004); các nghiên cứu
về sự “Sợ” của Emde, Gaensbauer, & Harmon (1976). Các nghiên cứu này đã phát
hiện khá nhiều điều thú vị về cảm xúc của trẻ sơ sinh. Chẳng hạn, nhà hành vi học
John Watson (1928) cho rằng cha mẹ dành quá nhiều thời gian phản ứng với trẻ sơ
sinh khóc, điều đó giống như phần thưởng và càng làm tăng tỷ lệ khóc của trẻ.
Nghiên cứu của Jacob Gewirtz (1977) cho thấy, sự đáp ứng nhanh chóng, nhẹ
nhàng của người chăm sóc càng làm trẻ tăng số lần khóc. Ngược lại, các nghiên cứu
Mary Ainsworth (1979) và John Bowlby (1989) về trẻ sơ sinh cho rằng, trẻ sơ sinh
được mẹ trả lời nhanh chóng khi chúng đã khóc lúc 3 tháng tuổi đã khóc ít hơn ở
giai đoạn sau này trong năm đầu tiên của cuộc sống (Ainsworth, 1972). Các nghiên
cứu về “cười” của Emde, Gaensbauer, Harmon (1976); Lewis, Hitchcock và
Sullivan (2004) phát hiện, “cười” xã hội không xảy ra cho đến khi trẻ được 2 tháng tuổi
10
(mặc dù một số nhà nghiên cứu tin rằng trẻ sơ sinh cười để đáp ứng với tiếng nói khi
được 3 tuần tuổi) (Sroufe và Waters, 1976) v.v
Một hướng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm là nghiên cứu về việc điều
chỉnh cảm xúc trong năm đầu tiên của trẻ (Eisenberg, 2001); Eisenberg, Spinrad
(2004), Thompson (1994), Grolnick (1996). Đến hai tuổi, trẻ có thể sử dụng ngôn
ngữ để xác định trạng thái cảm xúc của mình và những yếu tố gây khó chịu (Kopp
và Neufeld, 2002). Một em bé có thể nói: "Cảm thấy xấu hoặc là cảm thấy sợ con
chó". Điều này, có thể giúp trẻ em trong việc điều chỉnh cảm xúc.
* Nghiên cứu sự phát triển cảm xúc của trẻ ở lứa tuổi ấu thơ
Các nghiên cứu tập trung vào việc phát hiện khả năng hiểu cảm xúc của
mình ở trẻ em như nghiên cứu của Lewis (2002), phát hiện trẻ có thể hiểu được cảm
xúc của bản thân mình và biết phân biệt với những người khác lúc 2,5 tuổi; Nghiên
cứu của Harter (1999) cho thấy, trẻ 3 tuổi bắt đầu nhận thấy sự xuất hiện của những
cảm xúc tự ý thức như xấu hổ, tội lỗi, bối rối và tự hào. Trong các nghiên cứu của
Stipek (1995) cho thấy trẻ ở tuổi trước khi đến trường đánh giá thành tích của của
biết về cảm xúc. Các nghiên cứu của P.L Harris (1994), Saarni, Mumme và Campos
(1998) về việc sử dụng tên gọi của các cảm xúc để nói về cảm xúc của mình;
Nghiên cứu của Josephs (1994), Saarni (1998) về sự che dấu cảm xúc; Nghiên cứu
của Kuebli (1994); Wintre và Vallance (1994) về sự thay đổi cảm xúc của trẻ em
tuổi nhi đồng. Chẳng hạn P.L Harris, Saarni, Mumme và Campos phát hiện, ở tuổi
này, trẻ có xu hướng biểu lộ cảm xúc của bản thân trong mối liên quan với người,
vật, hoặc sự kiện làm tăng mức độ cảm xúc và trẻ thường tiếp cận bằng cách nói về
vui mừng vì sinh nhật. Cole (1986) đã cho thấy trẻ ở độ tuổi mẫu giáo cố gắng để
che đậy sự thất vọng bằng cách mỉm cười khi nhận được món quà đáng thất vọng,
nhưng trẻ không thể che giấu cảm xúc tiêu cực khi trẻ ở một mình. Saarni và cộng
sự [1998] cho rằng, những tín hiệu xã hội có thể hướng dẫn trẻ đưa ra phản ứng xã
hội thích hợp. Trẻ 6 tuổi thường tìm đến người cho quà tặng để cung cấp một gợi ý
về những phản ứng cảm xúc mong đợi, ở trẻ lớn hơn đã không cần đến các tín hiệu
xã hội. Các nghiên cứu (Josephs, 1994, Saarni, 1998) cho thấy, trẻ từ 4 -5 tuổi có
12
thể che dấu người khác bằng cách áp dụng một biểu hiện gây hiểu lầm khi nói dối.
Trẻ cũng có thể giả vờ rằng một ly nước ép trái cây đã được ngọt, để lừa một người
lớn, và cảm thấy thỏa thích dự đoán phản ứng của người lớn như thế nào khi phát
hiện ra rằng ly nước thực sự chua. Nghiên cứu của Joseph cũng cho thấy, các trẻ ở
tuổi mẫu giáo thường cười khúc khích hoặc che miệng bằng hai bàn tay để che giấu
một nụ cười khi người lớn bị lừa về nước trái cây chua.
Điều chỉnh cảm xúc là khả năng theo dõi, đánh giá và bổ trợ đáp ứng cảm
xúc của chính mình nhằm để hoàn thành một nhiệm vụ (Thompson,1994). Điều
chỉnh cảm xúc cần phải có khả năng để định dạng, hiểu được và làm nhẹ đi cảm xúc
của mình khi thích hợp. Điều chỉnh cảm xúc có thể liên quan đến việc ức chế hoặc
làm dịu bớt các phản ứng cảm xúc, ví dụ: trẻ có thể thở sâu, đếm đến 10 nhằm giúp
trẻ bình tĩnh khi đối mặt với cảm xúc khó chịu. Điều chỉnh cảm xúc cũng có thể liên
quan đến việc gia tăng cường độ thức tỉnh cảm xúc nhằm để đạt được một mục tiêu.
Ví dụ, trẻ có thể gia tăng sự tức giận nhằm để có được can đảm đứng trước một kẻ
bắt nạt, hoặc trẻ có thể gia tăng các cảm xúc tích cực bằng cách nhớ lại hoặc tái diễn
của trẻ tuổi thiếu niên. Chẳng hạn, nghiên cứu sự thay đổi hormone của
(Rosenbaum và Lewis, 2003). Khi trẻ bước vào giai đoạn trưởng thành, cảm xúc trở
nên ít khắc nghiệt hơn và điều này làm giảm sự biến động về tình cảm, có thể phản
ánh mức độ thích ứng với hormone; nghiên cứu quan hệ giữa cảm xúc với tuổi dậy
thì của Archibald, Graber và Brooks- Gunn (2003); Brooks-Gunn, Graber và
Paikoff (1994); Dorn, Williamson, Ryan (2002). Hầu hết các nhà nghiên cứu kết
luận rằng ảnh hưởng của nội tiết tố là nhỏ và những thay đổi về cảm xúc xảy ra ở
trẻ thường được kết hợp với các yếu tố khác như stress, chế độ ăn uống, hoạt động
tình dục và các mối quan hệ xã hội (Rosenbaum và Lewis 2003); (Susman, Dorn,
Schiefelhein 2003); (Susman và Rogol, 2004).
Các nghiên cứu về sự điều chỉnh cảm xúc ở thanh thiếu niên. (Gumora và
Arsenio 2002) cho thấy, từ trẻ từ lớp 6 đến lớp 8 trẻ có những biểu hiện cảm xúc
tiêu cực có điểm trung bình ở thói quen thường xuyên học tập thấp hơn so với
14
những trẻ có trải nghiệm cảm xúc tích cực hơn, ngay cả khi khả năng nhận thức
được kiểm soát.
* Sự phát triển cảm xúc ở thanh niên và người lớn trưởng thành
Cũng giống như trẻ em, người lớn thích ứng hiệu quả hơn khi có trí tuệ cảm
xúc- khi họ có khả năng nhận thức và thể hiện cảm xúc, hiểu biết cảm xúc, sử dụng
cảm xúc để tư duy và quản lý cảm xúc hiệu quả. Sự thay đổi cảm xúc tiếp tục phát
triển trong những năm ở độ tuổi trưởng thành (Carstensen, Mikels và Mather 2006);
(Knight và Mather 2006). Những thay đổi liên quan đến một nỗ lực để tạo ra lối
sống đáp ứng, dự đoán, và quản lý cảm xúc, thông qua lựa chọn nghề nghiệp, hôn
nhân và các hoạt động khác. Tất nhiên, không phải tất cả thành công trong việc làm
như vậy. Chủ đề của phát triển tình cảm ở tuổi trưởng thành là sự tích hợp thích ứng
của cảm xúc vào đáp ứng cuộc sống hàng ngày và các mối quan hệ thành công với
những người khác (Thompson và Goodvin, 2005).
Cuộc sống tình cảm của người trưởng thành có khác so với khi còn trẻ không?
Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy rằng trên mẫu nghiên cứu đa dạng, Na Uy, người Mỹ
gốc Phi, Trung Mỹ, châu Âu và châu Mỹ- người trưởng thành lớn tuổi có khả năng kiểm
các cá nhân quen thuộc, người mà họ đã có mối quan hệ thân thiện. Lý thuyết này
lập luận rằng những người lớn tuổi cố ý rút lui khỏi liên hệ với xã hội với cá nhân
thuộc phạm vi bên ngoài cuộc sống của họ, trong khi họ duy trì hoặc tăng cường
liên hệ với người bạn thân và các thành viên gia đình, với người mà họ đã có mối
quan hệ thú vị. Sự lựa chọn này thu hẹp tương tác xã hội, tối đa hóa trải nghiệm
cảm xúc tích cực và giảm thiểu rủi ro về tình cảm khi đã cao tuổi. Theo lý thuyết
này, người lớn tuổi trau dồi có hệ thống mạng xã hội của mình để các đối tác xã hội
đáp ứng nhu cầu tình cảm của họ.
Tóm lại:
Theo hướng nghiên cứu về cảm xúc với tư cách là hiện tượng tâm lý, các nhà
khoa học đã nghiên cứu các vấn đề về định nghĩa cảm xúc, biểu hiện, độ ổn định,
sự xuất hiện và nguồn gốc của cảm xúc, phân loại cảm xúc và sự ảnh hưởng của
các yếu tố tâm- sinh lí cá nhân đến cảm xúc và ảnh hưởng của cảm xúc đến các
16
hoạt động của cá nhân. cho rằng cảm xúc có nguồn gốc từ các năng lượng tính
dục, bản năng. Tổng hợp những cảm giác gắn liền với những thay đổi đó chính là
trạng thái cảm xúc. Cảm xúc gắn với phạm vi rộng lớn các thay đổi ngoại biên và
cảm xúc gắn với trạng thái phân bổ thần kinh và độ thông của các mạch máu.
Theo hướng nghiên cứu về cảm xúc với tư cách là động lực thì cảm xúc được
nhìn nhận là một động lực thúc đẩy cá nhân hành động. Vì vậy, vấn đề là làm thể
nào để duy trì, thỏa mãn hay củng cố những cảm xúc của cá nhân và cần có những
kích thích tác động để cải thiện cảm xúc tiêu cực, tăng cảm xúc tích cực nhằm thúc
đẩy hoạt động của con người.
Hướng nghiên cứu cảm xúc theo lứa tuổi cho thấy, các tác giả nghiên cứu
cảm xúc ở các lứa tuổi có sự phát triển cảm xúc khác nhau. Kết quả cho thấy càng
trưởng thành việc quản lý các cảm xúc sẽ thuận lợi hơn so với những lứa tuổi khác.
1.1.1.4. Các nghiên cứu về quản lý cảm xúc.
Trong các nghiên cứu trí tuệ cảm xúc, mà trong đó hàm chứa các yếu tố nhận
biết và kiểm soát, điều khiển cảm xúc của mình và của người khác, còn có các công
trình nghiên cứu quản lý cảm xúc. Chẳng hạn, Fischer, Manstead, Evers, Timmers,
bộ nhớ cho thông tin gặp phải trong thời kỳ ngăn chặn. Tuy nhiên, có rất ít bằng chứng
cho thấy sự ngăn chặn biểu hiện cảm xúc tự nhiên dẫn đến suy giảm kinh nghiệm cảm
xúc và kích thích sinh lý ngoài các thao tác của biểu hiện sự đau đớn.
Carstensen, Gottman và Levenson (1995), Levenson, Carstensen và
Gottman (19940 và các đồng nghiệp đã chỉ ra rằng, sự hài lòng của hôn nhân
tăng khi giảm biểu hiện cảm xúc tiêu cực. Thành công việc sửa đổi nét mặt của
cảm xúc, có thể quan trọng trong mối quan hệ của con người xã hội và hôn nhân,
nhưng nó không giúp nhiều để làm giảm cảm xúc tiêu cực của một người.
Lazarus và Alfert (1964) cho thấy, đánh giá lại, một cách hiệu quả để giảm
bớt cảm xúc tiêu cực cũng như kích thích sinh lý đi kèm. Các nghiên cứu của
Kramer và các đồng nghiệp cho thấy, đánh giá lại không tiêu thụ các nguồn lực
nhận thức nó, không làm ảnh hưởng bộ nhớ. Trong truyền thông tâm lý [Bucci,
1995] sự tích tụ của những cảm xúc không thể hiện được có liên quan đến các rối
loạn tâm thần và thể chất.
18
Tất cả các các giả trên khi nghiên cứu về quản lý cảm xúc cũng chỉ ra những
biểu hiện cảm xúc và nguyên nhân có những cảm xúc đó, họ chưa đưa ra nhưng
phương pháp để quản lý cảm xúc.
1.1.2. Nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam có khá nhiều công trình nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc của giáo
viên, học sinh, sinh viên trên nhiều vùng miền. Xu hướng chung của các nhà tâm lý
học là làm sáng tỏ những vấn đề bản chất, cấu trúc của trí tuệ cảm xúc, cơ sở
phương pháp luận nghiên cứu trí tuệ cảm xúc; đồng thời từng bước thử nghiệm và
mau chóng đưa vào những trắc nghiệm phù hợp nhằm xác định chỉ số trí tuệ cảm
xúc của con người Việt Nam. Các tác giả Nguyễn Công Khanh, Nguyễn Huy Tú,
Trần Trọng Thủy, … được coi là những tác giả tiên phong trong lĩnh vực này.
Bài viết của tác giả Nguyễn Huy Tú: “Chỉ số thông minh cảm xúc cao - một
tiêu đề thành công” [81], “Trí tuệ cảm xúc - bản chất và phương pháp chẩn
đoán”[82] và “Các mô hình lý thuyết về trí thông minh cảm xúc” do Nguyễn Công
Khanh (dịch) [54] đã bước đầu tiếp cận đến trí tuệ cảm xúc. Gần đây, các tác giả
bằng quy luật về tính không đồng đều trong sự chín muồi giới tính, kéo theo những
khác biệt về tâm lý, trong đó có khác biệt về cảm xúc.
Ngoài ra còn có các tác giả khác nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc như: Nguyễn
Thị Thanh Tâm (2012), Trí tuệ cảm xúc của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trong giao
tiếp công vụ, Luận án tiến sĩ tâm lý học; Phan Trọng Nam (2012), Trí tuệ cảm xúc
của sinh viên đại học sư phạm, Luận án tiến sĩ.
Tóm lại: Các tác giả trong nước chủ yếu nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc, trí
tuệ cảm xúc của sinh viên trong đó có sinh viên sư phạm và những cảm xúc tiêu cực
của học sinh chứ chưa nghiên cứu về kỹ năng quản lý cảm xúc, đặc biệt là kỹ năng
quản lý cảm xúc bản thân của sinh viên sư phạm. Các nghiên cứu cũng làm sáng tỏ
những vấn đề bản chất, cấu trúc của trí tuệ cảm xúc, cơ sở phương pháp luận nghiên
cứu trí tuệ cảm xúc; đồng thời từng bước thử nghiệm và mau chóng đưa vào những
trắc nghiệm phù hợp nhằm xác định chỉ số trí tuệ cảm xúc của con người Việt Nam.
20
1.2. Một số vấn đề lí luận cơ bản về kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân của
sinh viên sư phạm
1.2.1. Cảm xúc
1.2.1.1 Khái niệm
Theo “Từ điển tiếng Việt” định nghĩa: “Cảm xúc là rung động trong lòng do
tiếp xúc với sự việc gì đó” (Hoàng Phê, 1997)[64]
Theo “Từ điển Tâm lý học” (Nguyễn Khắc Viện, 1991) “Cảm xúc là phản
ứng rung chuyển của con người trước một kích động vật chất hoặc một sự việc gồm
hai mặt: Những phản ứng sinh lý do thần kinh thực vật, như tim đập nhanh, toát mồ
hôi, hoặc run rẩy, rối loạn tiêu hóa; Phản ứng tâm lý, qua những thái độ, lời nói,
hành vi và cảm giác dễ chịu, khó chịu, vui sướng, buồn khổ có tính bột phát, chủ
thể kiềm chế khó khăn. Lúc phản ứng chưa phân định gọi là cảm xúc, lúc phân định
rõ nét gọi là cảm động, lúc biểu hiện với cường độ cao gọi là cảm kích”. [84]
Theo Từ điển Tâm lý học (Vũ Dũng, 2000), cảm xúc: “là sự phản ánh tâm lý
về mặt ý nghĩa sống động của các hiện tượng và hoàn cảnh, tức mối quan hệ giữa
các thuộc tính khách quan của chúng với nhu cầu của chủ thể, dưới hình thức những
lại cho rằng, cảm xúc và những thay đổi sinh lý xảy ra độc lập và không có quan hệ
hệ quả như trong học thuyết của James Lange. Theo Cannon Bard thì cảm xúc xuất
phát từ hệ thần kinh trung ương chứ không như ở ngoại vi như James Lange.
Cannon Bard tiến hành thực nghiệm tiêm chất hóa học chỉ định vào máu và
kết quả là hoạt động tim mạch bị biến đổi nhưng lại không thấy xuất hiện những
cảm xúc tương ứng với sự biến đổi đó. Từ đó ông đã rút ra được kết luận đối lập
hẳn với quan niệm của James – Lange đó là:
- Khi đem tách các cơ quan nội tạng ra khỏi hệ thần kinh trung ương sẽ
không làm biến đổi hành vi cảm xúc.
- Những biến đổi nội tạng diễn ra quá chậm nên không thể giải thích được
những hiện tượng cảm xúc vốn xảy ra quá nhanh.
- Những biến đổi nội tạng được tạo nên bằng cách nhân tạo sẽ không gây nên
những cảm xúc.
22
Trong khi đó, theo học thuyết hai yếu tố của hai nhà tâm lý học Stanley
Schacter và Jerome Singer (1962) lại có thêm yếu tố môi trường. Điều này có nghĩa
là, con người phụ thuộc vào môi trường để giải thích những thay đổi sinh lý trong
cơ thể và hình thành cảm xúc. Học thuyết hai yếu tố của Schacter – Singer cho thấy
sự hình thành cảm xúc có sự tham gia của yếu tố môi trường và yếu tố thay đổi sinh
lý trong cơ thể. Sự kết hợp của hai yếu tố này là điều kiện cần và đủ để hình thành
nên cảm xúc tích cực cũng như tiêu cực ở con người.
Theo T.Fesher và Russell, J.A (2003) thì cảm xúc là thứ mà tất cả mọi người
đều biết nhưng không thể định nghĩa được. Điều này có nghĩa là, về mặt ngữ nghĩa,
cảm xúc có thể được coi là sự trải nghiệm bằng cảm giác. Chúng ta chỉ cảm nhận
được cảm xúc chứ không nghĩ ra nó. Khi nghe một lời nói hay chứng kiến một hành
động có ý nghĩa với bản thân, các cảm xúc của chúng ta lập tức xuất hiện, đồng thời
cũng xuất hiện những suy nghĩ tương đồng, những thay đổi về mặt sinh lý và nảy
sinh cảm giác thôi thúc muốn được làm điều đó. Ví dụ như khi có một người nào đó
nhất quyết sai khiến chúng ta làm một việc mà chúng ta không thích và làm cho
chúng ta tức giận. Lúc đó tình trạng cơ thể sẽ xuất hiện những biểu hiện như nhịp
trong mối quan hệ với đối tượng”.[69]
J.Mayer, P.Salovey và D.Caruso (2000) cho rằng: “Cảm xúc là một hệ thống
đáp lại của cơ thể giúp điều phối những thay đổi về sinh lý, tri giác, kinh nghiệm,
nhận thức và các thay đổi khác thành những trải nghiệm mạch lạc về tâm trạng và
tình cảm, chẳng hạn như hạnh phúc, tức giận, buồn chán, ngạc nhiên…” [54,tr.4]
Daniel Goleman (2002), dưới góc độ nghiên cứu cảm xúc và mối quan hệ giữa
cảm xúc và trí tuệ, đã định nghĩa: “Cảm xúc vừa là một tình cảm và các ý nghĩ, các
trạng thái tâm lý và sinh học đặc biệt, vừa là thang của các xu hướng hành động do
nó gây ra” [27]. Ông cho rằng số lượng các cảm xúc rất phong phú do không chỉ có
các cảm xúc đơn lẻ mà còn có sự kết hợp, sự biến thể và biến đổi của các cảm xúc
tạo ra.
Trong cuốn sách “Thấu hiểu cảm xúc” hai tác giả Keith Oatley và Fennifer
M. Jenkins [106] đã định nghĩa cảm xúc như sau:
24
“1- Một cảm xúc hình thành từ sự lượng định chủ định hay vô tình của một
người đối với một sự kiện liên quan đến một sự việc (một mục đích) đáng quan tâm.
Cảm xúc sẽ được cảm nhận một cách tích cực nếu điều quan tâm đó là một sự kiện
thuận lợi và một cách tiêu cực nếu đó là một sự kiện mang tính ngăn trở.
2- Cốt lõi của một cảm xúc là sự sẵn sàng để hành động và thúc đẩy những dự
định; một cảm xúc là tác nhân để bắt đầu một hay một số cách hành động nào đó.
3- Một cảm xúc thường được trải nghiệm như một hình thức phân biệt của
trạng thái tinh thần, thường dẫn đến những hành động, phản ứng hay thay đổi của
một con người. (theo Kevin, 2008)
Theo Carroll E.Izard (1992) nhà tâm lý học Mỹ với các công trình nghiên cứu
về cảm xúc, không nêu một định nghĩa cụ thể của cảm xúc mà cho rằng những cảm
xúc tạo nên hệ thống động cơ chính của con người bao gồm ba yếu tố đặc trưng sau:
- Cảm giác được thể nghiệm hay là được ý thức về cảm xúc.
- Các quá trình diễn ra trong hệ thần kinh, hệ nội tiết, hô hấp, tiêu hóa và các
hệ khác của cơ thể.
- Các phức hợp biểu cảm cảm xúc được quan sát, đặc biệt là những phức hợp