MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Cảm xúc của cá nhân là một động lực cơ bản thôi thúc con người làm
việc bất kể họ làm gì. Cảm xúc còn có thể đem lại cho cá nhân những ý
tưởng, những lựa chọn đầy sáng tạo. Đời sống cảm xúc là lĩnh vực trong đó
người ta có thể chứng tỏ năng lực của mình. Theo Caroll E. Izard [1992]- nhà
tâm lý học nghiên cứu hàng đầu về cảm xúc cho rằng cảm xúc tạo nên hệ
thống động cơ chính của con người. Các cảm xúc có ý nghĩa phi thường trong
hoạt động của cá nhân và hoàn toàn không nên coi chung là cái đối lập với trí
tuệ. Đúng hơn là bản thân các cảm xúc là cấp bậc cao của trí tuệ [39].
Cảm xúc có tính hai mặt, một mặt, cảm xúc là động lực thúc đẩy cá
nhân hoạt động có hiệu quả, mặt khác, nếu không được quản lý và định hướng
đúng đắn, cảm xúc sẽ làm lệch hướng, thậm chí phá hủy nhận thức và hành
động của cá nhân, dẫn đến việc nhận thức và hành động của cá nhân trở nên
“mù quáng” và sai lầm. Vì vậy, quản lý và định hướng cảm xúc để trở thành
động lực tích cực là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo hiệu quả
hoạt động. Thực tế cho thấy, những người hiểu được các cảm xúc của mình,
nắm được và làm chủ được chúng, đoán được những cảm xúc của người khác
và biết hòa hợp với họ một cách hữu hiệu, là những người có lợi thế trong tất
cả các lĩnh vực của cuộc đời để thành công và hạnh phúc. Ngược lại, những
người không kiểm soát được đời sống cảm xúc của mình sẽ thường xuyên
phải chịu những xung đột nội tâm, từ đó năng lực tập trung chú ý và tư duy
của họ sẽ bị phá vỡ và điều này chắc chắn có ảnh hưởng xấu đến hiệu quả
hoạt động cũng như cuộc sống của họ.
Cảm xúc và quản lý cảm xúc của con người hình thành, phát triển và
thay đổi trong các giai đoạn lứa tuổi. Những thành công, niềm vui, hạnh phúc
hoặc những thất bại, khó khăn, đau khổ… của mỗi con người phụ thuộc rất
nhiều vào cảm xúc, trong đó quản lý cảm xúc của bản thân đóng vai trò rất
1
thấy, nhìn chung, các học sinh, sinh viên còn ít được quan tâm trong việc hình
thành, nuôi dưỡng, phát triển những kỹ năng kiểm soát, kỹ năng biểu hiện
một cách có văn hoá cảm xúc của mình. Điều này làm cho họ lúng túng,
vụng về trong hợp tác với những người xung quanh, trong việc bày tỏ thái
độ của mình với những người cùng giao tiếp và có thể dẫn đến những hậu
quả đáng tiếc.
Sinh viên sư phạm là những giáo viên trong tương lai. Nhân cách của
họ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách của học
sinh khi họ trở thành người giáo viên thực thụ. Một mặt người giáo viên phải
làm chủ cảm xúc để làm chủ các tình huống sư phạm diễn ra rất đa dạng,
phong phú. Mặt khác, họ phải định hướng và giáo dục cho học sinh kỹ năng
quản lý cảm xúc giúp các em làm chủ cảm xúc của mình nhằm phát triển nhân
cách hài hòa, thuận lợi. Vì vậy, tác động hình thành cho sinh viên sư phạm kỹ
năng quản lý cảm xúc là hết sức cần thiết và có ý nghĩa to lớn. Đây là lý do để
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân
của sinh viên sư phạm”.
2. Mục đích nghiên cứu
Phát hiện thực trạng kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân của sinh viên sư
phạm, phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng quản lý cảm xúc của
sinh viên sư phạm, đề xuất một số biện pháp tác động nhằm cải thiện kỹ năng
quản lý cảm xúc bản thân cho sinh viên sư phạm.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Biểu hiện và mức độ kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân của sinh viên
sư phạm.
3.2. Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu gồm 360 sinh viên, trong đó có: 120 sinh viên của
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 121 sinh viên của Đại học Sư phạm Nghệ thuật
thân của sinh viên sư phạm, các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng quản lý cảm xúc
bản thân của sinh viên sư phạm.
4
5.3. Đề xuất một số biện pháp tác động nhằm cải thiện kỹ năng quản lý
cảm xúc bản thân của sinh viên sư phạm.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1. Về nội dung nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu, luận án chỉ tập trung nghiên cứu biểu hiện
mức độ kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân của sinh viên sư phạm trong nhà
trường, chủ yếu là trong quá trình học tập qua 4 kỹ năng thành phần: kỹ năng
nhận diện cảm xúc bản thân, kỹ năng kiểm soát cảm xúc bản thân, kỹ năng
điều khiển cảm xúc bản thân, kỹ năng sử dụng cảm xúc bản thân.
6.2. Về khách thể nghiên cứu
Luận án chỉ tập trung nghiên cứu trên khách thể là sinh viên của 03
trường đại học sư phạm (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Sư
phạm Nghệ thuật Trung ương, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên).
Đây là các trường Sư phạm lớn ở miền Bắc của Việt Nam, đại diện các trường
sư phạm đào tạo giáo viên về khoa học cơ bản, nghệ thuật và kỹ thuật. Luận án
chỉ nghiên cứu ở sinh viên năm thứ nhất, thứ hai và thứ 3, không nghiên cứu
năm thứ 4 vì quá trình nghiên cứu kéo dài nên phạm vi nghiên cứu không cho
phép nghiên cứu sinh viên năm thứ 4 vì tính chất sắp ra trường.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
7.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp chuyên gia
7.2.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
7.2.3. Phương pháp phỏng vấn sâu
6
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG QUẢN LÝ CẢM XÚC
BẢN THÂN CỦA SINH VIÊN SƯ PHẠM
1.1. Tình hình nghiên cứu về kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân của sinh
viên sư phạm.
1.1.1. Nghiên cứu ở nước ngoài
Cảm xúc và quản lý cảm xúc là lĩnh vực được quan tâm nghiên cứu
trong tâm lý học và đã thu được nhiều thành tựu. Có thể khái quát thành một
số hướng chính:
1.1.1.1. Nghiên cứu cảm xúc với tư cách là hiện tượng tâm lý cá nhân
Theo hướng này quy tụ rất nhiều nhà nghiên cứu. Có thể điểm qua các
công trình của L.X.Vưgotxki [1997], X.L. Rubinxtein [1989], V.A.
Cruchetxki [1982], R.S.Feldman[2003], Jo.Goderfroid [1998], Richard J.
Gerrig và Philip G.Zimbardo [2013], Nicky Hayes [2005], Carrol E. Izard
[1992]... Trong các công trình này, các tác giả đã tập trung nghiên cứu các
vấn đề về định nghĩa cảm xúc, biểu hiện, độ ổn định, sự xuất hiện và nguồn
gốc của cảm xúc, phân loại cảm xúc và sự ảnh hưởng của các yếu tố tâm- sinh
lí cá nhân đến cảm xúc và ảnh hưởng của cảm xúc đến các hoạt động của cá
nhân ... Chẳng hạn, trong công trình “Những cảm xúc của người”, Carrol E.
Izard [1992] đã trình bày một cách hệ thống những vấn đề cơ bản về cảm xúc
của cá nhân: cảm xúc là gì? Các loại cảm xúc, biểu hiện cảm xúc qua nét mặt,
điệu bộ, mối quan hệ và ảnh hưởng của cảm xúc đến nhận thức, ý thức và
hành vi của cá nhân v.v. P.A. Ruđich [1986], trong cuốn “Tâm lý học” đã đề
cập tới định nghĩa và đặc điểm cơ bản của cảm xúc, quan hệ giữa cảm xúc với
nhu cầu, vai trò của cảm xúc trong đời sống của con người, cơ sở sinh lí của
cảm xúc, những nét và biểu hiện bên ngoài của cảm xúc qua nét mặt ... Trong
trọng tới khía cạnh tác động xã hội tới các hành vi cảm xúc. Theo đó, các
hành vi cảm xúc của cá nhân được quyết định bởi các củng cố tích cực, tiêu
8
cực hay sự trừng phạt [1953]. Trong công trình “Tâm lý học và đời sống”,
Richard J. Gerrig và Philip G.Zimbardo hướng đến các chức năng của cảm
xúc đối với nhận thức và hành vi của cá nhân, trong đó nhấn mạnh đến chức
năng động cơ hành động, chức năng điều chỉnh sự tương tác xã hội. Cảm xúc
được ví như chất keo kết dính xã hội hoặc là tác nhân để cá nhân xa lánh, từ
bỏ xã hội. Đặc biệt, cảm xúc vừa là động lực vừa là người dẫn đường cho các
hoạt động nhận thức của cá nhân [2013]. Những kết quả nghiên cứu của
Richard J. Gerrig và Philip G.Zimbardo cũng có thể tìm thấy trong công trình
“Những cảm xúc của người” của Carrol E. Izard [1992], “Tâm lý học” của
P.A. Ruđích [1986],“Các con đường của tâm lý học” của Goderfroid [1998],
“Đời sống tình cảm của học sinh” của P.M.Iacopxon [1997].
1.1.1.3.Các nghiên cứu cảm xúc theo lứa tuổi
Với hướng nghiên cứu này có các công trình sau:
* Nghiên cứu sự phát triển của cảm xúc ở giai đoạn trẻ sơ sinh
Những nghiên cứu của Lewis hướng tới những thay đổi trong giai đoạn
đầu tiên của sự phát triển trong tình cảm, được thể hiện ở hai nhóm cảm xúc
chính, đó là cảm xúc nền tảng và cảm xúc tự ý thức. Cảm xúc nền tảng là xuất
hiện trong 6 tháng đầu đời còn cảm xúc tự ý thức được xuất hiện khoảng từ
1,5 tuổi đến 2 tuổi (Lewis, 2002).
Các nghiên cứu về khả năng giao tiếp bằng cảm xúc và nghiên cứu cảm
xúc của trẻ được thể hiện qua các cung bậc khác nhau. Chẳng hạn, nghiên cứu
về như “Khóc” của Klein, & Marshall [1992]; các nghiên cứu về “cười” của
Emde, Gaensbauer, Harmon [1976]; Lewis, Hitchcock, & Sullivan [ 2004];
các nghiên cứu về sự “Sợ” của Emde, Gaensbauer, & Harmon [1976]. Các
Các nghiên cứu tập trung vào việc phát hiện khả năng hiểu cảm xúc của
mình ở trẻ em như nghiên cứu của Lewis [2002], phát hiện trẻ có thể hiểu
được cảm xúc của bản thân mình và biết phân biệt với những người khác lúc
2,5 tuổi; Nghiên cứu của Harter [1999] cho thấy, trẻ 3 tuổi bắt đầu nhận thấy
sự xuất hiện của những cảm xúc tự ý thức như xấu hổ, tội lỗi, bối rối và tự
hào. Trong các nghiên cứu của Stipek [1995] cho thấy trẻ ở tuổi trước khi đến
trường đánh giá thành tích của của chúng và phản ứng cảm xúc đối với thành
công và thất bại, biểu hiện kinh nghiệm vui thích, không hài lòng không chỉ
đối với nhiệm vụ mà còn đối với chính bản thân trẻ
Một hướng nghiên cứu khá phổ biến về cảm xúc trẻ em tuổi ấu thơ là
cảm xúc dưới góc độ giới. Các nghiên cứu của Stipek, Recchia, & McClintic
[1992] cho rõ các em gái thường thấy xấu hổ hơn và tự hào hơn các em trai.
Còn các nghiên cứu của Cummings, Braungart-Rieker, & Du Rocher-
10
Schudlich [2003] phát hiện khía cạnh giới của các nguy cơ rối nhiễu cảm xúc
trẻ em tuổi ấu thơ. Em gái có nhiều nguy cơ bị rối loạn nội tâm, chẳng hạn
như sự lo lắng và trầm cảm, trong đó cảm giác xấu hổ và tự phê bình thường
rõ ràng (Cummings, Braungart-Rieker, & Du Rocher-Schudlich, 2003).
Các nghiên cứu về sự phát triển cảm xúc và nhận dạng các cảm xúc của
trẻ em như nghiên cứu của Kucbli [1994], Ridgeway, Waiters và Kuczaj
[1985], Denham [1998]; Denham và những người khác [2003]; Bruce, Olen
và Jensen, [1999]; Havighurst, Harley [2004]; Thompson [2006]. Chẳng hạn,
trẻ từ 2 đến 4 tuổi, số lượng các thuật ngữ mà trẻ sử dụng để mô tả cảm xúc
tăng lên (Ridgeway, Waiters, và Kuczaj, 1985). Trẻ cũng học về những
nguyên nhân và hậu quả của cảm xúc (Denham, 1998; Denham và những
người khác, 2003). Khi được 4-5 tuổi, khả năng phản ánh về cảm xúc ở trẻ
tăng, trẻ thấy cần phải quản lý cảm xúc của mình để đáp ứng các tiêu chuẩn
lầm khi nói dối. Trẻ cũng có thể giả vờ rằng một ly nước ép trái cây đã được
ngọt, để lừa một người lớn, và cảm thấy thỏa thích dự đoán phản ứng của
người lớn như thế nào khi phát hiện ra rằng ly nước thực sự chua. Nghiên cứu
của Joseph cũng cho thấy, các trẻ ở tuổi mẫu giáo thường cười khúc khích
hoặc che miệng bằng hai bàn tay để che giấu một nụ cười khi người lớn bị lừa
về nước trái cây chua.
Điều chỉnh cảm xúc là khả năng theo dõi, đánh giá và bổ trợ đáp ứng
cảm xúc của chính mình nhằm để hoàn thành một nhiệm vụ
(Thompson,1994). Điều chỉnh cảm xúc cần phải có khả năng để định dạng,
hiểu được và làm nhẹ đi cảm xúc của mình khi thích hợp. Điều chỉnh cảm xúc
có thể liên quan đến việc ức chế hoặc làm dịu bớt các phản ứng cảm xúc, ví
dụ: trẻ có thể thở sâu, đếm đến 10 nhằm giúp trẻ bình tĩnh khi đối mặt với
cảm xúc khó chịu. Điều chỉnh cảm xúc cũng có thể liên quan đến việc gia
tăng cường độ thức tỉnh cảm xúc nhằm để đạt được một mục tiêu. Ví dụ, trẻ
có thể gia tăng sự tức giận nhằm để có được can đảm đứng trước một kẻ bắt
nạt, hoặc trẻ có thể gia tăng các cảm xúc tích cực bằng cách nhớ lại hoặc tái
diễn lại một kinh nghiệm vui vẻ. Thực chất, điều chỉnh cảm xúc cho phép trẻ
là “ông chủ của chính mình”- theo cách nói của một thân chủ trẻ em. Kuebli,
12
[1994]; Wintre & Vallance [1994] đã phát hiện trẻ ngày càng phát triển nhận
thức về quản lý và kiểm soát cảm xúc của mình để đáp ứng các tiêu chuẩn xã
hội và có sự thay đổi quan trọng trong sự phát triển cảm xúc: Khả năng hiểu
các cảm xúc phức tạp tăng lên, như là niềm tự hào và sự xấu hổ; tăng khả
năng hiểu được có thể trải nghiệm nhiều cảm xúc hơn là một cảm xúc trong
một tình huống cụ thể; có xu hướng tăng trong việc tính đến các sự kiện dẫn
đến các phản ứng cảm xúc; có những cải tiến trong khả năng ngăn chặn hoặc
che giấu những phản ứng cảm xúc tiêu cực; Xuất hiện việc sử dụng các chiến
Hầu hết các nhà nghiên cứu kết luận rằng ảnh hưởng của nội tiết tố là nhỏ và
những thay đổi về cảm xúc xảy ra ở trẻ thường được kết hợp với các yếu tố
khác như stress, chế độ ăn uống, hoạt động tình dục và các mối quan hệ xã
hội (Rosenbaum và Lewis [2003]; Susman, Dorn, Schiefelhein [2003];
Susman và Rogol [2004]).
Các nghiên cứu về sự điều chỉnh cảm xúc ở thanh thiếu niên. Gumora
và Arsenio [2002] cho thấy, từ trẻ từ lớp 6 đến lớp 8 trẻ có những biểu hiện
cảm xúc tiêu cực có điểm trung bình ở thói quen thường xuyên học tập thấp
hơn so với những trẻ có trải nghiệm cảm xúc tích cực hơn, ngay cả khi khả
năng nhận thức được kiểm soát.
* Sự phát triển cảm xúc ở người lớn trưởng thành
Cũng giống như trẻ em, người lớn thích ứng hiệu quả hơn khi có trí tuệ
cảm xúc- khi họ có khả năng nhận thức và thể hiện cảm xúc, hiểu biết cảm
xúc, sử dụng cảm xúc để tư duy và quản lý cảm xúc hiệu quả. Sự thay đổi
cảm xúc tiếp tục phát triển trong những năm ở độ tuổi trưởng thành
Carstensen, Mikels và Mather [2006]; Knight và Mather [2006]. Những thay
đổi liên quan đến một nỗ lực để tạo ra lối sống đáp ứng, dự đoán, và quản lý
cảm xúc, thông qua lựa chọn nghề nghiệp, hôn nhân và các hoạt động khác.
Tất nhiên, không phải tất cả thành công trong việc làm như vậy. Chủ đề của
phát triển tình cảm ở tuổi trưởng thành là sự tích hợp thích ứng của cảm xúc
vào đáp ứng cuộc sống hàng ngày và các mối quan hệ thành công với những
người khác [Thompson và Goodvin, 2005].
Cuộc sống tình cảm của người trưởng thành có khác so với khi còn trẻ
không? Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy rằng trên mẫu nghiên cứu đa dạng,
14
Na Uy, người Mỹ gốc Phi, Trung Mỹ, châu Âu và châu Mỹ- người trưởng
thành lớn tuổi có khả năng kiểm soát tốt những cảm xúc của họ và có ít cảm
cảm xúc xã hội (Socioemotional selectivity Theory). Lý thuyết chọn lọc cảm
xúc xã hội cho rằng, người lớn tuổi trở nên có chọn lọc về các mạng xã hội
của họ, bởi vì họ đặt giá trị cao về sự hài lòng cảm xúc. Người cao niên
thường dành nhiều thời gian hơn với các cá nhân quen thuộc, người mà họ đã
có mối quan hệ thân thiện. Lý thuyết này lập luận rằng những người lớn tuổi
cố ý rút lui khỏi liên hệ với xã hội với cá nhân thuộc phạm vi bên ngoài cuộc
sống của họ, trong khi họ duy trì hoặc tăng cường liên hệ với người bạn thân
và các thành viên gia đình, với người mà họ đã có mối quan hệ thú vị. Sự lựa
chọn này thu hẹp tương tác xã hội, tối đa hóa trải nghiệm cảm xúc tích cực và
giảm thiểu rủi ro về tình cảm khi đã cao tuổi. Theo lý thuyết này, người lớn
tuổi trau dồi có hệ thống mạng xã hội của mình để các đối tác xã hội đáp ứng
nhu cầu tình cảm của họ.
Tóm lại:
Theo hướng nghiên cứu về cảm xúc với tư cách là hiện tượng tâm lý,
các nhà khoa học đã nghiên cứu các vấn đề về định nghĩa cảm xúc, biểu hiện,
độ ổn định, sự xuất hiện và nguồn gốc của cảm xúc, phân loại cảm xúc và sự
ảnh hưởng của các yếu tố tâm- sinh lí cá nhân đến cảm xúc và ảnh hưởng của
cảm xúc đến các hoạt động của cá nhân. cho rằng cảm xúc có nguồn gốc từ
các năng lượng tính dục, bản năng. Tổng hợp những cảm giác gắn liền với
những thay đổi đó chính là trạng thái cảm xúc. Cảm xúc gắn với phạm vi
rộng lớn các thay đổi ngoại biên và cảm xúc gắn với trạng thái phân bổ thần
kinh và độ thông của các mạch máu.
Theo hướng nghiên cứu về cảm xúc với tư cách là động lực thì cảm xúc
được nhìn nhận là một động lực thúc đẩy cá nhân hành động. Vì vậy, vấn đề
là làm thể nào để duy trì, thỏa mãn hay củng cố những cảm xúc của cá nhân
và cần có những kích thích tác động để cải thiện cảm xúc tiêu cực, tăng cảm
xúc tích cực nhằm thúc đẩy hoạt động của con người.
16
Nolen-Hoeksema, McBride và Larsen [1997]; Nolen-Hoeksema và Morrow
17
[1993] kết luận cho thấy nghiền ngẫm về sự tức giận, tội lỗi và những suy
nghĩ lo lắng liên quan đến việc tạo ra những cảm xúc mạnh hơn. (Wegner,
1994).. Kopel & Arkowitz [1974] nghiên cứu sự kìm hãm các biểu hiện đau,
Wegner [1994] nghiên cứu sự ngăn chặn suy nghĩ về cảm xúc đau đã cho thấy
giảm cảm giác do bản thân tự thông báo. McCanne và Anderson [1987] cho
thấy sự ngăn chặn biểu lộ cảm xúc trong khi những hoàn cảnh cảm xúc dễ
chịu hoặc khó chịu làm suy giảm khả năng của những người tham gia để cảm
nhận những cảm xúc tương ứng. Giảm khả năng nhận thức cho sự ngăn chặn
hành vi biểu cảm đến từ một sự nghiên cứu bởi Ginbe, Krull, và Pelham
[1988] đã cho thấy sự kiềm chế cái nhìn làm suy yếu sự thực hiện hành vi
nhận thức. Richards và Gross [1999] cho thấy, ngăn chặn biểu hiện cảm xúc
làm suy yếu bộ nhớ cho thông tin gặp phải trong thời kỳ ngăn chặn. Tuy
nhiên, có rất ít bằng chứng cho thấy sự ngăn chặn biểu hiện cảm xúc tự nhiên
dẫn đến suy giảm kinh nghiệm cảm xúc và kích thích sinh lý ngoài các thao
tác của biểu hiện sự đau đớn.
Carstensen, Gottman và Levenson[1995], Levenson, Carstensen và
Gottman [1994] và các đồng nghiệp đã chỉ ra rằng, sự hài lòng của hôn
nhân tăng khi giảm biểu hiện cảm xúc tiêu cực. Thành công việc sửa đổi
nét mặt của cảm xúc, có thể quan trọng trong mối quan hệ của con người
xã hội và hôn nhân, nhưng nó không giúp nhiều để làm giảm cảm xúc tiêu
cực của một người.
Lazarus và Alfert [1964] cho thấy, đánh giá lại, một cách hiệu quả để
giảm bớt cảm xúc tiêu cực cũng như kích thích sinh lý đi kèm. Các nghiên
cứu của Kramer và các đồng nghiệp cho thấy, đánh giá lại không tiêu thụ các
nguồn lực nhận thức nó, không làm ảnh hưởng bộ nhớ. Trong truyền thông
lường trên 17000 học sinh. Kết quả cho thấy sự phát triển trí tuệ cảm xúc của
học sinh chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố và là sản phẩm của quá trình tương
tác liên tục giữa bản thân và môi trường sống.
19
Tác giả Đào Thị Oanh (2010), Nghiên cứu trí tuệ cảm xúc và giáo dục
trí tuệ cảm xúc cho học sinh THCS trong gia đình và nhà trường hiện nay, Đề
tài khoa học cấp bộ, cho thấy [theo 59]: Nhìn chung, biểu hiện trạng thái cảm
xúc của thiếu niên được nghiên cứu là tích cực và phần lớn đạt ở mức tốt.
Thiếu niên nam trải nghiệm sự lo âu, căng thẳng nhiều hơn so với các thiếu
niên nữ và các thiếu niên nữ thường cảm thấy tự tin hơn. Có thể là do các em
nữ trưởng thành sớm hơn các em nam, các cách thức biểu hiện cảm xúc kín
đáo hơn, trong khi các trẻ nam tỏ ra hồn nhiên, bộc lộ cảm xúc trực tiếp và
bột phát hơn. Có sự mâu thuẫn nhất định trong tự đánh giá về trạng thái cảm
xúc của học sinh ở lứa tuổi này. Đó là mâu thuẫn giữa sự tự đánh giá về “tính
tích cực” của bản thân học sinh với “tâm trạng” và với những trạng thái có
liên quan tới “sức khoẻ” sinh lí thể chất: một mặt các em luôn tự cho mình là
“mạnh mẽ”, “vui vẻ”, “yêu đời”, “hạnh phúc”, “tươi tỉnh”, “sung sức”…,
nhưng cùng lúc đó lại cảm thấy “thụ động”, “không muốn làm việc”, “không
muốn động chân tay”, “đầu óc mụ mẫm” không tập trung được. Điều này có
thể lí giải bằng đặc điểm phát triển tâm sinh lí của lứa tuổi này do sự chi phối
của quy luật về tính mất cân đối tạm thời trong sự phát triển cá nhân của trẻ.
Và chính đây là điều làm cho bản thân thiếu niên vấp phải những khó khăn
không nhỏ. Tương tự, sự khác biệt rõ rệt giữa nữ và nam thiếu niên vừa được
đề cập ở trên cũng có thể được giải thích bằng quy luật về tính không đồng
đều trong sự chín muồi giới tính, kéo theo những khác biệt về tâm lý, trong đó
có khác biệt về cảm xúc.
Ngoài ra còn có các tác giả khác nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc như:
dưới hình thức những rung động trực tiếp”. [10, tr.29]
Trong tâm lý học, cảm xúc được nhiều nhà nghiên cứu đề cập, dưới
nhiều góc độ khác nhau:
Tiếp cận cảm xúc dưới góc độ nguồn gốc phát sinh có rất nhiều quan
niệm khác nhau như MC. Dougall coi cảm xúc là những cái được di truyền;
B.F.Skinner, J.Dolar và N.E. Miller lại giải thích cảm xúc là cách thức hay
khuôn mẫu phản ứng được tiếp thu theo nguyên tắc học tập điều kiện hóa
21
hoặc học tập bắt chước; S.Freud lại cho rằng cảm xúc chính là sự giải tỏa
những năng lượng libido bị dồn nén.
Thông thường, chúng ta cho rằng cảm xúc là nguyên nhân gây ra
những biến đổi sinh lý của cơ thể con người ví dụ như khi ta sợ hãi thì tim
đập nhanh hơn nhưng theo nhà tâm lý học người Mỹ William James (1890)
và nhà tâm lý học người Đan Mạch Carl Lange (1922) thì cảm xúc là hệ quả
của những thay đổi sinh lý trong cơ thể con người. Hay nói cách khác là hiện
tượng cảm xúc là sự phản ứng đối với những biến đổi sinh lý bên trong cơ thể
hay biến đổi nội tạng (visceral changes). Các biến đổi này phát sinh như một
sự đáp ứng với những việc xảy ra trong môi trường sống. Các biến đổi nội
tạng được giải thích là các phản ứng cảm xúc, hay sự biến đổi nội tạng được
xem là nguồn gốc của cảm xúc.
Sợ hãi → tim đập nhanh (Cảm xúc → Thay đổi sinh lý)
Tim đập nhanh → Sợ hãi (Thay đổi sinh lý → cảm xúc)
Theo lý thuyết của James - Lange thì cảm xúc là sự cảm thụ của cơ thể
đối với những biến đổi nội quan, đặc biệt là hệ tim mạch.
Tuy nhiên đến năm 1890 James đưa ra giáo trình “Những nguyên lý cơ
bản của tâm lý học” trong đó có đề cập tới cảm xúc, nghiên cứu này độc lập
với thuyết cảm xúc của Carl Lange. Trong thuyết cảm xúc của mình, James
cực ở con người.
Theo T.Fesher và Russell, J.A [2003] thì cảm xúc là thứ mà tất cả mọi
người đều biết nhưng không thể định nghĩa được. Điều này có nghĩa là, về
mặt ngữ nghĩa, cảm xúc có thể được coi là sự trải nghiệm bằng cảm giác.
Chúng ta chỉ cảm nhận được cảm xúc chứ không nghĩ ra nó. Khi nghe một lời
nói hay chứng kiến một hành động có ý nghĩa với bản thân, các cảm xúc của
chúng ta lập tức xuất hiện, đồng thời cũng xuất hiện những suy nghĩ tương
đồng, những thay đổi về mặt sinh lý và nảy sinh cảm giác thôi thúc muốn
được làm điều đó. Ví dụ như khi có một người nào đó nhất quyết sai khiến
chúng ta làm một việc mà chúng ta không thích và làm cho chúng ta tức giận.
Lúc đó tình trạng cơ thể sẽ xuất hiện những biểu hiện như nhịp tim tăng, áp
23
máu tăng cao hay nói cách khác là có sự thay đổi về mặt sinh lý, đồng thời lúc
đó về mặt tâm lý chúng ta cũng muốn có hành động như muốn đánh, hay cãi
lại người đã sai khiến mình.
Tiếp cận nghiên cứu cảm xúc như là sản phẩm tất yếu của quá trình
thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người như ăn, ở, mặc, vận động…
Theo X.L. Rubinstein [1960] khi xem xét cảm xúc về mặt nội dung thì
các cảm xúc được xác định bởi mối quan hệ xã hội của con người, bởi tập
quán và thói quen trong từng hoàn cảnh xã hội, tư tưởng của nó.
Theo quan điểm của X.L.Rubinstein khi xem xét dưới góc độ hình thức
thì các cảm xúc được phân chia theo cường độ của nó: 1) cảm xúc nội tại
hướng vào chủ thể hay nhân cách. 2) Trạng thái cảm xúc . 3) Xúc động là loại
cảm xúc diễn ra rất mạnh và có tác động tổ chức hành vi. Tùy theo nguồn gốc
nảy sinh liên quan đến những điều kiện hoàn cảnh có thể phân ra những kiểu
cảm xúc khác nhau:
- Cảm xúc sơ cấp liên quan trực tiếp đến tri giác đến hoạt động hướng
hướng hành động do nó gây ra” [27]. Ông cho rằng số lượng các cảm xúc rất
phong phú do không chỉ có các cảm xúc đơn lẻ mà còn có sự kết hợp, sự biến
thể và biến đổi của các cảm xúc tạo ra.
Trong cuốn sách “Thấu hiểu cảm xúc” hai tác giả Keith Oatley và
Fennifer M. Jenkins [106] đã định nghĩa cảm xúc như sau:
“1- Một cảm xúc hình thành từ sự lượng định chủ định hay vô tình của
một người đối với một sự kiện liên quan đến một sự việc (một mục đích) đáng
quan tâm. Cảm xúc sẽ được cảm nhận một cách tích cực nếu điều quan tâm
đó là một sự kiện thuận lợi và một cách tiêu cực nếu đó là một sự kiện mang
tính ngăn trở.
2- Cốt lõi của một cảm xúc là sự sẵn sàng để hành động và thúc đẩy
những dự định; một cảm xúc là tác nhân để bắt đầu một hay một số cách hành
động nào đó.
3- Một cảm xúc thường được trải nghiệm như một hình thức phân biệt
của trạng thái tinh thần, thường dẫn đến những hành động, phản ứng hay thay
đổi của một con người.” [108]
25