UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
TRƯỜNG CHÍNH TRỊ
Lớp Bồi dưỡng kiến thức Quản lý nhà nước chương trình chuyên viên - K24
TIỂU LUẬN
TÌNH HUỐNG QUẢN LÝ
Tên tình huống:
Xử lý vi phạm hành chính về khai thác khoáng sản trái phép tại
xã Thượng Ân, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn
1
Người thực hiện: Đinh Thu Trang
Chức vụ: Chuyên viên
Đơn vị công tác: Uỷ ban MTTQ huyện Ngân Sơn
BẮC KẠN - 07/2012
UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
TRƯỜNG CHÍNH TRỊ
Lớp Bồi dưỡng kiến thức Quản lý nhà nước chương trình chuyên viên - K24
TIỂU LUẬN
TÌNH HUỐNG QUẢN LÝ
Tên tình huống:
Xử lý vi phạm hành chính về khai thác khoáng sản trái phép tại
phép tại xã Thượng Ân, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn”. Nhằm phân tích tình
huống, tìm ra và lựa chọn phương án xứ lý tối ưu nhất đảm bảo sự nghiêm minh
của pháp luật nhưng cũng đồng thời hợp tình, hợp lý trong điều kiện tình hình
kinh tế xã hội của nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Do bài viết được thực hiện trong một thời gian có hạn, tính phức tạp của
tình huống có liên quan đến nhiều vấn đề trong xã hội và bài viết còn mang tính
chủ quan của người viết nên có thể không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất
mong nhận được sự đóng góp ý kiến chân thành của quý thầy cô và những người
đã và đang quan tâm đến công tác Quản lý nhà nước về Tài nguyên và môi
trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn các cấp lãnh đạo, Ban Giám hiệu nhà trường,
quý thầy cô đã quan tâm truyền đạt nhiều kiến thức bổ ích từ khoá học, đặc biệt
là thầy Lưu Ngọc Tâm đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành tiểu luận
này.
Một lần nữa tôi xin cảm ơn Cô giáo chủ nhiệm, Ban cán sự lớp và các anh
chị học viên lớp chuyên viên K24-2012 đã quan tâm giúp đỡ và chia sẻ kinh
nghiệm trong quá trình học tập./.
4
I. MÔ TẢ TÌNH HUỐNG
- Hoàn cảnh ra đời tình huống
Khoảng 20 giờ ngày 09/11/2011 Đoàn kiểm tra của Thường trực UBND
huyện cùng với lãnh đạo Phòng Tài nguyên & Môi trường huyện Ngân Sơn kiểm
tra đột xuất việc khai thác khoáng sản trái phép tại xã Thượng Ân, qua kiểm tra
đã phát hiện tại cánh đồng Nà Sào, thôn Bản Slành, xã Thượng Ân, huyện Ngân
Sơn có 04 máy xúc đang hoạt động, khi thấy đoàn kiểm tra đến, các lái máy xúc
2. Ông: Chu Đình Dương trú tại Nà Hin, xã Thượng Ân là chủ sở hữu
chiếc máy xúc nhãn hiệu DAEWOO SOLAR 220-II; ông Tạ Văn Thanh trú tại
Sơn Động, Tân Minh, Sóc Sơn, Hà Nội là chủ sở hữu chiếc máy xúc nhãn hiệu
DAEWOO SOLAR 280 LC-II và ông Tài đã cho ông Dương thuê chiếc máy này
(có hợp đồng kinh tế). Ngày 02/11/2011 ông Dương đã cho bà Nông Thị Tuyết
trú tại thôn Bản Slành, xã Thượng Ân thuê 02 máy xúc nêu trên để đào đất, xây
kè bờ ruộng chắn nước lũ (có hợp đồng kinh tế, nhưng không có xác nhận của
UBND xã).
Ngày 09/11/2011 ông Phương và bà Tuyết đã cho 04 người (là con, cháu)
dùng máy xúc và các phương tiện gồm: 05 máy nổ, 01 giàn tuyển, 04 củ sên + 06
vòi nước đến cánh đồng Nà Sào, Bản Slành để đào đất xây kè bờ ruộng kết hợp
6
với khai thác khoáng sản vàng trái phép mà ông Cầm và ông Dương không được
biết. Qua xác minh làm rõ một số nội dung liên quan ông Phương và bà Tuyết đã
thừa nhận hành vi đứng ra tổ chức khai thác khoáng sản trái phép tại cánh đồng
Nà Sào, thôn Bản Slành, Thượng Ân (được biết trước đó vào ngày 20/10/2011
hai hộ gia đình là ông Triệu Văn Phương và bà Nông Thị Tuyết trình đơn xin
đào bờ ruộng để xây kè chắn lũ nhưng Uỷ ban nhân dân xã Thượng Ân chưa
nhất trí với lý do tình hình khai thác khoáng sản trái phép đang diễn biến phức
tạp nên tạm thời chưa xác nhận).
Sau khi xác định được người tổ chức khai thác vàng trái phép, phòng Tài
nguyên & Môi trường đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực
khoáng sản đối với ông Triệu Văn Phương và bà Nông Thị tuyết trú tại thôn Bản
Slành, xã Thượng Ân, huyện Ngân Sơn. Đồng thời ra quyết định tạm giữ tang
vật, phương tiện vi phạm hành chính theo quy định.
- Kết thúc tình huống
Hành vi tổ chức khai thác khoáng sản vàng của ông Triệu Văn Phương, bà
Nông Thị Tuyết tại cánh đồng Nà Sào, thôn Bản Slành, xã Thượng Ân, huyện
2. Xử phạt bổ sung: Tịch thu sung công quỹ nhà nước toàn bộ tang vật,
phương tiện khai thác khoáng sản vàng trái phép gồm: 04 máy xúc, trong đó 01
máy hiệu SOLAR 200; 01 máy SOLAR 220; 01 máy HITACHI EX 200; 01 máy
DAWOO; 05 máy nổ Trung Quốc; 06 vòi hút nhựa; 04 củ sên sắt; 01 giàn tuyển.
Tuy nhiên, sau đó ông Nguyễn Duy Cầm (chủ sở hữu của 02 máy xúc: 01
máy nhãn hiệu HYTACHI EX 200-1; 01 máy nhãn hiệu DAEWOO SOLAR 220
LC - III) không đồng ý với Quyết định tịch thu tang vật, phương tiện đã tham gia
vi phạm, vì vậy ông Cầm đã có khiếu nại và đề nghị UBND tỉnh xem xét trả lại
02 máy xúc cho ông. Bởi theo ông Cầm thì căn cứ vào khoản 2 Điều 17 Pháp
lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, thì trả lại tang vật phương tiện vi phạm
cho chủ sở hữu (với lý do: vì ông Triệu Văn Phương không phải là chủ sở hữu
8
của các phương tiện máy móc nêu trên mà chỉ là đi thuê mượn của người khác để
sử dụng vào việc khai thác khoáng sản trái phép mà chủ sở hữu không biết là bị
chiếm đoạt sử dụng trái phép).
II. PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG, NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ
1. Phân tích tình huống
Năm 2011, huyện Ngân Sơn là một trong những địa phương diễn ra nhiều
hoạt động thác khoáng sản trái phép, gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái,
đất sản xuất và an ninh trật tự trên địa bàn. Trước tình hình đó UBND huyện đã
chỉ đạo các phòng chuyên môn tăng cường công tác phối hợp kiểm tra, kiểm
soát; chỉ đạo các xã có hiện tượng khai thác vàng trái phép, đồng thời tăng cường
công tác tuyên truyền về Luật Khoáng sản, pháp luật của nhà nước về bảo vệ tài
nguyên, môi trường đến người dân ở địa phương...
Theo đó năm 2011, tổ công tác của UBND huyện đã tiến hành giải toả
việc khai thác vàng trái phép tại các xã Cốc Đán, Thượng Ân, Bằng Vân,
Thượng Quan, Hương Nê, Thuần Mang, Thị trấn Nà Phặc; tiến hành lập biên
bản phạm pháp quả tang, lập biên bản xử phạt hành chính và tạm giữ nhiều
khoáng sản trái phép trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn theo Quyết định số:
2693/2010/QĐ-UBND, ngày 10/12/2010 của UBND tỉnh Bắc Kạn vì vậy phải bị
tịch thu sung công quỹ Nhà nước theo quy định.
2. Nguyên nhân
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc khai thác vàng trái phép trên địa bàn
huyện, gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, đất sản xuất và an ninh trật tự
trên địa bàn, trong đó có thể xác định một số nguyên nhân khách quan và chủ
quan cơ bản sau:
2.1. Nguyên nhân khách quan: Do nhu cầu đời sống về vật chất của
người dân ngày càng cao, nguồn tài nguyên khoáng sản sẵn có (đất ruộng, đất
vườn và các vùng ven sông suối trên địa bàn một số xã đều có vàng), thêm vào
10
đó nhận thức về pháp luật của một số người dân còn hạn chế, chỉ nghĩ rằng việc
khai thác vàng trên đất ruộng của nhà mình là không vi phạm pháp luật.
2.2. Nguyên nhân chủ quan:
Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng hoạt động khai thác khoáng sản trái
phép là do cấp ủy, chính quyền địa phương chưa thực hiện tốt việc quán triệt,
tuyên truyền các quy định của Nhà nước về quản lý khoáng sản, lâm sản, bảo vệ
môi trường cho nhân dân; công tác quản lý Nhà nước và việc kiểm tra, xử lý vi
phạm trong hoạt động khoáng sản, lâm sản chưa kiên quyết.
Một số cấp ủy, chính quyền cấp xã thiếu tinh thần trách nhiệm, còn nể
nang, né tránh, ngại va chạm; các tổ công tác chưa thực hiện tốt chức năng,
nhiệm vụ được giao, còn đùn đẩy trách nhiệm, xử lý chưa chặt chẽ theo quy định
của pháp luật.
2. Hậu quả
Việc khai thác khoáng sản (vàng) không có giấy phép của 02 hộ: ông
Triệu Văn Phương, bà Nông Thị Tuyết và của các tổ chức cá nhân trong thời
gian gần đây là hành vi vi phạm pháp luật, gây hậu quả nghiêm trọng như sau:
các hành vi vi phạm pháp luật nói chung và việc khai thác khoáng sản trái phép
nói riêng.
2.5. Sự giảm sút pháp chế XHCN: Mặc dù trong thời gian qua cấp uỷ và
chính quyền các cấp đã chủ động phối hợp chặt chẽ với cơ quan chuyên môn tiến
hành kiểm tra quyết liệt để xử lý, ngăn chặn kịp thời các hoạt động khai thác
khoáng sản vàng trái phép trên địa bàn. Tuy nhiên, vì lực lượng tham gia trực
tiếp ngăn chặn việc đào vàng trái phép rất thiếu và mỏng (thậm chí một số công
an viên, dân quân tự vệ tại các thôn cũng đi đào khoáng sản trái phép), việc khai
thác vàng trái phép chủ yếu diễn ra vào ban đêm nên rất khó khăn trong việc
quản lý và giải quyết.
III. XÁC ĐỊNH MỤC TIÊU XỬ LÝ TÌNH HUỐNG
12
Đây là sự việc diễn ra ở hầu hết các huyện trong tỉnh, mục đích khai thác
vàng là để tận thu nguồn tài nguyên có sẵn tại địa phương, tạo nguồn thu nhập
cho người dân, góp phần xây dựng quê hương. Tuy nhiên, về góc độ quản lý nhà
nước thì việc làm trên đã vi phạm các quy định về quản lý hoạt động khoáng sản,
đặc biệt là việc khai thác vàng trái phép tràn lan, có quy mô, có tổ chức sẽ gây
nguy cơ đổi dòng chảy của các sông, suối, sạt lở các công trình thủy lợi, làm ô
nhiễm nguồn nước và đất canh tác sản xuất bị mất màu, bị thu hẹp, nguy hiểm
hơn là ảnh hưởng đến tài sản, tính mạng của người dân ở hai bờ sông khi mùa
mưa lũ đến.
Có thể xác định mục tiêu chung để giải quyết tình huống này là:
1. Giải quyết các vấn đề do tình huống đặt ra
- Phải đảm bảo xử lý nghiêm minh đối với những hành vi vi phạm trong
lĩnh vực khoáng sản, nhất là trong việc khai thác khoáng sản trai phép. Áp dụng
các hình thức xử phạt theo đúng Luật, đúng quy định, đúng đối tượng nhưng
đồng thời cũng đảm bảo tính công bằng và các yêu cầu, quyết định xử lý của cơ
quan cấp trên phải đảm bảo được thi hành trong thực tế.
trường, an toàn lao động trong hoạt động khoáng sản; bảo đảm an ninh, trật tự xã
hội tại các khu vực có khoáng sản;
- Giải quyết theo thẩm quyền các thủ tục giao đất, cho thuê đất, sử dụng cơ
sở hạ tầng và các vấn đề khác có liên quan cho tổ chức, cá nhân được phép thăm
dò, khai thác, chế biến khoáng sản tại địa phương theo quy định của pháp luật;
- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về khoáng sản; xử lý vi phạm
theo quy định của pháp luật.
3. Bảo vệ lợi ích chính đáng của tổ chức nhà nước, tổ chức xã hội và
của công dân
Đây là mục tiêu được xác định nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ việc
được hợp tình, hợp lý, giảm bớt nguy cơ người dân có thể tổ chức khai thác
14
khoáng sản trái phép tràn lan, dẫn đến xảy ra các "điểm nóng" như tương tự các
vụ việc ở xã Hương Nê, Thượng Quan, Thuần Mang, Cốc Đán trong thời gian
qua.
Để thực hiện được mục tiêu này, các cơ quan và cán bộ, công chức hành
chính có thẩm quyền cần phải nghiên cứu các chính sách của Nhà nước đối với
người dân và địa phương nơi có mỏ khoáng sản; các quy định phân cấp quản lý
nhà nước về tài nguyên khoáng sản cho địa phương các cấp, nhằm tuyên truyền
các quy định pháp luật về địa phương và nhân dân trong khu vực cùng phối hợp
với cơ quan nhà nước các cấp trong công tác quản lý nhà nước về khoáng sản.
Các mục tiêu trên có mối quan hệ chặt chẽ, biện chứng với nhau, không
thể vì đạt được mục tiêu này mà loại trừ mục tiêu khác. Trong đó, mục tiêu tăng
cường pháp chế XHCN, kỷ cương phép nước phải là mục tiêu hàng đầu, bắt
buộc phải thực hiện được.
IV. XÂY DỰNG VÀ LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN XỬ LÝ TÌNH
HUỐNG
1. Xây dựng phương án tình huống
10/5/2007 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định
150/2004/NĐ-CP, ngày 29/7/2004 của Chính phủ thì đối với những tang vật,
phương tiện được sử dụng để khai thác khoáng sản quý, hiếm sẽ bị tịch thu sung
công quỹ Nhà nước. Hơn nữa, vì trước khi đem máy xúc vào sử dụng tại địa bàn
xã Thượng Ân thì chủ máy xúc (ông Nguyễn Duy Cầm và ông Chu Đình Dương,
ông Tạ Văn Thanh) đã không đến đăng ký cam kết không tham gia khai thác
vàng trái phép trên địa bàn theo quy định là vi phạm tại Điều 5 của Quyết định
số 2693/2010/QĐ-UBND, ngày 10/12/2010 của UBND tỉnh Bắc Kạn quy định
về quản lý xe chuyên dùng và xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính
trong hoạt động khai thác khoáng sản trái phép trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn. Vì
16
vậy, việc tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm là hoàn toàn đúng quy định của
pháp luật.
1.2. Phương án II:
1. Xử phạt hành chính đối với ông Triệu Văn Phương, bà Nông Thị Tuyết
- trú tại thôn Bản Slành, xã Thượng Ân, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn vì hành
vi khai thác khoáng sản vàng trái phép với mức phạt: 70.000.000đ/người.
2. Trả lại tang vật, phương tiện vi phạm là 04 máy xúc cho chủ sở hữu là
ông Nguyễn Duy Cầm và ông Chu Đình Dương, ông Tạ Văn Thanh căn cứ vào
khoản 2 Điều 17 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002. Với lý do: vì
ông Triệu Văn Phương, bà Nông Thị Tuyết không phải là chủ sở hữu của các
phương tiện máy móc nêu trên mà chỉ là đi thuê mượn của người khác để sử
dụng vào việc khai thác khoáng sản trái phép mà chủ sở hữu không biết là bị
chiếm đoạt sử dụng trái phép.
* Ưu điểm: Việc xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Triệu Văn
Phương và bà Nông Thị Tuyết - trú tại thôn Bản Slành, xã Thượng Ân, huyện
Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn là người tổ chức hoạt động khai thác khoáng sản vàng
29/7/2004 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực khoáng sản và được sửa đổi bổ sung tại điểm đ, khoản 5, Điều 11 thuộc
khoản 3 Điều 1 Nghị định số 77/2007/NĐ-CP, ngày 10/5/2007 của Chính phủ thì
mức phạt tiền 70.000.000đ đối với ông Triệu Văn Phương và bà Nông Thị tuyết
là mức phạt trung bình của khung hình phạt, là hoàn toàn phù hợp và đúng quy
định.
Đối với việc tịch thu sung công quỹ Nhà nước toàn bộ các tang vật,
phương tiện vi phạm khai thác vàng trái phép là hoàn toàn đúng theo quy định
của pháp luật. Bởi vì: Căn cứ điểm c, khoản 5, Điều 11 Nghị định số
150/2004/NĐ-CP, ngày 29/7/2004 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm
18
hành chính trong lĩnh vực khoáng sản được sửa đổi, bổ sung tại điểm b, khoản 6,
Điều 11 thuộc khoản 3, Điều 1 của Nghị định số 77/2007/NĐ-CP, ngày
10/5/2007 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định
150/2004/NĐ-CP, ngày 29/7/2004 của Chính phủ thì đối với những tang vật,
phương tiện được sử dụng để khai thác khoáng sản quý, hiếm sẽ bị tịch thu sung
công quỹ Nhà nước. Hơn nữa, vì trước khi đem máy xúc vào sử dụng tại địa bàn
xã Thượng Ân thì chủ máy xúc (ông Cầm, ông Dương, ông Tài) đã không đến
đăng ký cam kết không tham gia khai thác vàng trái phép trên địa bàn theo quy
định là vi phạm tại Điều 5 của Quyết định số 2693/2010/QĐ-UBND, ngày
10/12/2010 của UBND tỉnh Bắc Kạn quy định về quản lý xe chuyên dùng và xử
lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính trong hoạt động khai thác khoáng
sản trái phép trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn. Vì vậy, việc tịch thu tang vật, phương
tiện vi phạm là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật.
Đây là quyết định đúng và phù hợp vì được áp dụng theo quy định của
pháp luật. Thể hiện rõ sự công bằng và nghiêm minh của pháp luật đối với
những hành vi vi phạm. Qua đó, góp phần đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả các
hành vi vi phạm pháp luật về tài nguyên và môi trường, nhất là đối hành vi khai
hành chính trong lĩnh vực khoáng sản.
Quyết định số 2693/2010/QĐ-UBND, ngày 10/12/2010 của UBND tỉnh
Bắc Kạn quy định về quản lý xe chuyên dùng và xử lý tang vật, phương tiện vi
phạm hành chính trong hoạt động khai thác khoáng sản trái phép trên địa bàn
tỉnh Bắc Kạn.
Ngày 10/01/2012 Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Kạn ra Quyết định số 83/QĐXPHC về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực khoáng sản đối với ông
Triệu Văn Phương, bà Nông Thị Tuyết trú tại thôn Bản Slành, xã Thượng Ân,
huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn như sau:
20
1. Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực khoáng sản đối với ông
Triệu Văn Phương, bà Nông Thị Tuyết trú tại thôn Bản Slành, xã Thượng Ân,
huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn
- Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền: 70.000.000đ/người. Vì hành vi khai
thác khoáng sản trái phép đã vi phạm khoản 4, Điều 11 Nghị định số
150/2004/NĐ-CP ngày 29/7/2004 của Chính Phủ quy định về xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực khoáng sản và được sửa đổi, bổ sung tại điểm đ, khoản
5, Điều 11 thuộc khoản 3, Điều 1 Nghị định số 77/2007/NĐ-CP ngày 10/5/2007
của Chính Phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 150/2004/NĐCP ngày 29/7/2004 của Chính Phủ.
- Hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu sung công quỹ nhà nước các tang
vật, phương tiện khai thác vàng trái phép gồm: 04 máy xúc, 01 giàn tuyển sắt, 05
máy nổ Trung Quốc, 04 củ sên + 6 vòi nước. Vì căn cứ điểm c, khoản 5, Điều 11
Nghị định số 150/2004/NĐ-CP ngày 29/7/2004 của Chính Phủ quy định về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực khoáng sản và được sửa đổi, bổ sung tại
điểm b, khoản 6, Điều 11 thuộc khoản 3, Điều 1 Nghị định số 77/2007/NĐ-CP
ngày 10/5/2007 của Chính Phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
150/2004/NĐ-CP ngày 29/7/2004 của Chính Phủ; Và căn cứ Điều 5 Quyết định
số 2693/2010/QĐ-UBND, ngày 10/12/2010 của UBND tỉnh Bắc Kạn về việc
Qua nghiên cứu vụ việc trên và tình hình thực tế tại địa phương, để quản
lý nhà nước tốt về tài nguyên khoáng sản và môi trường, tôi xin đưa ra một số
kiến nghị như sau:
- Đề nghị các cấp chính quyền có biện pháp mạnh hơn trong việc xử lý
ngăn chặn các hành vi vi phạm về khai thác vàng trái phép trên địa bàn huyện
Ngân Sơn. Tăng cường việc kiểm tra, giám sát cơ sở tại những địa điểm có vàng
tránh tình trạng khai thác tràn lan, công khai gây bức xúc trong thời gian qua.
22
- Cần tăng cường nhân lực về quản lý tài nguyên và môi trường ở cơ sở.
- Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về tài nguyên và
môi trường; thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật về tài
nguyên và môi trường của cấp dưới và các tổ chức, cá nhân; hướng dẫn, chỉ đạo
xử lý kịp thời các vụ việc vi phạm.
Trên đây là những nội dung về tình huống và phương pháp xứ lý tình
hưống xảy ra trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước mà tác giả
rút ra được trong quá trình công tác và học tập chương trình Bồi dưỡng kiến thức
Quản lý nhà nước ngạch chuyên viên năm 2012 do Trường Chính trị tỉnh Bắc
Kạn tổ chức. Do kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn có hạn, nên Tiểu luận này
không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong các thầy, cô giáo Trường Chính
trị tỉnh Bắc Kạn góp ý để tôi rút kinh nghiệm.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tài liệu bồi dưỡng quản lý hành chính nhà nước (chương trình chuyên
viên) do Học viện hành chính Quốc gia phát hành.
2. Luật Khoáng sản, số hiệu 2/1996/QHIX ngày 20/3/1996 và Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật khoáng sản ngày 14/6/2005.
3. Luật Bảo vệ môi trường, số hiệu 52/2005/QH11 ngày 12/12/2005.
4. Nghị định số: 150/2004/NĐ-CP ngày 29/7/2004 của Chính phủ quy