MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề
3. Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
4. Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
6. Cấu trúc của luận văn
Chƣơng 1 : CÁC PHƢƠNG TIỆN GIAO TIẾP PHI NGÔN NGỮ
ĐƢỢC SỬ DỤNG TRONG MỘT SỐ TIỂU THUYẾT VÀ TRUYỆN
NGẮN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI NHÌN TỪ BÌNH DIỆN TÍN HIỆU HỌC
Một số vấn đề lí thuyết có liên quan
Phƣơng tiện giao tiếp phi ngôn ngữ nhìn từ phƣơng diện cái biểu hiện
(tức mặt hình thức của tín hiệu)
Phƣơng tiện giao tiếp phi ngôn ngữ nhìn từ phƣơng diện cái đƣợc biểu
hiện (tức mặt nội dung của tín hiệu)
Chƣơng 2: CÁC PHƢƠNG TIỆN GIAO TIẾP PHI NGÔN NGỮ
ĐƢỢC SỬ DỤNG TRONG MỘT SỐ TIỂU THUYẾT VÀ TRUYỆN
NGẮN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI NHÌN TỪ BÌNH DIỆN NGỮ DỤNG
HỌC
Một số vấn đề lí thuyết có liên quan
Phƣơng tiện giao tiếp phi ngôn ngữ xét từ phƣơng diện thể hiện hành
động ngôn trung (hành vi ở lời)
Phƣơng tiện giao tiếp phi ngôn ngữ xét từ phƣơng diện chủ thể sử dụng
Vietluanvanonline.com
Page 1
không phải là duy nhất. Trong nhiều hoàn cảnh
giao tiếp, đặc biệt là giao tiếp đƣơng diện (mặt
đối mặt), ngƣời ta có thể dùng các phƣơng tiện
nhƣ cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, hành động,…của
cơ thể, các tín hiệu màu sắc, âm thanh, các vật
thể để phụ trợ cho lời. Thậm chí các phƣơng
tiện phi ngôn ngữ này còn có khả năng dùng
độc lập để giao tiếp. Trong đó phổ biến nhất,
đƣợc sử dụng thƣờng xuyên nhất phải kể đến
là các cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, hành động…của
cơ thể.
Ngƣời ta đã gọi những phƣơng tiện giao
tiếp ngoài ngôn ngữ nhƣ trên bằng nhiều thuật
ngữ khác nhau nhƣ ngôn ngữ cử chỉ, ngôn ngữ
cơ thể (body languague), tín hiệu kèm ngôn
ngữ, ngôn ngữ cử chỉ điệu bộ, các phương tiện
á ngữ học,… Sau đây xin đƣợc gọi chúng là
các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ
(PTGTPNN) và sẽ luận giải tên gọi này rõ hơn
ở phần sau.
Các PTGTPNN đƣợc sử dụng đồng thời
với phƣơng tiện ngôn ngữ bằng lời trong giao
tiếp là hiện tƣợng có thật, hơn nữa còn rất phổ
biến và có vai trò quan trọng trong giao tiếp xã
Vietluanvanonline.com
Page 4
một
giờ
trò
chuyện, một ngƣời Phần
Lan chỉ sử dụng điệu bộ
có 1 lần, trong khi đó
ngƣời Italia dùng đến 80
lần, ngƣời Pháp 120 lần
và ngƣời Mêhicô 180
lần. Về vai trò của
PTGTPNN, Birdwhistell
đã phát hiện ra trong một
cuộc trò chuyện trực diện
thì yếu tố lời nói chiếm
chƣa đến 35% còn trên
65% là giao tiếp không
lời. Albert Maerabian,
một nhà nghiên cứu tiên
phong về ngôn ngữ cơ
thể vào thập niên 50 của
thế kỉ 20, đã nghiên cứu
và cũng đƣa ra những số
liệu đáng lƣu tâm: trao
đổi thông tin diễn ra qua
Vietluanvanonline.com
Page 5
phƣơng tiện ấy. Mặt khác, cũng bởi ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm văn chƣơng
chính là sự ánh xạ ngôn ngữ đời thƣờng. Nghiên cứu cử chỉ, điệu bộ…của nhân
vật trong tác phẩm văn chƣơng còn giúp thấy đƣợc vai trò của loại phƣơng tiện
giao tiếp đặc
biệt này trong việc khắc hoạ tính cách nhân vật của các nhà văn.
Với những lí do trên, chọn đề tài “Các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ
được sử dụng trong một số tiểu thuyết và truyện ngắn Việt Nam hiện đại” để
nghiên cứu thiết nghĩ là một công việc cần thiết và nên làm.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Nhƣ đã nói, PTGTPNN có vai trò vô cùng to lớn trong đời sống con ngƣời.
Lời nói bắt đầu đƣợc phát triển cách đây khoảng 500.000 đến 2 triệu năm, là
khoảng thời gian mà kích cỡ não bộ con ngƣời tăng gấp ba. Trƣớc đó, PTGTPNN
và những âm phát ra từ cổ họng là các phƣơng tiện chủ yếu để chuyển tải cảm xúc,
tình cảm. Điều đó có nghĩa, PTGTPNN là phƣơng tiện giao tiếp cổ xƣa nhất của
loài ngƣời. Tuy nhiên, sự nghiên cứu đầy đủ, nghiêm túc, mang tính hệ thống,
khoa học về loại phƣơng tiện này cũng mới chỉ đƣợc tiến hành vài chục năm trở
lại đây (kể từ thập niên 50 của thế kỉ 20) trong một số giáo trình và bài báo khoa
học, và đa số công chúng biết đến sự tồn tại của loại phƣơng tiện này chỉ mới từ
năm 1978, thời điểm Allan Pease xuất bản cuốn sách Ngôn ngữ cơ thể.
Có thể điểm qua một số công trình, các bài nghiên cứu của tác giả trong và
ngoài nƣớc về đối tƣợng nghiên cứu này.
Các công trình, các bài nghiên cứu của tác giả trong và ngoài nƣớc
2.1.1.Các tác giả trong nƣớc
PTGTPNN đã đƣợc thừa nhận bên cạnh phƣơng tiện giao tiếp chính là ngôn ngữ
trong các giáo trình nghiên cứu về ngôn ngữ học.
Các giáo trình phong cách học tiếng Việt và ngữ dụng học chính thức thừa
nhận sự tồn tại của các PTGTPNN (mà các tác giả gọi bằng thuật ngữ khác nhau)
bên cạnh ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp.
có thể dùng âm thanh, ngữ điệu dùng văn tự, do đó không có
biểu hiện
gắn liền với vẻ mặt, cử chỉ, khả
dáng điệu của ngƣời nói
năng
sử
dụng
các
PTGTPNN .
Nhƣ vậy, đề cập đến các phƣơng tiện biểu hiện của phong cách nói, các nhà
phong cách học thừa nhận có loại phƣơng tiện là vẻ mặt, cử chỉ, dáng điệu,... –
PTGTPNN. Không chỉ thừa nhận sự tồn tại của PTGTPNN, các nhà phong cách
học còn nhấn mạnh đến ý nghĩa và vai trò quan trọng của loại phƣơng tiện này
trong hoạt động giao tiếp.
Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa: “Muốn nói tốt, không những phải biết
suy nghĩ tốt mà còn phải biết cách sử dụng lời nói với cách phát âm đúng và rõ kết
hợp với ngữ điệu, nét mặt, cử chỉ, dáng điệu để ngƣời nghe có thể hiểu ngay, hiểu
hết ý tứ mình. Còn muốn nghe tốt thì cần phải biết tổng hợp ý nghĩa của lời nói với
sắc thái cảm xúc, bình giá thông qua ngữ điệu, nét mặt, cử chỉ, dáng điệu của
ngƣời nói để có thể hiểu hết ngay, hiểu hết tình ý của ngƣời nói” [7,tr.45].
Hồ Lê: “Ngôn hiệu (điệu bộ, cử chỉ, nét mặt, ánh mắt…) là yếu tố không thể
thiếu trong phong cách nói”, “Ngôn hiệu có tác dụng phối hợp với lời để diễn đạt ý
Những cử chỉ điệu bộ và những phƣơng tiện phi ngôn ngữ nói chung kèm theo lời
đƣợc gọi là ngôn hiệu, là 1 trong 7 thành tố của ngữ huống phát ngôn. Trong quá
trình tƣơng tác hội thoại những ngƣời đối thoại có thể tác động lẫn nhau bằng lời,
bằng cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, bằng thái độ khi nói năng và bằng bối cảnh - điều
kiện, không khí đƣợc tạo ra cho sự đối thoại. Trong số này, nội dung của
lời
thƣờng đƣợc coi là phƣơng tiện/công cụ tƣơng tác quan trọng nhất. Nhƣng trong
thực tế không nhất thiết luôn luôn nhƣ thế. Mà có khi, những phƣơng tiện/công cụ
khác lại tỏ ra quan trọng hơn. Thí dụ, cũng là câu nói “Mời anh sang nhà tôi chơi”
nhƣng kết hợp với cử chỉ, điệu bộ, nét mặt có ý mỉa mai hay không chân thành thì
nội dung câu nói tất bị hiểu khác hẳn [8,tr.112, 113].
Do vậy, Hồ Lê khẳng định: “Văn hóa giao tiếp – mà phép lịch sự trong giao
tiếp là một biểu hiện – đòi hỏi sự nhất quán giữa nội dung của lời và các phƣơng
tiện/công cụ khác đi kèm theo. Nếu không có sự nhất quán đó, thậm chí có sự
ngƣợc chiều nhau, thì nội dung hàm ẩn của lời đƣợc phát ra sẽ khác hay sẽ trái
ngƣợc hẳn với nội dung hiển hiện của lời. Lúc ấy, văn hóa giao tiếp sẽ bị vi phạm”
[ 8,tr.114].
Tiếp tục bàn về nghi thức ngôn giao, Hồ Lê còn nói rõ thêm: “Cử chỉ, điệu
bộ, nét mặt có khả năng biểu hiện trực tiếp nghi thức ngôn giao. Nhìn vào cử chỉ,
điệu bộ, nét mặt ngƣời ta thấy ngay nghi thức ngôn giao mà những ngƣời giao tiếp
đã sử dụng với nhau ngụ ý điều gì. Coi trọng hay coi thƣờng, lễ độ với nhau hay xấc
xƣợc, yêu mến hay ghét bỏ, thành thật hay mỉa mai, châm biếm” [8,tr 260, 261].
Nhƣ vậy, trong các giáo trình nghiên cứu về ngôn ngữ học đã dẫn,
PTGTPNN chính thức đƣợc thừa nhận và bƣớc đầu đƣợc xem xét về ý nghĩa, vai
trò của chúng. Đây là cơ sở khoa học quan trọng để tiến hành nghiên cứu về loại
phƣơng tiện giao tiếp này.
hãy ở lại!”), để đạt tới tính một nghĩa trong giao tiếp (khi lời nói đa nghĩa), và để
truyền đạt thông tin đến đối tƣợng khác (nói với ngƣời này nhƣng lại nháy mắt
với ngƣời kia).
Bên cạnh những vai trò trên, ở chức năng kèm lời, tác giả đã phân tích thêm:
Cử chỉ điệu bộ còn có vai trò liên kết hành động giao tiếp (bổ sung hay giải thích
các thời điểm im lặng trong cuộc thoại), duy trì mối quan hệ giữa những ngƣời
tham gia hội thoại, điều chỉnh dòng ngữ lƣu để phân đoạn thông báo (ví dụ vung
tay để tách thông báo thành từng điểm riêng biệt) và gánh tải lƣợng lớn tình thái và
cảm xúc của ngƣời nói.
- Về bản chất: Cũng giống nhƣ ngôn ngữ, theo tác giả, cử chỉ điệu bộ mang
bản chất tín hiệu, có hai mặt hình thức và nội dung – ý nghĩa. Mối quan hệ giữa hai
mặt này có thể là 1:1 nhƣng cũng có khi không phải nhƣ vậy. Cử chỉ điệu bộ cũng
có tính đồng nghĩa (nhiều cử chỉ điệu bộ cùng biểu thị một nội dung ý nghĩa) và đa
nghĩa (một cử chỉ điệu bộ có thể biểu thị nhiều ý nghĩa khác nhau).
- Về đặc tính văn hoá: Tác giả cũng chú ý tới đặc tính văn hóa của cử chỉ
điệu bộ và lƣu ý mọi ngƣời hãy chú ý sử dụng cử chỉ điệu bộ sao cho bảo đảm
đƣợc tính văn hóa, và phải phù hợp với văn hóa giao tiếp của từng cộng đồng ngôn
ngữ khác nhau.
b. Đồng quan điểm với Phi Tuyết Hinh, Thục Khánh trong bài viết “Bước
đầu tìm hiểu giá trị thông báo của cử chỉ điệu bộ của người Việt trong giao tiếp”
[6] cũng khẳng định vai trò và ý nghĩa quan trọng của loại phƣơng tiện giao tiếp cử
chỉ điệu bộ: “Ngoài ngôn ngữ âm thanh, con ngƣời còn dùng nhiều hệ thống tín
hiệu phi lời hay còn gọi là ngôn ngữ không lời (neverbal’nyj jazyk) (silent
languague) để tiến hành hoạt động giao tiếp của mình. Trong nói năng, đặc biệt là
trong đối thoại, ngôn ngữ và cử chỉ điệu bộ nhƣ hai mặt của một chỉnh thể giao
tiếp”.
Tác giả Thục Khánh cũng đề cập đến hai chức năng cơ bản của cử chỉ điệu
bộ là chức năng thay lời và chức năng trợ lời.
- Khoảng cách trong giao tiếp – một đặc điểm của ngôn ngữ cử chỉ, thuộc
phạm trù “không gian cá nhân” - phụ thuộc vào tuổi tác (ví dụ ngƣời lớn có thể
xoa đầu một em bé vì lãnh địa của em bé còn nhỏ, nhƣng dù là cán bộ cao cấp thì
cũng không thể xoa đầu một cụ già 80 tuổi), phụ thuộc vị thế xã hội (vị thế xã hội
càng cao thì lãnh địa càng lớn), phụ thuộc quan hệ thân sơ giữa những ngƣời đối
thoại, phụ thuộc địa phƣơng và văn hóa của từng dân tộc (khoảng cách trong giao
tiếp của ngƣời châu Á khác với ngƣời châu Âu,…)
d. Năm 2005, tác giả Trần Thị Nga đã tiến hành một đề tài khoa học nghiên
cứu một cách khá hệ thống về một lọai PTGTPNN mà tác giả gọi là ngôn ngữ cử
chỉ, đó là “Nghiên cứu đặc điểm văn hóa ngôn ngữ cử chỉ của người Việt” [9].
Trong công trình này, tác giả đã tìm hiểu ngôn ngữ cử chỉ dƣới lí thuyết của tín
hiệu học, lí thuyết giao tiếp và ngữ dụng học để thấy đƣợc bản chất tín hiệu của
ngôn ngữ cử chỉ, tính đồng nghĩa, đa nghĩa, đơn nghĩa của cử chỉ; thấy đƣợc ý
nghĩa cử chỉ trong việc biểu thị các hành vi ngôn ngữ. Đóng góp lớn của đề tài là
đã mô tả và thiết lập đƣợc hệ thống danh sách ngôn ngữ cử chỉ của ngƣời Việt dựa
trên những quan sát trong thực tiễn hoạt động giao tiếp và dựa trên những cứ liệu
trong các tác phẩm văn học, đồng thời so sánh khái quát sự tƣơng đồng và dị biệt
giữa cử chỉ của ngƣời Việt với ngƣời Anh, ngƣời Nga.
Những thành tựu nghiên cứu của những nhà khoa học nƣớc ta về PTGTPNN
rất đáng trân trọng, đã tạo tiền đề lí thuyết cơ bản cho luận văn tiếp tục tìm hiểu về
vấn đề này.
Các tác giả nƣớc ngoài.
Có khá nhiều tác giả nƣớc ngoài quan tâm đến PTGTPNN là cử chỉ điệu bộ,
đã trình bày những ý tƣởng của mình trong các bài báo khoa học hay các công
trình viết về ngôn ngữ cơ thể - ngôn ngữ cử chỉ trong văn hóa giao tiếp.
a. J.Vendryes (1990) cho rằng: “Có thể đƣa ra một định nghĩa chung nhất
cho ngôn ngữ. Ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu”, và “nên hiểu kí hiệu là bất kì
phù hiệu nào mà con ngƣời có thể dùng để giao tiếp qua lại với nhau”. Do vậy,
nghĩa, cách thức, tính văn hóa của các cử chỉ điệu bộ khi giao tiếp nhƣ:
Cuốn sách hoàn hảo về ngôn ngữ cơ thể (2008)- Allan và Barbara Pease.
Cử chỉ - những điều nên làm và nên tránh trong ngôn ngữ chỉ khắp thế giới–
Roger E.Axtell.
Ngôn ngữ cơ thể - Julias Fast.
Đánh giá kết quả nghiên cứu của những ngƣời đi trƣớc và những vấn đề còn
bỏ ngỏ
Tuy mới đƣợc quan tâm nghiên cứu vài chục năm gần đây song những
nghiên cứu về ngôn ngữ cử chỉ cũng rất đáng kể. Có thể tóm tắt nhƣ sau:
- Các tác giả đều thừa nhận có sự tồn tại thƣờng xuyên của loại PTGTPNN
(ngôn ngữ cử chỉ điệu bộ, ngôn ngữ không lời, ngôn ngữ thị giác,…) bên cạnh
ngôn ngữ trong giao tiếp.
- Bƣớc đầu chỉ ra chức năng cơ bản của PTGTPNN trong hoạt động giao
tiếp cũng nhƣ vai trò thông tin của nó.
- Phân tích đƣợc bản chất tín hiệu của PTGTPNN, những yếu tố ảnh hƣởng,
chi phối việc sử dụng loại phƣơng tiện giao tiếp này trong hoạt động giao tiếp.
- Thiết lập đƣợc hệ thống danh sách ngôn ngữ cử chỉ của ngƣời Việt. Bƣớc
đầu chỉ ra ý nghĩa biểu hiện của chúng trên phƣơng diện tín hiệu học và ngữ dụng
học.
- Phần nào chỉ ra đƣợc sự khác nhau giữa các PTGTPNN dùng trong mỗi
quốc gia, dân tộc, mỗi nền văn hóa.
Một số vấn đề chƣa đƣợc xem xét hoặc xem xét chƣa kĩ nhƣ sau:
- Các tác giả chủ yếu xem xét PTGTPNN là các cử chỉ, điệu bộ, nét mặt –
mà chƣa quan tâm nhiều đến các yếu tố nhƣ sự thay đổi không gian tƣơng tác
giữa các nhân vật giao tiếp, các hành động nhân vật sử dụng trong quá trình giao
tiếp,... cũng có giá trị thông tin và chức năng trợ lời .
- Các tác giả chƣa đặt những PTGTPNN là cử chỉ, điệu bộ,… vào những
hoàn cảnh giao tiếp cụ thể để chỉ ra những sắc thái biểu cảm và nội dung thông tin
thể loại
Năm
sáng tác
Giông tố
tiểu thuyết
1936
Số đỏ
tiểu thuyết
1936
Chí Phèo
tiểu thuyết
1941
Lão Hạc
truyện ngắn
1943
9.
Mùa lá rụng trong vườn
tiểu thuyết
1985
Đám cưới không có giấy giá thú
tiểu thuyết
1988
Chiếc thuyền ngoài xa
truyện ngắn
1987
Nỗi buồn chiến tranh
tiểu thuyết
1987 (?)
2.
Vũ Trọng Phụng
điệu bộ, hành động,… của các nhân vật trong quá trình giao tiếp.
4. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Mục đích nghiên cứu
Luận văn sẽ chỉ ra những đặc tính, ý nghĩa của PTGTPNN đƣợc miêu tả
trong các tác phẩm văn học và từ đó phát hiện dụng ý nghệ thuật của nhà văn khi
“gán cho” nhân vật các PTGTPNN ở những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu những khía cạnh lí thuyết làm cơ sở lí luận cho đề tài và xác định
đối tƣợng nghiên cứu.
- Chỉ ra các biểu hiện của PTGTPNN đƣợc sử dụng trong các tiểu thuyết và
truyện ngắn Việt Nam hiện đại đã đƣợc chọn là đối tƣợng nghiên cứu.
- Miêu tả, phân tích, đánh giá những biểu hiện của PTGTPNN đã thu thập
đƣợc.
- Chỉ ra những dụng ý nghệ thuật chính của các nhà văn khi miêu tả các
PTGTPNN của nhân vật trong tác phẩm của mình.
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phƣơng pháp miêu tả: Việc phân tích và tổng hợp nhằm chỉ ra các đặc
trƣng trong sử dụng PTGTPNN ở tác phẩm văn chƣơng
- Phƣơng pháp thống kê – phân loại: Phân loại PTGTPNN theo tiêu chí
nhất định, thống kê cụ thể các PTGTPNN trong một số trƣờng hợp cần thiết phục
vụ cho mục đích nghiên cứu
6. DỰ KIẾN ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Về mặt lí luận:
Luận văn khẳng định thêm về sự phong phú, đa dạng và hiệu quả sử dụng
của PTGTPNN. Góp phần làm sáng tỏ hơn nữa PTGTPNN của ngƣời Việt về
phƣơng diện lí thuyết cũng nhƣ thực hành.
- Về mặt thực tiễn:
+ Luận văn có thể làm tƣ liệu tham khảo cho những ai muốn tìm hiểu
này (nhƣ điệu bộ, vận động của tay, chân, nét mặt, tƣ thế, khoảng cách,…) chứ
chƣa đƣa ra một sự xác định đủ rõ cho khái niệm này.
Trong cuốn “Đại cương về ngôn ngữ học” [1], ở phần “Ngữ dụng học” Đỗ
Hữu Châu quan niệm “yếu tố kèm lời” và “yếu tố phi lời” là những tín hiệu thƣờng
xuất hiện cùng yếu tố ngôn ngữ trong những cuộc đối thoại và hiểu chúng nhƣ sau:
- Yếu tố kèm lời (paraverbal) là những yếu tố siêu đoạn tính nhƣng đi kèm
với yếu tố đoạn tính, đó là những yếu tố nhƣ ngữ điệu, trọng âm, cƣờng độ, độ dài,
đỉnh giọng.
- Yếu tố phi lời (non verbal) là những yếu tố không phải là những yếu tố kèm
lời đƣợc dùng trong đối thoại mặt đối mặt, đó là những yếu tố cử chỉ, khoảng
không gian tƣơng tác, những tiếp xúc cơ thể, tƣ thế cơ thể, định hƣớng cơ thể, vẻ
mặt, ánh mắt,… Đó còn là những tín hiệu âm thanh nhƣ tiếng gõ, tiếng kéo bàn, xô
ghế, tiếng huýt sáo, tiếng còi,… Những yếu tố trang phục, không gian thoại trƣờng
cũng thuộc những yếu tố phi lời. Tác giả còn gọi đây là những “tín hiệu phi lời” và
nói rõ thêm:
+ Các yếu tố cơ thể - vận động đƣợc tiếp nhận bằng thị giác là những tín
hiệu xuất hiện trong hội thoại nhƣ: sự thay đổi cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, sự thay đổi
khoảng cách (không gian tƣơng tác), tƣ thế của những ngƣời trò chuyện trong quá
trình giao tiếp.
+ Các yếu tố tĩnh nhƣ diện mạo, trang phục…cung cấp thông tin về giới
tính, tuổi tác, dân tộc, thành phần xã hội, tính cách (“trông mặt mà bắt hình dong”)
của ngƣời đối thoại. Những thông tin này bƣớc đầu tạo ra thiện cảm hay gây ác
cảm ở ngƣời đối thoại. Những tín hiệu cung cấp thông tin về thoại trƣờng làm
thành điều kiện tiên khởi cho hội thoại.
Theo Đỗ Hữu Châu, những yếu tố phi lời cũng là một loại tín hiệu có
mặt trong các cuộc đối thoại, dùng làm phƣơng tiện giao tiếp, bên cạnh tín hiệu
ngôn ngữ.
Trong công trình “Nghiên cứu đặc điểm văn hóa ngôn ngữ cử chỉ của người
ngƣời tiếp nhận một giá trị thông báo thay lời hoặc một giá trị thông báo bổ sung,
kèm lời.
Xin đƣợc làm rõ định nghĩa trên nhƣ sau:
a. Các tín hiệu cơ thể - vận động (xin đƣợc gọi sự thay đổi các cử chỉ, điệu
bộ, tƣ thế, khoảng cách,... nhân vật tạo ra trong quá trình giao tiếp là các tín hiệu
hay các yếu tố cơ thể - vận động nhƣ cách gọi của Đỗ Hữu Châu) đƣợc hiểu là
những vận động do các bộ phận cơ thể con ngƣời tạo ra trong quá trình giao tiếp,
có thể đƣợc tiếp nhận bằng thị giác, thính giác hay xúc giác. Tóm lại, đây là loại
phƣơng tiện xét trong sự đối lập với ngôn ngữ lời nói. Đó có thể là:
+ Những cử chỉ, điệu bộ, hành động, động tác con ngƣời tạo ra trong
quá trình hội thoại nhƣ: nháy mắt, cười, cau mày, nhăn trán, vỗ tay, vung tay,
đánh, đấm, tát,…
+ Những sự thay đổi về khoảng cách, tƣ thế của ngƣời tham gia hội
thoại - những yếu tố thuộc về không gian tƣơng tác nhƣ: đang ngồi bỗng đứng
phắt dậy, đang nằm bỗng bật dậy, tiến lại gần/lùi ra xa người đối thoại,...
b. Các yếu tố cơ thể - vận động ấy có thể do con ngƣời cố ý hoặc không cố
ý tạo ra trong quá trình giao tiếp nhƣng có giá trị bổ sung cho lời.
Nhƣ vậy khái niệm PTGTPNN ở đây được quan niệm rộng, gồm cả những
tín hiệu cơ thể - vận động do con ngƣời chủ động (cố ý) tạo ra để làm phƣơng tiện
giao tiếp, chẳng hạn nhƣ gật đầu (đồng ý), lắc đầu (không đồng ý), bĩu môi (mỉa
mai),... – ý nghĩa của chúng đƣợc nhận ra ngay cả khi không có lời nói đi kèm, và
cả những yếu tố cơ thể - vận động vô ý thức của nhân vật nhƣng mang lại cho
ngƣời tiếp nhận (ngƣời đối thoại) một giá trị thông báo nào đó. Giá trị thông báo
ấy đƣợc ngƣời nghe suy ra từ thói quen, kinh nghiệm giao tiếp và bằng sự am hiểu
về văn hoá giao tiếp của cộng đồng. Cũng đƣợc xem xét là cả những yếu tố cơ thể
- vận động vô ý thức bởi nghiên cứu trên tƣ liệu là các tác phẩm văn chƣơng thì
những cử chỉ, điệu bộ, hành động ấy có thể là vô ý thức với nhân vật - chủ thể của
hành động nhƣng không vô thức với nhà văn, và nhà văn miêu tả chúng trong tác
Luận bắt gặp đánh máy thuê trong giờ làm việc.
Việc phân biệt các cử chỉ, điệu bộ là do cố ý hay không cố ý tạo ra đôi lúc
không phải là dễ dàng. Cần nắm vững hoàn cảnh giao tiếp và thói quen giao tiếp,
tính cách nhân vật giao tiếp mới phân biệt đƣợc những cử chỉ điệu bộ này.
e. Thiết nghĩ, việc phân biệt các yếu tố cơ thể - vận động là cố ý hay không
không thật quan trọng bằng việc xét xem chúng có tạo ra đƣợc một giá trị thông
báo nào đó cho ngƣời tiếp nhận hay không. Khả năng đem lại giá trị thông báo là
đặc tính quan trọng khiến các yếu tố cơ thể - vận động có thể trở thành phương
tiện giao tiếp. Giá trị thông báo của PTGTPNN này có thể là do ngƣời nói cố tình
gửi tới ngƣời nghe, hoặc cũng có thể do ngƣời nói vô tình biểu lộ qua các cử chỉ
điệu bộ của mình. Giá trị thông báo đó có thể là thay lời hoặc bổ sung cho lời.
VD4: “- Thôi thì ác cũng đƣợc! Anh cứ trả lời thế đi!
San bàn nhƣ vậy bằng một giọng đùa. Thứ lắc đầu, cười. Cả hai cùng cho
rằng chẳng khi nào họ hèn đến nỗi dám dùng cái lối vừa bàn” [32,tr.227].
Cử chỉ lắc đầu, cười của nhân vật Thứ có giá trị thay lời. Đó là một lời từ
chối đề nghị của San, đồng thời Thứ cũng hiểu ý đồ đùa cợt của bạn.