SangKienKinhNghiem.org
Tổng Hợp Hơn 1000 Sáng Kiến Kinh Nghiệm Chuẩn
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị: TRƯỜNG THPT KIỆM TÂN
Mã số:……………………….
TÊN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ
TRONG VIỆC GIẢNG DẠY TÁC PHẨM
TỰ SỰ ĐỂ PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC
CỦA HỌC SINH
Người thực hiện: ĐINH THỊ THÚY VUI
Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lý giáo dục
Phương pháp dạy học bộ môn
Phương pháp giáo dục
Lĩnh vực khác
Có đính kèm:
Mô hình
Phần mềm
Phim ảnh
Hiện vật khác
Năm học: 2011- 2012
: Giáo viên.
8. Đơn vị công tác
: Trường THPT Kiệm Tân-Thống Nhất-Đồng Nai.
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
1. Học vị
: Cử nhân Ngữ văn
2. Năm nhận bằng
: 2008.
3. Chuyên ngành đào tạo : Ngữ văn.
III. KINH NGHIỆM GIÁO DỤC
1. Lĩnh vực chuyên môn: giảng dạy môn Ngữ văn.
2. Số năm giảng dạy kinh nghiệm 4 năm.
GVTH: Đinh Thị Thúy Vui
3
MỤC LỤC
TRANG
MỤC LỤC TRANG.....................................................................................................4
TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................................................43
GVTH: Đinh Thị Thúy Vui
4
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ
TRONG VIỆC GIẢNG DẠY TÁC PHẨM TỰ SỰ ĐỂ PHÁT HUY
TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH
PHẦN MỞ ĐẦU
ĐẶT VẤN ĐỀ
Giáo dục mang một vị trí quan trọng trong việc xây dựng một xã hôi
phát triển vì vậy việc đổi mới phương pháp giáo dục để không ngừng nâng
cao đổi mới về mọi mặt.
Những năm gần đây, ngành giáo dục đã trải qua sự thay đổi quan trọng.
Từ đó nhiều phương pháp giáo dục cũng phải đổi mới. Chương trình giáo dục
phổ thông hiện hành đã nêu rõ: “phải phát huy tính tích cực, chủ động, tự
giác, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối
tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng học sinh phương pháp
tự học khả năng hợp tác rèn luyện kĩ năng vận dụng vào thực tiễn”. Tài liệu
hướng dẫn thực hiện chương trình, SGK môn Ngữ Văn lớp 12 đã giới thiệu
một số phương pháp dạy học theo định hướng tích cực như: thuyết trình, vấn
đáp, đàm thoại, phát hiện và giải quyết vấn đề………
Ngữ Văn là một trong những môn học chính trong nhà trường, được coi
là một môn nghệ thuật mang tính khoa học. Đó là một loại hình nghệ thuật
phản ánh chân thực cuộc sống bằng hình tượng thông qua ngôn ngữ, góp phần
bồi dưỡng lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, hình thành kĩ năng giao tiếp,
ứng xử làm phong phú tâm hồn và vẻ đẹp nhân cách. Những năm qua, ngành
giáo dục đã chỉ đạo việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các
môn học trong đó có môn Ngữ Văn. Giảng dạy môn Ngữ Văn nói chung
phát hiện và giải quyết vấn đề trong tác phẩm tự sự.
GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
- Phương pháp nêu vấn đề có thể vận dụng vào việc giảng dạy tác phẩm tự sự
cũng như trữ tình. Nhưng trong phạm vi tìm hiểu và thực tế giảng dạy.
Chuyên đề sáng kiến giới hạn trong việc “vận dụng phương pháp nêu vấn đề
trong việc giảng dạy tác phẩm tự sự” trong chương trình Ngữ Văn 12 để phát
huy tính tính cực chủ động của học sinh trong việc học tác phẩm tự sự nói
riêng và học bộ môn Ngữ Văn nói chung.
GVTH: Đinh Thị Thúy Vui
6
- Do nội dung khuôn khổ của sáng kiến, bản thân tôi không đi sâu vào việc
trình bày chi tiết lí thuyết về phương pháp nêu vấn đề, mà chuyên đề đi vào
nội dung cụ thể của một số tác phẩm, một số cách thức vận dụng phương
pháp nêu vấn đề - câu hỏi nêu vấn đề sao cho hiệu quả trong một số tác phẩm
cụ thể, nhằm mục đích phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong
việc học môn Ngữ Văn. Qua đó hình thành cho các em biết nhận thức vấn đề,
giải quyết vấn đề từ trong những tác phẩm tự sự, hình thành kỹ năng đọc hiểu
văn bản văn học theo đặc trưng thể loại cho các em học sinh, góp phần nâng
cao chất lượng trong việc dạy học tác phẩm tự sự.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp thực hiện đề tài: từ việc thực hiện tìm hiểu đặc điểm chung về
phương pháp dạy học nêu vấn đề, giáo viên áp dụng vào một số tác phẩm tự
sự cụ thể trong chương trình Ngữ Văn 12 cơ bản.Từ đó thiết kế bài dạy và kết
quả áp dụng đề tài tại các lớp mà giáo viên phụ trách.
PHẦN NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN
Dạy học nêu vấn đề là một phương thức dạy học trong đó giáo viên nêu
lên nghi vấn để hướng sự suy nghĩ tích cực của học sinh nhằm tạo nên tính
ánh, lí giải trong tác phẩm.
CƠ SỞ THỰC TIỄN
Việc giảng dạy môn Ngữ Văn là giúp học sinh tìm hiểu về cái hay, cái
đẹp của một tác phẩm văn chương. Mỗi tác phẩm là một chỉnh thể nghệ thuật,
là một sản phẩm của nhà văn, được lựa chọn để đưa đến với người đọc là giáo
viên và học sinh. Vì vậy mỗi ý kiến của người đọc học sinh đưa ra về tác
phẩm đều đáng quý và đáng trân trọng. Để phát huy tính tích cực của học
sinh trong giờ học tác phẩm tự sự, giáo viên không nên phủ định những vấn
đề học sinh đưa ra mà cần định hướng cho học sinh cách suy nghĩ nhận xét
đúng đắn với mỗi tác phẩm văn chương. Giáo viên đóng vai trò hướng dẫn
học sinh tìm hiểu vào tác phẩm, tự khám phá ra những vẻ đẹp tiềm ẩn của tác
phẩm. Giáo viên bằng những câu hỏi đặt vấn đề, câu hỏi gợi mở, câu hỏi định
hướng khám phá, tạo điều kiện tốt nhất cho học sinh tự cảm nhận về tác
phẩm, tự nhận định về giá trị đích thực của tác phẩm.Việc dạy văn, mà đặc
biệt là việc phân tích tác phẩm văn học, để tạo sự hấp dẫn và hứng thú với học
sinh nhất định phải là việc biến học sinh thành người trong cuộc - để các em
GVTH: Đinh Thị Thúy Vui
8
tự phát huy năng lực tư duy của mình, tự khám phá ra những giá trị đích thực
của tác phẩm.
Trong những năm gần đây, cùng với sự đổi mới nội dung dạy học, vấn
đề đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy người học làm trung tâm
cũng được đặt ra. Bản chất của sự đổi mới đó là chuyển từ phương pháp
thông báo tái hiện sang việc tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức, học tập
của học sinh nhằm phát huy cao độ tính tích cực, tính độc lập, sáng tạo của
họ, để họ tự chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng. Để thực hiện điều đó cần phối hợp
các xu hướng: tích cực hoá, cá biệt hoá, phân hoá hoạt động nhận thức - học
tập của học sinh. Việc dạy học để phát huy tính tích cực của học sinh, đã và
những yếu tố đó làm giảm sự chủ động và tích cực của việc học văn trong nhà
trường phổ thông hiện nay.
+ Loại câu hỏi thiên về tái hiện kiến thức, ít có câu hỏi có khả năng luyện trí
thông minh và tư duy sáng tạo của học sinh
+ Một số câu hỏi nêu vấn đề ở mức độ khó nhưng chưa có sự gợi ý chi tiết
+ Khi sử dụng câu hỏi nêu vấn đề, giáo viên chỉ hỏi mà chưa tổ chức cho học
sinh giải quyết vấn đề
2. Về phía học sinh
Trường THPT Kiệm Tân đa số học sinh có tỉ lệ đầu vào chưa cao, ý
thức trong học tập chưa tốt. Khả năng tự học còn nhiều hạn chế
+ Các em còn thụ động trong việc chiếm lĩnh tri thức. Học sinh chỉ tái hiện
kiến thức một cách thụ động, chưa biết cách trả lời, hay thậm chí còn lúng
túng trong những câu hỏi khó, chưa biết cách vận dụng vào sáng tạo trong các
tình huống của bài học
+ Học sinh vẫn còn dừng lại ở mức độ nghe và ghi chép, chưa tham gia vào
việc xây dựng bài. Khả năng khái quát , khả năng cảm nhận tác phẩm văn học
của học sinh còn nhiều hạn chế.
+ Học sinh lười xây dựng bài, chưa có ý thức tham gia vào các hoạt động dạy
và học. Như thế giờ văn của thầy và trò sẽ trở nên mệt mỏi dẫn đến kết quả
học tập bộ môn Ngữ Văn chưa đạt hiệu quả cao.
IV. ĐẶC ĐIỂM PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC TÍCH CỰC
PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động
nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của
người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người
dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực
GVTH: Đinh Thị Thúy Vui
10
nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động. Đặc điểm của phương pháp dạy
GVTH: Đinh Thị Thúy Vui
11
đặt trong một tình huống có vấn đề, thông qua việc giải quyết vấn đề đó giúp
học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng và phương pháp nhận thức.
Phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề là phương pháp dựa
trên quy luật của sự lĩnh hội tri thức và cách thức hoạt động một cách sáng
tạo, có những nét cơ bản của sự tìm tòi khoa học. Bản chất của nó là tạo nên
một chuỗi những tình huống vấn đề và điều khiển học sinh giải quyết những
vấn đề đó. Vì vậy mà nó đảm bảo cho học sinh lĩnh hội vững chắc những cơ
sở khoa học, phát triển năng lực tư duy sáng tạo và hình thành cơ sở thế giới
quan khoa học cho học sinh. Phương pháp dạy học nêu vấn đề là một trong
những PPDH mà ở đó GV là người tạo ra tình huống có vấn đề, tổ chức, điều
khiển học sinh phát hiện vấn đề, học sinh tích cực, chủ động, tự giác giải
quyết vấn đề thông qua đó mà lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo nhằm đạt
được mục tiêu dạy học.
Cấu trúc của quá trình giải quyết vấn đề.
2.1 Nhận biết vấn đề: trong bước này cần phân tích tình huống đặt ra, nhằm
nhận biết được vấn đề. Trong dạy học đó là cần đặt học sinh vào tình huống
có vấn đề. Vấn đề cần được trình bày rõ ràng.
2.2 Tìm các phương án giải quyết: Nhiệm vụ của bước này là tìm các
phương án khác nhau để giải quyết vấn đề. Để tìm các phương án giải quyết
vấn đề cần so sánh, liên hệ với những cách giải quyết vấn đề tương tự đã biết
cũng như tìm các phương án giải quyết mới. Các phương án giải quyết đã tìm
ra được sắp xếp, hệ thống hóa để xử lý ở giai đoạn tiếp theo.
2.3 Quyết định phương án giải quyết: Các phương án giải quyết đã được
tìm ra cần được phân tích, so sánh và đánh giá xem có thực hiện được việc
giải quyết vấn đề hay không. Nếu có nhiều phương án có thể giải quyết thì
cần so sánh để xác định phương án tối ưu. Nếu các phương án đã đề xuất
thuyết
hoạch
vấn đề
đánh giá
1
GV
GV
GV
HS
GV
2
GV
GV
HS
HS
GV + HS
3
GV + HS
HS
HS
HS
GV + HS
4
HS
HS
HS
HS
GV + HS
Trong dạy học theo phương pháp đặt và giải quyết vấn đề, học sinh vừa
nắm được tri thức mới, vừa nắm được phương pháp lĩnh hội tri thức đó, phát
vấn đề cho phù hợp. Thực tế tâm lý lứa tuổi của học sinh THPT thích tìm tòi
khám phá những tri thức mới, thích tham gia giải thích cái mới theo quan
điểm riêng. Hoc sinh lứa tuổi này đã biết suy luận đánh giá trên cơ sở phân
tích các dữ liệu học tập. Một số học sinh thường sa vào diễn đạt lan man mà
không nêu lên được những nội dung sâu sắc của tác phẩm. Vì vậy khi giáo
viên hiểu đối tượng từng lớp mình giảng dạy, giáo viên sẽ đặt ra được những
câu hỏi nêu vấn đề phù hợp với từng đối tượng học sinh.
- Giáo viên tôn trọng những cảm thụ suy nghĩ của học sinh. Tạo điều kiện
cho học sinh nói lên suy nghĩ của mình do tác phẩm gợi ra chứ không phải chỉ
nói lặp lại theo ý của người khác. Giáo viên nên xem học sinh là chủ thể tích
cực trong họat động cảm thụ tác phẩm. Mục đích lớn nhất của giờ giảng văn
sẽ là “dạy suy nghĩ, dạy tìm tòi” và dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học
sinh tự mình cảm nhận và chiếm lĩnh tác phẩm.
- Để phương pháp nêu vấn đề và giảng dạy nêu vấn đề thành công, điều
cần thiết là giáo viên tạo không khí học tập hứng thú, tạo mối quan hệ
thân thiện giữa thầy và trò. Với mục đích là học sinh có thể mạnh dạn trao
GVTH: Đinh Thị Thúy Vui
14
đổi với lớp với giáo viên về những điều mà học sinh suy nghĩ cảm nhận. Như
thế giáo viên sẽ đóng vai trò làm cầu nối giữa học sinh với tác phẩm văn học.
Giáo viên không áp đặt gò ép học sinh, không chê bai mà khơi gợi dẫn dắt
học sinh để học sinh có cơ hội thể hiện suy nghĩa của mình.
- Thực tế việc vận dụng phương pháp giảng dạy nêu vấn đề trong tác
phẩm luôn là những câu hỏi khó vì nó chứa đựng những nội dung quan
trọng của tác phẩm. Để trả lời được câu hỏi, học sinh phải tổng hợp được
nhiều nguồn kiến thức. Vì vậy trước khi triển khai ở trên lớp cần có hệ thống
câu hỏi phụ để học sinh chuẩn bị bài ở nhà bên cạnh hệ thống câu hỏi hướng
dẫn học bài trong sách giáo khoa. Từ những câu hỏi cụ thể đó, giúp học sinh
+ Việc Kim Lân tạo dựng một tình huống như vậy có những ý nghĩa gì? Tại
sao giữa nạn đói năm 1945, ranh giới mong manh giữa cái chết và sự sống,
Tràng lại dám “nhặt” vợ? Việc Tràng nhặt vợ như thế có ý nghĩ như thế nào?
Qua tình huống đó, nhà văn gửi gắm ý nghĩa gì?
Từ cách nêu vấn đề như trên, giáo viên dẫn dắt học sinh tìm hiểu ý
nghĩa của tình huống truyện. Bên cạnh đó, câu hỏi còn kích thích tâm lí học
sinh, gợi ra cho các em những thắc mắc và học sinh vận dụng sự hiểu biết của
mình để giải quyết một vấn đề mới.
Tình huống độc đáo của truyện ngắn Vợ nhặt (Kim Lân) được gửi gắm
ngay từ cách đặt tên truyện. Một chuyện vốn rất nghiêm túc, vốn được xem là
một trong những công việc trọng đại nhất của đời một con người mà lại diễn
ra như một trò đùa. Một người nghèo túng, lại xấu trai, từ thuở cha sinh mẹ đẻ
đến giờ chưa từng được một người con gái nào thèm để ý đến thế mà bỗng
dưng được một người phụ nữ theo về nhà làm vợ hẳn hoi. Càng lạ hơn nữa là
Tràng nhặt vợ về giữa những ngày đói kém, giữa khi cái chết vì đói đang rập
rình đe dọa. Kim Lân đã đem đến cho người đọc một câu chuyện nên vợ nên
chồng quả là xưa nay chưa từng có. Chính cái đói và chỉ vì cái đói mà người
phụ nữ nọ đành “theo không” Tràng về chứ đâu phải vì yêu hay vì nghĩa. Với
câu chuyện này và với một số chi tiết nghệ thuật đầy ám ảnh, truyện ngắn
“Vợ nhặt” đã tái hiện sinh động những ngày tháng đói khổ trong lịch sử dân
tộc. Chúng ta nhận ra rằng những con người nghèo khổ trong hoàn cảnh ấy
tìm đến nhau, cưu mang nhau như một lẽ tự nhiên. Họ đã cư xử đúng với đạo
lí, tình thương ngàn đời của người Việt. Viết “Vợ nhặt” Kim Lân đã khẳng
định được rằng trong cái đói người ta càng khát khao sự sống, những người
dân lao động, dù trong hoàn cảnh đói khổ đến mấy, vẫn sẵn lòng che chở,
GVTH: Đinh Thị Thúy Vui
16
đùm bọc nhau, vẫn biết vui với cái gì mình đang có và cứ lấp lánh niềm tin
+ Từ những chi tiết vừa phân tích em có nhận xét gì về nghệ thuật miêu tả
hình tượng cây xà nu của Nguyễn Trung Thành?
GVTH: Đinh Thị Thúy Vui
17
Câu hỏi trên nhằm mục đích định hướng tiếp nhận cho học sinh, giúp
học sinh phát hiện được hình thức nghệ thuật lặp chi tiết của tác phẩm. Bằng
cách hỏi như thế học sinh từ việc tìm hiểu ý nghĩa tượng trưng của hình tượng
rừng xà nu. Câu hỏi đó cũng giúp học sinh tìm tòi phát hiện, phát huy được
tính chủ động và khả năng sáng tạo qua họat động tiếp nhận. Từ việc gợi nhắc
cho học sinh tìm hiểu hình thức nghệ thuật bằng câu hỏi nêu vấn đề. Học sinh
sẽ nhận biết được rằng, hình tượng rừng xà nu được tái hiện cuối tác phẩm
không chỉ là biểu tượng con người ở làng Xôman hẻo lánh mà là biểu tượng
của cả Tây Nguyên, của cả miền Nam, của cả dân tộc Việt Nam trong thời kì
kháng chiến chống Mĩ, tuy chịu nhiều đau thương nhưng vẫn vươn lên mạnh
mẽ bằng ý chí nghị lực kiên cường. Nhà văn miêu tả hình tượng rừng xà nu
được nói đến như một con người cụ thể. Cây xà nu, nhựa xà nu liên hệ thân
thiết với con người. “Rừng xà nu” với hình ảnh một tấm ngực đang ưỡn ra để
che chở cho dân làng vì vậy mang ý nghĩa ẩn dụ về những con người đang
chiến đấu để bảo vệ quê hương đất nước trong những năm chống Mĩ
VD 2: Khi dạy truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” (Tô Hoài) giáo viên có thể
triển khai phương pháp nêu vấn đề với những câu hỏi nêu vấn đề để học
sinh tìm hiểu kết cấu của tác phẩm:
+ Em có nhận xét gì về cách giới thiệu nhân vật Mị?
+ Cách giới thiệu trên đạt hiệu quả nghệ thuật gì?
Từ sự gợi nhắc của giáo viên, học sinh thảo luận trả lời. HS sẽ nhận
nghệ thuật của tác phẩm. Từ cơ sở đó giáo viên có thể sử dụng câu hỏi nêu
vấn đề vào những hình thức nghệ thuật, để định hướng tiếp nhận cho học
sinh, khơi gợi được hứng thú cho học sinh khi giảng dạy tác phẩm tự sự
2.3 Điểm nhìn trần thuật, giọng điệu trần thuật trong tác phẩm tự sự
Trong tác phẩm tự sự, nội dung trần thuật phải được thể hiện từ điểm
nhìn, bằng quan điểm trần thuật nào đó. Xác định điểm nhìn trần thuật nghĩa
là chỉ ra vị trí từ đó người trần thuật nhìn ra và miêu tả sự vật, tường thuật
câu chuyện trong tác phẩm. Nó chính là cách kể, phương thức kể, là tình
huống diễn ngôn. Như thế, điểm nhìn trần thuật có mối quan hệ mật thiết với
cấu trúc nghệ thuật, giọng điệu của tác phẩm, với cách cảm thụ thế giới, thái
độ của nhà văn. Nếu kể ở ngôi thứ nhất, tác giả hoặc vai trần thuật xưng tôi,
còn kể ở ngôi thứ ba xưng “hắn”, “nó”. Trong ngôi thứ nhất, tác giả và vai
trần thuật là nhân vật chính, trực tiếp tham gia vào các sự kiện hoặc kể lại câu
chuyện của mình. Ở ngôi thứ ba, người kể giấu mặt, đứng ngoài câu truyện
nhưng lại biết tất cả câu chuyện, biết những nỗi niềm sâu kín của nhân vật.
Trong thể tự sự, có nhiều ngôi kể, lời kể mà còn có nhiều cách kể: có
khi tác giả tách ra khỏi nhân vật để kể về nhân vật hay để vai trần thuật hoặc
nhân vật cùng tham gia kể; khi tác giả hòa vào nhân vật, kể bằng ngôn ngữ
GVTH: Đinh Thị Thúy Vui
19
của nhân vật…Cách tác giả không tham gia kể mà để cho vai kể và nhân vật
kể lại câu chuyện là một hình thức nghệ thuật nhằm thu hẹp lại lời kể, mở
rộng tính khách quan và tăng tính thuyết phục của đối tượng được miêu tả.
Lắm khi, nhà văn “trao bút” cho nhân vật, để nhân vật tự kể, tự nói về mình.
Ở đây, nội dung nghệ thuật không chỉ được truyền đạt duy nhất từ người kể
chuyện mà còn bởi các nhân vật khác, bằng cả những tiếng nói bên trong
mang nhận thức, tình cảm của nhân vật.
VD 1: Trong truyện “Vợ chồng A Phủ” (Tô Hoài) thể hiện nghệ thuật trần
người kể chuyện đã tạo nên giọng điệu sử thi trang trọng, thiêng liêng đặc biệt
cho thiên truyện. Giọng nói của cụ trầm ấm, vang vọng như tiếng nói của núi
rừng. Từ khía cạnh đó. Giáo viên cần nêu vấn đề để hỏi học sinh:
+ Trong truyện ngắn “Rừng xà nu” của nhà văn Nguyễn Trung Thành. Nhà
văn đã trao quyền cho nhân vật nào để kể về cuộc đời của Tnú- cuộc đời bi
tráng gắn liền với trang sử vẻ vang của dân làng?
+ Từ điểm nhìn trần thuật đó, câu chuyện đã đem lại ấn tượng gì và có tác
dụng như thế nào trong việc thể hiện tư tưởng chủ đề?
Với cách thức như trên, học sinh sẽ nhận biết được giọng điệu trần
thuật của tác phẩm. Từ giọng điệu trần thuật này, người kể chuyện đã tạo nên
giọng điệu sử thi trang trọng, thiêng liêng đặc biệt cho thiên truyện
VD 3: Trong truyện “Những đứa con trong gia đình” (Nguyễn Thi), nhà
văn chủ yếu dùng thủ pháp hồi tưởng của chính người trong cuộc, đã trao
quyền trần thuật cho nhân vật Việt.
Tác phẩm được xây dựng theo kết cấu truyện ngắn hiện đại: là mạch
hồi ức của Việt, đan xen giữa quá khứ và hiện tại, nối kết một cách tự nhiên
tình cảm gia đình – quê hương – cách mạng. Không gian giàu kịch tính và
thời gian nghệ thuật của tác phẩm tạo nên sự đan cài của những câu chuyện kể
không theo trình tự tuyến tính mà có sự sắp xếp hợp lý, tạo ra sự liên tưởng
nhiều chiều. Tạo tình huống này, chọn điểm nhìn trần thuật này, Nguyễn Thi
có thể tổ chức kết cấu tác phẩm khá thoải mái, linh hoạt theo ý đồ của mình.
Câu chuyện không cần kể, cần nhớ theo trình tự thời gian. Những hồi tưởng
của Việt cứ đứt nối, tưởng chừng rời rạc, nhưng kì thực lại được chọn lọc, sắp
xếp theo ý đồ của nhà văn. Từ cách trần thuật đó giáo viên vận dụng câu
hỏi nêu vấn đề từ chính lời kể, cách kể (phương thức trần thuật)
Giáo viên hỏi học sinh: Truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình”
được trần thuật chủ yếu từ điểm nhìn của nhân vật nào? Hãy nêu tác dụng của
Thông qua những cách kể trên, ta thấy cách kể trong tác phẩm tự sự là
hình thức nghệ thuật mang lại giá trị nhiều mặt cho tác phẩm.Trong thực tế
giảng dạy phần lớn các em chưa nhận thức được giá trị của các thủ pháp
nghệ thuật đó. Học sinh chỉ chú trọng đến từ ngữ, hình ảnh và các nghệ
thuật quen thuộc, còn lời kể, cách kể, chỉ phân tích qua loa hời hợt. Vì vậy
GVTH: Đinh Thị Thúy Vui
22
việc đặt câu hỏi nêu ra phương thức kể chuyện là một biện pháp tích cực để
học sinh tự mình tiếp cận tác phẩm dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
Nhận xét
- Trong thực tiễn dạy học, bất kỳ một giờ dạy nào cũng có sự phối hợp, kết
hợp một vài phương pháp. Hơn nữa, bản thân các phương pháp dạy học đều
thâm nhập vào nhau để thể hiện tác động giữa giáo viên và học sinh. Giáo
viên không chỉ sử dụng một phương pháp dạy học mà còn phải kết hợp với
các phương pháp dạy học khác.
- Phương pháp dạy học nêu vấn đề sử dụng trong sự phối hợp đa dạng các
phương pháp khác như diễn giảng, đọc diễn cảm, trực quan…… Các câu hỏi
nêu vấn đề được đặt trong một hệ thống và thống nhất với mục tiêu bài học.
Trong quá trình học sinh tư duy đôi khi giáo viên phải dẫn dắt gợi ý cho học
sinh suy nghĩ tìm tòi để nhận ra những điều cần làm sáng tỏ.
- Việc vận dụng phương pháp nêu vấn đề trong thực tế giảng dạy, hình thức
diễn đạt hay nội dung câu trả lời có thể khác đi vì vậy giáo viên phải chú ý
lắng nghe và phân tích câu trả lời của học sinh để có hành động cho phù hợp.
Câu hỏi được nêu ra ở từng mức độ hướng tới số đông học sinh.
- Giáo viên sử dụng linh họat các hình thức tổ chức cho học sinh nắm bắt vấn
đề như: thảo luận nhóm, thuyết trình, đóng vai.........Đối với giờ dạy học vận
dung theo phương pháp nêu vấn đề không khí lớp học nhẹ nhàng thoải mái.
quyết vấn đề.
- Họat động giải quyết vấn đề của học sinh:
+ HS thể hiện sự chủ động tích cực của mình
+ HS thông qua việc đối thọai với giáo viên, đối thoại với nhau (khi thảo luận
nhóm, khi thuyết trình) mà học sinh có sự nhận thức sâu sắc về bài học.
+ Học sinh nhận xét câu trả lời của bạn mình và đưa ra ý kiến cũng như cách
hiểu vấn đề khác nhau
- Để vận dụng phương pháp nêu vấn đề đạt hiệu quả cao, học sinh phải tổng
hợp được nhiều nguồn kiến thức. Vì vậy trước khi triển khai ở trên lớp cần có
hệ thống câu hỏi phụ để giúp học sinh bước đầu tìm hiểu về truyện
“Chiếc thuyền ngoài xa” để học sinh chuẩn bị bài ở nhà bên cạnh hệ thống
câu hỏi hướng dẫn học bài trong sách giáo khoa.
Thiết kế giáo án:
Tiết: 70 – 71
CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA
GVTH: Đinh Thị Thúy Vui
24
(Nguyễn Minh Châu)
A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
Giúp học sinh:
- Hiểu được quan niệm của nhà văn về mối quan hệ giữa cuộc đời và nghệ
thuật, về cách nhìn đời và nhìn người trong cuộc sống;
- Thấy được những nét đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm và bắt đầu nhận diện
được một số đặc trưng cơ bản của văn xuôi Việt Nam sau năm 1975.
1/ TRỌNG TÂM KIẾN THỨC
- Những chiêm nghiệm sâu sắc của nhà văn về cuộc đời và nghệ thuật: phải
nhìn nhận cuộc sống và con người một cách đa diện; nghệ thuật chân chính
luôn gắn liền với cuộc đời, vì cuộc đời.