Tất cả các dạng đề của tác phẩmVợ chồng A Phủ - Pdf 37

Câu 2 (5 điểm): Phân tích tâm trạng và hành động của nhân vật
Mị trong đêm cứu A Phủ (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài).
Mị là nhân vật trung tâm trong truyện ngắn "Vợ chồng A Phủ" mà nhà văn
Tô Hoài đã giành nhiều tài năng và tâm huyết để xây dựng. Truyện được
trích từ tập "truyện Tây Bắc" (1953) của Tô Hoài. Trong chuyến đi cùng bộ
đội vào giải phóng miền Tây Bắc (1952), Tô Hoài đã có dịp sống, cùng ăn,
cùng ở với đồng bào các dân tộc miền núi, chính điều đó đã giúp Tô Hoài
tìm được cảm hứng để viết truyện này. Tô Hoài thành công trong "Vợ chồng
A Phủ" không chỉ do vốn sống, tình cảm sống của mình mà còn là do tài
năng nghệ thuật cùa một cây bút tài hoa. Trong "Vợ chồng A Phủ", Tô Hoài
đã sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật, trong đó nổi bật và đáng chú ý nhất
là biện pháp phân tích tâm lý và hành động của Mị trong từng chặng đường
đời. Điểm nghệ thuật ấy thật sự phát sáng và thăng hoa trong đoạn văn miêu
tả tâm lý và hành động của nhân vật Mị trong đêm mùa đông cứu A Phủ.
Qua đó ta thấy được giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm.
Trong tác phẩm này, điều gây cho bạn đọc ấn tượng nhất đó chính là hình
ảnh của cô gái "dù làm bất cứ việc gì, cô ta cũng cúi mặt, mắt buồn rười
rượi". Đó là tâm lý của một con người cam chịu, buông xuôi trước số phận,
hoàn cảnh sống đen tối đầy bi kịch. Sở dĩ Mị có nét tính cách ấy là do cuộc
sống hôn nhân cưỡng bức giữa Mị và A Sử. Mị không được lấy người mình
yêu mà phải ăn đời ở kiếp với một người mà mình sợ hãi, lạnh lùng. Một
nguyên nhân nữa chính là do uy quyền, thần quyền, đồng tiền của nhà thống
lý Pá Tra đã biến Mị thành một đứa con dâu gạt nợ. Mang tiếng là con dâu
của một người giàu có nhất vùng, nhưng thật sự Mị chỉ là một kẻ nô lệ
không hơn không kém. Điều đó làm Mị đau khổ, Mị khóc ròng rã mấy tháng
trời và từng có ý định ăn nắm lá ngón kết thúc cuộc đời mình. Thế nhưng
"sống lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi". Chính vì thế Mị đã buông xuôi
trước số phận đen tối của mình, trái tim của Mị dần chai sạn và mất đi nhịp
đập tự nhiên của nó.
Song song với nét tính cách đó lại là tâm trạng của một người yêu đời, yêu
cuộc sống, mong muốn thoát khỏi hoàn cảnh sống đen tối, đầy bi kịch. Điều

nhà đã ngủ yên cả rồi, Mị lại thức dậy đến bếp đốt lửa lên để hơ tay. Lửa
cháy sáng, "Mị lé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở, một
dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại". Đó là dòng
nước mắt của một kẻ nô lệ khi phải đối mặt với cái chết đến rất gần. Chính
"dòng nước mắt lấp lánh ấy" đã làm tan chảy lớp băng giá lạnh trong lòng
Mị. Lòng Mị chợt bồi hồi trước một người, trùng cảnh ngộ. Đêm mùa xuân
trước Mị cũng bị A Sử trói đứng thế kia, có nhiều lần khóc nước mắt rơi
xuống miệng, xuống cổ không lau đi được. Mị chợt nhận ra người ấy giống
mình về cảnh ngộ, mà những người cùng cảnh ngộ rất dễ cảm thông cho
nhau. Mị nhớ lại những chuyện thật khủng khiếp lúc trước kia, “chúng nó
bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở trong cái nhà này”. Lý trí
giúp Mị nhận ra “Chúng nó thật độc ác”. Việc trói người đến chết còn ác
hơn cả thú dữ trong rừng. Chỉ vì bị hổ ăn mất một con bò mà một người
thanh niên khỏe mạnh, siêng năng, say sưa với cuộc đời đã phải lấy mạng
mình thay cho nó. Bọn thống trị coi sinh mạng của A Phủ không bằng một
con vật. Và dẫu ai phạm tội như A Phủ cũng bị xử phạt như thế mà thôi.
Nhớ đến những chuyện ngày trước, trở về với hiện tại, Mị đau khổ cay đắng
cho thân phận của mình: “Ta là thân đàn bà chúng nó đẵ bắt ta về trình ma
nhà nó rồi thì chỉ còn biết chờ ngày rũ xương ở đây thôi”. Nghĩ về mình, Mị
lại nghĩ đến A Phủ “có chừng này, chỉ đêm nay thôi là người kia chết, chết


đau, chết đói, chết rét, phải chết. Người kia việc gì mà phải chết như thế. A
Phủ…. Mị phảng phất nghĩ như vậy”. Thật sự, chẳng có lí do gì mà bọn
thống lí Pá Tra bắt A Phủ phải chết vì cái tội để mất một con bò! Trong đầu
Mị bỗng nhiên nghĩ đến cảnh A Phủ bỏ trốn và chính Mị sẽ là người chết
thay cho A Phủ trên cái cột tưởng tượng đó. Thế nhưng, Mị vẫn không thấy
sợ, sự suy tưởng của Mị là có cơ sở của nó. Cha con Pá Tra đã biến Mị từ
một con người yêu đời, yêu cuộc sống, tài hoa chăm chỉ, hiếu thảo, tha thiết
với tình yêu thành một con dâu gạt nợ, một kẻ nô lệ đúng nghĩa, chúng đã

Mị cứu A Phủ cũng đồng nghĩa với việc Mị tự cứu lấy bản thân mình. Qua
đoạn trích trên, Tô Hoài đã ca ngợi những phẩm chất đẹp đẽ của người phụ


nữ miền núi nói riêng và những người phụ nự Việt Nam nói chung. Tô Hoài
đã rất cảm thông và xót thương cho số phận hẩm hiu, không lối thoát của
Mị. Thế nhưng bằng một trái tim nhạy cảm và chan chứa yêu thương, Tô
Hoài đã phát hiện và ngợi ca đốm lửa còn sót lại trong trái tim Mị. Tư tưởng
nhân đạo của nhà văn sáng lên ở đó. Đồng thời qua tác phẩm, Tô Hoài cũng
đã khẳng định được chân lí muôn đời: ở đâu có áp bức bất công thì ở đó có
sự đấu tranh để chống lại nó dù đó là sự vùng lên một cách tự phát như Mị.
Quả thật, tác phẩm này giúp ta hiểu được nhiều điều trong cuộc sống.
Với truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” nói riêng và tập “Truyện Tây Bắc” nói
chung, ta hiểu vì sao Tô Hoài lại thành công trong thể loại truyện ngắn đến
như vậy. Nét phong cách nghệ thuật: màu sắc dân tộc đậm đà chất thơ chất
trữ tình thấm đượm, ngôn ngữ lời văn giàu tính tạo hình đã hội tụ và phát
sáng trong truyện ngắn này. Tác phẩm “Truyện Tây Bắc” xứng đáng với giải
nhất truyện ngắn - giải thưởng do Hội nghệ sĩ Việt Nam trao tặng năm 1954
- 1955. Và “Vợ chồng A Phủ” thực sự để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng bạn
đọc bởi những giá trị nghệ thuật, giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của nó.
Truyện ngắn này quả là một truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách Tô Hoài.
Đối với riêng em, truyện “Vợ chồng A Phủ” giúp em cảm thông sâu sắc
trước nỗi khổ của người phụ nữ trong xã hội phong kiến miền núi, từ đó
giúp em ngày càng trân trọng khát vọng của họ hơn. Đây quả là một tác
phẩm văn chương đích thực bởi nó đã góp phần nhân đạo hóa tâm hồn bạn
đọc như Nam Cao đã quan niệm trong truyện ngắn “Đời thừa”.


Đề: Cảm nhận diễn biến tâm trạng của Mị trong đêm cắt dây để cởi trói
cho A Phủ.Bình luận ngắn ngọn về tư tưởng nhân dạo của nhà văn Tô

ngay cả hạnh phúc tưởng chừng như tầm thường dễ dàng đó cũng không
mỉm cười với Mị. Vì gia đình nghèo và món nợ truyền kiếp của gia đình, cô


bị bắt làm dâu gạt nợ.Chính ở đây, xã hội của tiền quyền, cường quyền và
thần quyền đã đẩy cô vào ngã rẻ tăm tối với những trang đời đẫm nước mắt.
Từ khi bị bắt về làm dâu gạt nợ, gương mặt Mị chỉ toàn nước mắt
“Có đến mấy tháng trời đêm nào Mị cũng khóc” đó chỉ là một sự phản
kháng yếu ớt . Nhưng không, người con gái ấy đã đứng lên để giải thoát cho
cuộc đời mình bằng ý định tự tử - một sự phản kháng mãnh liệt, không chịu
sống với cuộc đời đày đoạn kiếp trâu ngựa. Những trái ngang cuộc đời
không buông tha cho Mị, cô không thể chết, cô phải sống để gánh trên vai
mối nợ truyền kiếp của cha mẹ. Mị là đứa con hiếu thảo. Ngày qua ngày Mị
trở thành một cổ máy, Mị bị bóc lột cả thể xác lẫn tinh thần một cách thậm
tệ, hơn cả một nô lệ. Thật xót xa khi người con gái ấy tưởng mình cũng là
con trâu con ngựa, thậm chí còn không bằng con trâu con ngựa. Hình ảnh “
căn buồng Mị nằm kít mít chỉ có một lỗ cửa sổ vuông bằng bàn tay” giống
như ngục thất giam cầm cuộc đời Mị, là chuỗi những con số không: không
buồn, không vui, không quá khứ, không hiện tại, không tương lai. Thời gian
không có ý nghĩa gì với Mị, cô sống vô hồn,vô cảm với cuộc sống xung
quanh. Có phải ngọn lửa khát khao tự do, ngọn lửa thổi bùng sức sống của
Mị đã hoàn toàn dập tắt? Không! Sức sống của Mị không bị hủy diệt, nó
đang chờ đợi một cơ hội để có thể đứng dậy và đấu tranh cho bản thân. Và
rồi, tiếng sáo ngân vnag của đêm tình mùa xuân đã mở cửa ngôi nhà tâm hồn
từ lâu, im ỉm khóa của Mị.
Từ xa đến gần, từ hiện tại đến quá khứ, tiếng sao vang dội từ xa, len
lõi vào tâm hồn Mị, dịu hồn Mị bồng bềnh sống lại với những khát khao yêu
thương hạnh phúc của ngày xưa, dẫn Mị từ cõi quên trở về cõi nhớ. Và bất
giác “Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng”,Mị muốn đi
chơi. Con người thực tế của Mị đã sống dậy thay thế cho con người vô thức.

Mi nhớ đến hôm ấy mình cũng đã chịu trói như thế nào và “nước mắt chạy
xuống miệng, xuống cổ”… không ai biết, không ai hiểu.Nhìn A Phủ Mị
thương quá! Sao đời mình lại khổ đến thế! Và từ thương bản thân, Mị nghĩ
đến người đàn bà đã bị chết trói , nghĩ đến A Phủ Mị căm giận lũ người vô
lương “Chúng nó thật độc ác”. Cái thương, cái căm giận, cái phẫn nộ ấy
khác nào như nguồn hơi thổi vào nngọn lửa vẫn còn đang im ỉm, bên trong
Mị bùng cháy, xé toạt cả trái tim vô cảm bấy lâu đã chiếm đóng cơ thể cô.Mị
vẫn là là một con người có trái tim nhân hậu, Mị thương A Phủ - một con
người khối khổ chỉ vì đánh mất một con bò mà phải đem mạng mình đánh
đổi. Mị biết “Cơ chừng này chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết
đói, chết rét, phải chết”. Điệp từ “chết” trong câu đã nhấn mạnh nếu như cứ
như thế này ắc hẳn A Phủ sẽ bị thần chết lôi cổ đi, cứ như thế này thì một
mạng người nữa sẽ phải ra đi trong cái nhà đại ngục này. Những dòng suy
nghĩ đã diễn ra trong đầu Mị, Mị phải cứu A Phủ , nhưng Mị sợ “lúc ấy bố
con Pá tra sẽ bảo là Mị cởi trói cho nó, Mị liền phải thay vào đấy, Mị phải
chết trên cái cọc ấy”. Nười con gái yếu đuối ấy sợ, nhưng cô đã ý thức và sự
tự giác đã giúp Mị vượt qua nỗi sợ hãi. Chính tình thương của những người
cùng cảnh ngộ và lòng căm thù đã giúp Mị có sức mạnh “cởi trói cho A
Phủ”.


Mị mang tâm trạng vừa lo vừa sợ, vừa hốt hoảng “rón rén bước lại’
gần A Phủ, “Mị rút con dao nhỏ cắt lúa cắt dây mây”, cô chỉ tháo được một
tiếng “Đi ngay…” rồi nghẹn lại. Dường như trái tim mong manh của người
con gái ngay lúc này đang đập loạn xạ, đập một cách mạnh mẽ vào cái khát
vọng tự do đang bùng cháy. “Mị đứng lặng trong bóng tối”. Tô Hoài đã sử
dụng tinh tế từ “lặng” để chỉ dòng suy nghĩ trong Mị. Đi hay ở ? đi thì đi
đâu? Mà ở lại đây thì sẽ chết. Cuối cùng, Mị dùng hết sức, hết can đảm để
“chạy vụt ra” , “băng đi”, “đuổi kịp A Phủ”, Mị thở trong hơi gió lạnh buốt
“A Phủ cho tôi đi, ở đây thì chết mất”. Câu nói chứa đựng cả ân tình. Đây là


Bằng cách dẫn dắt tình tiết hết sức khéo léo, mạch truyện liên tục
biến đổi tạo sức cuốn hút cho người đọc, đặc biệt nghệ thuật miêu tả tâm lí
nhân vật Mị chân thực, sinh động. Nhà văn đã xây dựng thành công cuộc đời
làm dâu gạt nợ của người con gái trẻ miền núi tên Mị, cũng như thành công
khi xây dựng tâm lí nhân vật trong đêm định mệnh Mị tự tay cắt đi vòng
xiềng xích đã giam cầm cuộc đời Mị. Khác với chị Dậu và Chí Phèo với một
kết thúc bế tắc, Mị được Tô Hoài cho thêm một niềm tin vào tương lai cũng
như cho cuộc đời. Mị mở ra một trang mới. Đây là một thành công trong
việc xây dựng cốt truyện của nhà văn.
Có người từng nói “Hạnh phúc là một sự chờ đợi” và chính sức
sống mãnh liệt với niềm tin vào cuộc sống, Mị đã tìm được hạnh phúc cho
mình. Không chỉ có Mị mà bất kì một ai khác nếu tin vào cuộc sống thì sớm
hay muộn trái ngọt hạnh phúc cũng đến tay họ, dù hôm nay đang chịu nhiều
đau khổ, nhọc nhằn. Tôi có niềm tin vào Mị và A Phủ, tôi có niềm tin vào
bản thân mình và tôi cũng có niềm tin vào các bạn.


Đề:Qua hai nhân vật Mị và A Phủ, hãy nêu giá trị hiện thực và nhân đạo
của tác phẩm Vợ chồng A Phủ
Vợ chồng A Phủ là một trong ba tập trong Truyện Tây Bắc (in năm
1954) của nhà văn Tô Hoài. Tác phẩm kể về cuộc đời của đôi vợ chồng trẻ
người Mèo là Mị và A Phủ. Mị bị bắt về làm con dâu trừ nợ cho nhà thông
lí. A Phủ vì dám đánh A Sử, con trai thống lí nên phải làm đày tớ đế trừ tiền
phạt vạ. Cùng cảnh ngộ đau khổ, Mị đã cứu A Phủ. Hai người trốn khỏi nhà
Pá Tra, tìm đến tận Phiềng Sa, thành vợ, thành chồng, cùng nhau xây dựng
cuộc đời mới. Được cán bộ cách mạng giác ngộ, Mị cùng A Phủ trở thành
du kích bảo vệ khu giải phóng.
Đây là tác phẩm có giá trị hiện thực và nhân đạo đáng kể. Thông qua
số phận Mị và A Phủ, nhà văn đã dựng lại quãng đời đau khổ, tối tăm của

trói đứng vào cột chờ chết, không được ăn, không được uống.
Con người khi phách ngang tàng như A Phủ mà phổi lặng lẽ khóc
cho thân phận tủi nhục cua mình: "hai mắt A Phủ cũng vừa mở. Một dòng
nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại”. Chút ý thức phản
kháng trong anh đã bị hiện thực phũ phàng dập tắt.
Ngòi bút nhà văn tỏ ra sắc sảo trong việc miêu tả con người và
cuộc sống vùng cao. Cha con tên thống lí và lũ tay sai là hiện thân của giai
cấp thống trị tàn ác, vô nhân đạo. Bọn lý dịch, quan làng, thống quản... lợi


dụng chuyện A Phủ đánh A Sử để kéo đến nhà thống lí xử kiện và ăn cỗ
“suốt từ trưa cho đến hết đêm". Mấy chục người “hút thuốc phiện rào rào”.
Cứ mỗi đợt chúng hút xong A Phủ lại phải quỳ ra giữa nhà để người nhà
thống lí xô đến đánh: “cứ như thế suốt chiều, suốt đêm, càng hút càng tỉnh,
càng đánh càng chửi, càng hút..".
Giá trị hiện thực của truyện ngoài việc tái hiện đoạn đời khô ải của
những người nô lệ còn nói lên một sự thật xót xa: người dân bị áp bức, đè
nén quá lâu sẽ bị tê liệt tinh thần phản kháng, sẽ bị đầu độc bởi tâm lí nô lệ.
Bạo lực cấu kết với thần quyền, với mê tín dị đoan làm cho họ không cất đầu
dậy nổi.
Nhưng trong cuộc đời, mọi cái đều có giới hạn. Có áp bức, có đấu
tranh Mị và A Phủ cũng như bao người khác sẽ vùng lên tự giải phóng,
giành quyền làm người tự do. Đoạn đời sau cùa vợ chồng A Phủ chứng minh
qua luật muôn đời ấy.
Trong giá trị hiện thực của tác phẩm đã ẩn chứa giá trị nhân đạo
sâu xa. Có căm thù giai cấp thông trị và xã hội bất công, tác giả mới lên
tiếng tố cáo mãnh liệt. Có cảm thương số phận đau khổ của con người, tác
giả mới viết nên những trang sách gây xúc động mạnh mẽ như vậy.
Nhưng nhà văn không để nhân vật của mình bị dồn vào thế tuyệt
vọng. Điều kì diệu là dẫu trong cùng cực thế nào chăng nữa thì mọi thế lực

quyền sống và quyền làm người của mình, phản kháng áp bức, bất công
giành lấy tự do và hạnh phúc, xây dựng một cuộc sống có ý nghĩa. Cùng với
nhân vật A Phủ, ta thấy rõ nhân vật Mị là “con người thức tỉnh giàu ý nghĩa
nhân văn.
Cuộc đời Mị đầy bi kịch. Mị xinh đẹp, thổi sáo hay, nhiều chàng trai Mèo
mê “ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị”. Nhưng hạnh phúc tuổi xuân khônp
đến với người con gái đáng thương này. Mẹ Mị đã mất. Nhà nghèo, bố Mị
đã già món nợ truyền kiếp mỗi năm phải đem nộp lãi cho chủ nợ một nương
ngô đã trở thành sợi dây oan nghiệt đối với Mị. Mị đã bị A Sử (con trai
thống lí Pá Tra "cướp được” đem về cúng trình ma. Bố Mị chỉ còn biết cất
lời than trong nước mắt: “Chao ôi! Thế là cha mẹ ăn bạc của nhà giàu từ
kiếp trước,giờ người ta bắt bán con trừ nợ. Không thể làm thể nào khác được
rồi!”.
Mị chịu kiếp con dâu gạt nợ đau khổ, túi nhục vô cùng. Đêm nào MỊ cũng
khóc tự thương cho số phận mình, Mị phải chết, Mị phải tự tử bằng lá ngón
hái được ở trong rừng - Hình ảnh Mị: “hai tròng mắt còn đỏ hoe”, quỳ lại, úp
mặt xuống đất, nức nở, hình ảnh bố Mị “cũng khóc” cất lời than... đã cho
thấy được bi kịch đầy nước mắt! Mị muốn ăn lá ngón tự tứ và Mị không cam
chịu kiếp nô lệ trong thân phận con dâu gạt nợ. Mị muốn được sống trong
một cuộc đời đáng sống, sống có ý nghĩa làm người. Sống trong nô lệ và tủi
nhục Ai tự tử còn hơn. Phán kháng ấy tuy tiêu cực, nhưng cho thấy Mị đã ý


thức về nhân phẩm của mình. Ý thức về nhân phẩm, phủ định thực tại đen
tối là biểu của con người thức tỉnh.
Mị muốn chết mà không chết được. Mị chết nhưng nợ quan vẫn còn, bố Mị
yếu quá rồi. Ai có thể làm nương ngô giả được nợ thống lí! Mị chỉ còn khóc.
Mị phải ném nắm lá ngón xuống đất. “Mị không đành lòng chết... còn phải
trở lại nhà thống lí”. Mị cam chịu kiếp nô lệ con dâu gạt nợ vì thương bố. Mị
hiếu thảo và giàu hi sinh biết bao!

Ta đi tìm người yêu...
Tiếng sáo lay gọi, thức tỉnh tâm hồn Mị. Mị lén lấy hũ rượu, “cứ uống ừng
ực từng bát". Uống cho tan nỗi hận! uống cho vơi đi bao đau khố chứa chất


trong lòng! Say “lịm mặt”, Mị “sống về ngày trước". Mị nhớ lại thời con gái,
Mị thổi sáo bao người mê. Tiếng sáo gọi bạn tình đã nhập vào hồn Mị, “tai
Mị văng vẳng tiếng sáo. Mị đã thật sự hồi sinh và hồi xuân. Mị tự ý thức là
“Mị trẻ lắm. Mị vẫn trẻ”. Mị cảm thấy “phơi phới”, trong lòng “đột nhiên
vui sướng” như những đêm Tết ngày trước thời con gái. Mị muốn đi chơi
Tết. Khao khát được sống trong tình yêu hạnh phúc như ngọn lửa bùng cháy
tâm hồn Mị.
Mị được thức tỉnh về cảnh ngộ. MỊ thấy vô lí, bất công đến tàn nhẫn đến cay
đắng. Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi ngày Tết. Mị với A Sứ “không
có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau!”. Thật là trớ trêu! Mị muốn ăn lá
ngón cho chết. Mị ứa nước mắt. Tiếng sáo gọi bạn yêu đang “lửng lơ bay
ngoài đường. Đó là tâm lí của Mị trong đêm tình mùa xuân. Tiếng sáo lay
tỉnh. Mị đang “vùng vẫy“ cố thoát cảnh ngộ đau khổ và tủi nhục!
Mị đã phản kháng, đã hành động. Mị xắn mỡ bỏ vào đĩa đèn cho sáng. Với
tay lấy váy hoa, rút thêm cái áo, quấn lại tóc. Mị “sắp đi chơi". Hành động
Mị ngang nhiên diễn ra trước mắt thằng A Sứ. Mị chẳng thèm trả lời câu hỏi
của hắn: “Mày muốn đi chơi à?”. Mị đã bị thằng A Sử trói vào cột buồng
bằng cả một thúng sợi đay. làm cho Mị “không cúi, không nghiêng đẩu được
nữa”. Mậc dù lúc mê lúc tinh, lúc khắp người “bị dây trói thít lại, đau nhức",
nhưng Mị vẫn “nồng nàn. tha thiết nhớ’, “vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo
những cuộc chơi, những đám chơi”. Điều đó cho thấy, Mị được thức tỉnh về
tình yêu, về hạnh phúc, khao khát của Mị rất mãnh liệt trong đêm tình mùa
xuân cho thấy ngòi bút phân tích tâm lí và hành động Mị, con người thức
tỉnh của Tô Hoài rất tinh tế, sâu sắc. Trang văn thấm đượm tinh thần nhân
văn cao cả.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status