SangKienKinhNghiem.org
Tng Hp Hn 1000 Sỏng Kin Kinh Nghim Chun
phần I-lý do chọn đề Tài
I.cơ sở lí luận
Tiếng Anh là môn học mới đợc đa vào chơng trình học ở cấp phổ thông
trong một vài năm gần đây. Do yêu cầu phát triển của xã hội đồng thời tiếng Anh
là ngôn ngữ chính trong khoa học và giao tiếp nên việc cung cấp cho học sinh
phổ thông những kiến thức cơ bản để nói và viết đúng đợc những điều các em đã
đợc học là rất quan trọng.
Về mặt lí luận thì nhất thiết ngời giáo viên phải dạy học sinh hiểu đúng, thực
hành đúng những kiến thức nền tảng. Nếu không hiểu đúng ,thực hành đúng thì
vốn tiếng Anh của các em không có tác dụng trong quá trình học tập. Từ viết
đúng, nói đúng các em dễ phát triển các kĩ năng khác nh nghe, đọc, dịch...
II. cơ sơ thực tiễn
Dạy và học ngoại ngữ khác với các môn học khác là thời gian thực hành ở
lớp nhiều sau mỗi phần bài mới. Trong thực tế, khi học tiếng Anh thì học sinh rất
ít khi thực hành đúng ngay lần đầu và nhìn chung giáo viên khó phát huy đợc đối
tợng học sinh vì thờng là lớp đông, thời gian có hạn. Hơn nữa việc sữa lỗi cho
học sinh khi thực hành tại lớp mỗi giáo viên có những phơng pháp khác nhau. Có
ngời cho rằng không bao giờ để học sinh mắc lỗi, nếu mắc lỗi thì dừng lại và sửa
chữa ngay cho học sinh, có ngời cho rằng phải liên tục sửa nhng chỉ gợi ý hoặc
có những ngời dùng phơng pháp lấy chính học sinh sửa cho học sinh...Có rất
nhiều phơng pháp nhng không phơng pháp nào là vạn năng mà trong quá trình
dạy học tiếng Anh phải kết hợp nhiều phơng pháp khác nhau ứng với mỗi tình
huống và nội dung khác nhau. Vì theo một nhà giáo dục học nhận xét"Một ngời
thầy giỏi không phải là ngời mang chân lí đến cho học sinh mà phải là ngời đa
học sinh đi tìm chân lí".
Từ cơ sở lí luận và thực tiễn, cùng với kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy
của mình tôi chọn chuyên đề nghiên cứu"Phơng pháp sửa lỗi sai cơ bản về nói và
viết tiếng Anh cho học sinh khi thực hành tại lớp có hiệu quả".
III. phạm vi nghiên cứu của chuyên đề
Khi giáo viên hỏi học sinh trả lời để luyện cách sử dụng động từ khuyết
thiếu"can" để diễn đạt khả năng có thể làm đợc việc gì đó có thể có trờng hợp
sau xảy ra
Teacher:What can you do, Hoa?
Hoa:
I can speaking English
Teacher: Hmm, that's not right, is it?
I can speak, not I can speaking
Minh, what about you?....
Trong trờng hợp trên giáo viên không lấy làm hài lòng với học sinh Hoa mặc
dù em đó cố đa ra câu trả lời đúng nhng giáo viên đã sửa lại ngay và gọi em
khác, không cho học sinh đó có cơ hội để sửa câu sai của mình thành câu đúng .
Trong khi câu hỏi giáo vên đa ra rất gần với học sinh , em nào cũng có thể trả lời
đợc nhng giáo viên lại tỏ ra không hài lòng và không khuyến khích các em tự trả
lời, tự sửa lỗi mà làm cho học sinh bối rối không nói ra câu mình cần nói .
Với trờng hợp trên, giáo viên có thể sửa lỗi cho học sinh bằng phơng pháp
tích cực hơn tạo cho các em có cơ hội và hứng thú để nói đúng. Có thể tiếp tục
nh sau:
Teacher:Well, all right, but "I can speak" not " speaking" again?
Hoa
:I can speak English
2
SangKienKinhNghiem.org
Tng Hp Hn 1000 Sỏng Kin Kinh Nghim Chun
Teacher:Good
hỏi sẽ không dám trả lời, cho nên giáo viên cần phải biết xử lý tình huống một
cách khéo léo.
Tóm lại, với tình huống và dạng thực hành nói nh ví dụ trên, để việc sửa lổi
có hiệu quả chúng ta cần áp dụng phơng pháp sửa lỗi cơ bản và phải có đợc kĩ
năng sau:
-Nên động viên khuyến khích học sinh tập trung vào những gì học sinh đúng
nhiều hơn chứ không thiên về những điều sai, chỉ nên lấy cái sai ra để so sánh và
tránh lặp lại lỗi sai đó.
- Khích lệ những câu trả lời đúng của học sinh, thậm chí cả những câu cha
đúng hoàn toàn bằng phơng pháp này học sinh sẽ cảm thấy mình hiểu và đang
hoàn thiện dần.
3
SangKienKinhNghiem.org
Tng Hp Hn 1000 Sỏng Kin Kinh Nghim Chun
-Tránh miệt thị học sinh hoặc làm cho học sinh cảm thấy việc đặt câu hoặc
việc trả lời sai là việc rất tồi tệ.
- Giáo viên chủ động điều khiển sửa lỗi nhanh, nếu không sẽ mất nhiều thời
gian mà phần bài trên lớp cha hết, nhiều học sinh khác sẽ không có cơ hội thực
hành.
II. Kết hợp nhiều phơng pháp khi sửa lỗi ở các tình
huống khác nhau
Nh tôi đã nói ở ban đầu rằng không có một phơng pháp nào là vạn năng, là tối
u nhất mà điều quan trọng là giáo viên phải biết kết hợp khéo léo các phơng
pháp với yêu cầu đặt ra của từng loại, từng đối tợng học sinh, mức độ hiểu bài và
không khí của lớp học.
Dới đây là một ví dụ khác về sửa lỗi sai cho học sinh:
Giáo viên đa ra một đoạn văn trích từ một bức th của Lan viết cho ngời bạn
chỉnh hoặc nói:
Teacher: Yes, she collects but she collects what?
Nếu cần thiết giáo viên có thể đặt câu hỏi đó cho học sinh khác trả lời sau đó
học sinh ban đầu nhắc lại câu trả lời đúng của bạn
Trờng hợp d:
Giáo viên đồng ý với câu trả lời đó để khích lệ học sinh nhng sau đó tự
mình sửa lại và yêu cầu học sinh đó nhắc lại câu trả lời;
Ví dụ: Teacher:Yes, good, she collects photograph of the dolls
Student : She collects photograph of the dolls
Trờng hợp e: Giáo viên gợi ý giúp học sinh tự sửa vì đó là học sinh khá chỉ
cần đa ra gợi ý sau:
Teacher:Well, nearly, what does she do ?
"she collects" or " is collects ?''
Student: She collects
Teacher: Very good
Hoặc yêu cầu học sinh khá khác trả lời cho chính xác và yêu cầu học sinh
đó nhắc lại câu trả lời đúng của bạn.
Trờng hợp f : Chấp nhận câu trả lời đó sau đó giáo viên có thể đa ra câu
hỏi lại rõ hơn về mục đích và ngữ pháp để làm sáng tỏ hơn.
Teacher:Well, yes.She is writing a letter. But what does she do in her free
time? What is her hobby ?
Student :Ah, she collects.....
Teacher:Yes, OK
III. giáo viên giúp học sinh tự sửa
Đây là một phơng pháp tốt tạo cơ hội cho học sinh tự sửa lỗi của mình.
Với phơng pháp này giáo viên phải biết linh hoạt sử dụng các kĩ năng về cử chỉ
điệu bộ hoặc những quy ớc sẵn đối với học sinh của mình. Học sinh tự nhận biết
lỗi sai trong câu và biết đợc nó thuộc lỗi sai về từ, vị trí hay loại câu. Nhng vấn
đề là trong những trờng hợp sai nào thì sử dụng những cử chỉ, điệu bộ nh thế nào
cho phù hợp để học sinh nhìn vào biết tìm ra lỗi sai. Sau đó học sinh sẽ tự sửa lỗi
Một số ví dụ ở dạng sai này:
1.Yesterday I go to school early
2. He live in London
3. An aeroplain is move faster than a car
Giáo viên dùng ngữ điệu của mình vào những từ giúp học sinh nhận biết chỗ
sai trong câu và sửa lỗi sai đó
Trờng hợp 1:
Teacher: Yesterday go or.......
Student:I went
Trờng hợp 2:
Teacher:He....
Student:He lives.......
6
SangKienKinhNghiem.org
Tng Hp Hn 1000 Sỏng Kin Kinh Nghim Chun
Trờng hợp 3
Teacher: faster.....
Student:is faster than
Tóm lại để sửa lỗi trong khi học sinh thực hành nói hiệu quả thì giáo viên cần
phải biết kết hợp vận dụng thờng xuyên các phơng pháp sửa lỗi một cách linh
hoạt phù hợp với tình huống và lỗi sai nhất định, giáo viên cần chủ động điều
chỉnh để học sinh luôn phát huy đợc tính tích cực của mình trong học tập.
B. sửa lỗi sai khi học sinh thực hành viết tiếng anh tại lớp
ở trờng phổ thông, với những yêu cầu kiến thức cho học sinh còn ít và yêu
cầu đơn giản nhng việc viết đúng là rất quan trọng, ở đây tôi không nặng về đề
cập đến vấn đề nét chữ mà sửa lỗi sai cơ bản về ngữ pháp và chính tả trong câu.
Cũng nh chữa lỗi trong luyện tập miệng, việc sửa lỗi sai khi viết cho học sinh
nên làm cho có ảnh hởng tích cực đến việc viết của các em hơn là mang tính
chúng đã học rồi ) và sẽ hạn chế mắc sai ở những lần sau, cũng giống nh thế lỗi
về đánh vần và chữ cái nh từ"muther" ta cũng không nên sửa ngay vì đều này sẽ
làm phân tán sự tập trung của học sinh vàog những điểm chính. Giáo viên có thể
nhớ lỗi sai đó để sửa vào lần sau hoăc tự các học sinh khác sẽ phát hiện ra ngay
Teacher: Is it correct all ?
Student: Muther
Teacher:Ah, what ?
Student :Mother
2. Nên đa những yêu cầu viết nh thế nào để việc sửa lối có hiệu quả
Vì đó là thời gian trên lớp và tuỳ thuộc vào mục đích, yêu cầu, kĩ năng rèn
luyện của từng phần nên khi luyện viết trên lớp giáo viên cũng cần lựa chọn phần
học sinh hay mắc lỗi sai để sửa và nhấn mạnh, yêu cầu học sinh phải ghi nhớ
Ví dụ: Sử dụng động từ ở thời tiếp diễn thêm " ing " vào sau động từ nhng có
một số trờng hợp đặc biệt mà chính học sinh hay mắc lỗi.
Giáo viên gọi học sinh lên bảng làm bài tập sau: Cho dạng đúng của động từ
trong ngoặc.
She (cut ) flower in the garden now .
-> She is cuting flower in the garden now
Câu trên có thể học sinh không phát hiện ra chỗ sai ngay vì phát âm giống
nhau và quy luật thì chúng nghĩ đơn thuần cứ thêm "ing" vào sau động từ mặc dù
giáo viên đã dạy rồi khi nào thì gấp đôi phụ âm
Giáo viên có thể gạch chân từ "cuting" giúp học sinh nhớ lại và sửa
She is cutting flower in the garden now.
Giáo viên có thể nhắc lại hoặc yêu cầu học sinh nhắc lại những động từ có
cách viết tơng tự từ "cutting"
Một ví dụ khác:
They are (write ) the dictation.
Học sinh cũng sẽ dễ mắc "writeing " mặc dù giáo viên dạy trờng hợp động từ
kết thúc bằng "e" thì khi thêm "ing " ta phải bỏ " e" .Nhng cũng nh những ví dụ
vừa quen thuộc vừa thực tế này, ta sẽ thấy đựợc hiệu quả là học sinh sẽ tự nhớ lại
Với trờng hợp này nên chăng ta chỉ nên chữa những lỗi cơ bản, quan trọng
nhất hoặc những lỗi hiển nhiên học sinh biết và chúng vừa đợc học. đó là những
lỗi ngữ pháp cụ thể là biết sử dụng động từ ở thì hiện tại thờng .
Ta có thể giảm bớt phần gạch chân( chéo hoặc chỉ gạch chân một lần thôi và
viết ra ngoài đầu dòng phần bác bỏ ) làm cho bài chữ rõ ràng hơn và có vẻ ít lỗi
hơn.
Hn nữa, trong quá trình dạy ta luôn thể hiện vai trò là ngời thầy điều khiển
đa học sinh vào tình huống đẻ chúng chủ động lĩnh hội cũng nh sửa sai. Giáo
viên có thể làm giảm bớt đi phần lỗi mà học sinh đó vừa mắc bằng cách gợi ý mở
hỏi chính học sinh đó tự sửa. Điều đó cũng khích lệ đợc học sinh nhìn lại nhữn
gì mình đã biết và ghi nhớ lần sau sẽ không mắc lại lỗi đó nữa.
ví dụ sửa đoạn trên nh sau:
get up..........have I always gets up 6 o'clok then I having
food
go
break at 6.30 I go to school on feet
with my friends. I going to home at 11.00
And have lunch at home. I usually do my
in.........have
homework on the afternoon. I having
go
dinner at 6 p.m. I going to the bed at 9 o'clock
Nếu đối với học sinh mà giáo viên dạy quen hoặc là những học sinh khá, giáo
viên có thể quy ớc các ký hiệu cho từng loại lỗi ra ngoài mác để giúp học sinh tự
Học sinh có thể nhớ lại chỉ cần giáo viên nhắc chủ ngữ ngôi thứ mấy, chia
động từ nh thế nào là chúng có thể biết và tự sửa.
2. Lỗi sai về từ
Tác dụng của một chữ cái bắt đầu có thể gợi lại cho học sinh nhớ từ này:
Teacher: injoy
"e"/i/ or "i" /ai/?
Student: enjoy
Ngoài ra, ứng với mỗi trờng hợp để có hiệu quả giáo viên phải tự đặt ra các
câu hỏi nh : những nguyên nhân nào dẫn đến học sinh mắc những lỗi đó có chỉ
ra đợc những gì mà học sinh đó và học sinh khác cha hiểu hay không? Hay
chúng hiểu rồi nhng vẫn mắc theo thói quen. Vậy giáo viên phải làm thế nào cho
phù hợp với mỗi đối tợng học sinh trong lớp.
Với loại lỗi này , ta thấy học sinh hay mắc phải thì chúng sử dụng các trờng
hợp đặc biệt của các cách sử dụng từ cấu trúc ngữ pháp.
Ví dụ:
10
SangKienKinhNghiem.org
Tng Hp Hn 1000 Sỏng Kin Kinh Nghim Chun
Các từ học sinh hay nhầm
Từ đúng
Học sinh hay nhầm
Swimming
Swiming
2.Biện pháp khắc phục
Qua quá trình giảng dạy tôi sẽ tích luỹ kinh nghiệm thêm, đồng thời luôn
luôn học hỏi đồng nghiệp , tự học tập rèn luyện bồi dỡng thờng xuyên bằng cách
-Tìm tòi nghiên cứu tài liệu tham khảo
-áp dụng thờng xuyên vào các tình huống khác nhau
-Chú ý tới các lỗi sai, thậm chí đôi khi giáo viên có thể tạo ra các lỗi sai để
giúp học sinh sửa và hiểu hơn trong quá trình học tập.
Phần IV- kết quả dạy thực nghiệm
Khi làm chuyên đề này tôi đã tiến hành dạy thực nghiệm ở lp 6B trong nm
hc(K I v k II) tôi thấy rằng sau thời gian áp dụng các phơng pháp sửa lỗi
này học sinh đã tiến bộ rõ rệt ngay cả khi nói và viết.
Kết quả trớc và sau khi áp dụng các phơng pháp sửa lỗi trên
Lớp
Luyện nói
Luyện viết
11
SangKienKinhNghiem.org
Tng Hp Hn 1000 Sỏng Kin Kinh Nghim Chun
K I
6B
Ngi núi,kh
nng núi rt
inh Hong Uy
12
SangKienKinhNghiem.org
Tổng Hợp Hơn 1000 Sáng Kiến Kinh Nghiệm Chuẩn
13