SKKN Phương pháp sửa lỗi thông thường trong môn Tiếng Anh cho học sinh THCS - Pdf 26

phần a - đặt vấn đề

I.cơ sở lí luận
Nghị quyết Trung ơng IV về tiếp tục đổi mới các cấp học, kết
hợp với học đi đôi với hành gắn nhà trờng với xã hội áp dụng những
phơng pháp giáo dục hiện đại để bồi dỡng cho học sinh năng lực t duy
sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề. Vì vậy việc đổi mới phơng pháp
dạy học nói chung và dạy Tiếng Anh nói riêng đã đợc tất cả các cấp
quản lí giáo dục và tất cả giáo viên quan tâm. Qua thực tế giảng dạy và
học tập, chúng ta ai cũng nhận thức đợc rằng: bộ môn Tiếng Anh ở tr-
ờng THCS chiếm một vị trí quan trọng trong chỉnh thể học vấn phổ
thông.
Thấy đợc tầm quan trọng của việc học ngoại ngữ, và do yêu cầu
phát triển của xã hội đồng thời tiếng Anh là ngôn ngữ chính trong
khoa học và giao tiếp nên việc cung cấp cho học sinh phổ thông những
kiến thức cơ bản để nói và viết đúng đợc những điều các em đã đợc
học là rất quan trọng.
Về mặt lí luận thì nhất thiết ngời giáo viên phải dạy học sinh hiểu
đúng, thực hành đúng những kiến thức nền tảng. Nếu không hiểu đúng
,thực hành đúng thì vốn tiếng Anh của các em không có tác dụng trong
quá trình học tập. Từ viết đúng, nói đúng các em dễ phát triển các kĩ
năng khác nh nghe, đọc, dịch

II. cơ sở thực tiễn
Dạy và học ngoại ngữ khác với các môn học khác là thời gian thực
hành ở lớp nhiều sau mỗi phần bài mới. Trong thực tế, khi học Tiếng
Anh thì học sinh rất ít khi thực hành đúng ngay lần đầu và nhìn chung
giáo viên khó phát huy đợc đối tợng học sinh vì thời gian có hạn. Hơn
nữa việc sữa lỗi cho học sinh khi thực hành tại lớp mỗi giáo viên có
những phơng pháp khác nhau. Có ngời cho rằng không bao giờ để học
sinh mắc lỗi, nếu mắc lỗi thì dừng lại và sửa chữa ngay cho học sinh,

I. điều tra thực trạng tr ớc khi nghiên cứu
1. Tình hình xã hội
Theo xu thế thời đại, hiện nay nớc ta đã gia nhập WTO, thì việc
học Tiếng Anh là rất cần thiết song nhất là với học sinh ở các vùng
nông thôn cha đợc các bậc phụ huynh học sinh và các em chú ý đến.
Một trong những nguyên nhân là do phụ huynh học sinh cha thấy rõ đ-
ợc tầm quan trọng của việc học Tiếng Anh, các bậc phụ huynh chỉ
quan tâm đến hai môn học chính là môn Văn và môn Toán. Đó là một
trong những nguyên nhân khiến các em học sinh không thích học
Tiếng Anh.
2. Thực trạng của giáo viên dạy bộ môn Tiếng Anh:
Trong khi dạy nhiều giáo viên vẫn sử dụng phơng pháp truyền
thống, thiên về diễn giải lí thuyết, bình luận các sự kiện ngôn ngữ coi
nhẹ việc sửa lỗi cho học sinh. Do vậy, học sinh thờng mắc những lỗi
cơ bản trong khi nói và viết Tiếng Anh.
Nhiều giáo viên cha nắm đợc cách sửa lỗi cơ bản nhất cho học
sinh, cha biết cách khuyến khích, động viên học sinh trong khi sửa lỗi,
do vậy việc học tập trong lớp thờng buồn tẻ, thiếu sinh động, kém
hứng thú học tập.
3. Thực trạng của học sinh học Tiếng Anh
Ban đầu ở lớp 6,7 các em rất thích học, có hứng thú, sau đó cứ
giảm dần theo thời gian và độ khó của yêu cầu ở lớp cuối cấp. Một
thực tế ta nhận thấy kết quả sau 4 năm học ngoại ngữ có rất nhiều học
sinh(trên 60%) không sử dụng đợc vốn kiến thức ngoại ngữ đã học vào
- 3-
cuộc sống. Thậm chí có những em không nói chính xác một từ đơn lẻ.
Trong lớp các em tiếp thu bài một cách thụ động, ỷ lại, lời làm việc,
ngại và thậm chí không biết nói và trả lời, hơn thế nữa một số học sinh
còn rụt rè, không tự tin sợ mắc lỗi khi nói.
II. ph ơng pháp nghiên cứu

lỗi cơ bản cho học sinh, bên cạnh đó một số giáo viên cha vận dụng đ-
ợc phơng pháp đổi mới hoặc có vận dụng nhng thiếu sáng tạo, còn
khuôn mẫu. Đó là một nguyên nhân lớn dẫn đến chất lợng dạy và học
cha cao.
3. Ph ơng pháp tạo tâm thế trong tiết học:
Để phát huy khả năng nói và viết cho học sinh có hiệu quả, tránh
sai xót trong học tập, tôi luôn tạo ra một tâm thế tốt cho mỗi tiết học.
Khi vào lớp tôi luôn tạo điều kiện để khoảng cách cô- trò, trò- trò thật
gần gũi, tự nhiên giúp các em bớt e dè ngại nói và viết trên cơ sở đó
giúp học sinh phát huy tốt khả năng của mình.
III. những công việc thực tế đã làm:
1. sửa lỗi sai khi học sinh thực hành nói tiếng
Anh tại lớp:
Trong khi thực hành Tiếng Anh đặt câu theo mẫu và phát triển ý,
điều quan trọng đối với ngời giáo viên là hớng dẫn học sinh tìm hiểu,
khám phá và sáng tạo theo ý của mình. Nhng không phải lúc nào học
sinh cũng làm đợc ngay. Vì vậy cả khi học sinh còn lúng túng hoặc sai
- 5-
thì giáo viên phải nhạy cảm nắm bắt, hiểu ý muốn nói của các em, chủ
động sửa hoặc gợi ý cho học sinh tự sửa lỗi.
Dựa vào tình huống vấn đề đặt ra và những yêu cầu về kiến thức,
kỹ năng mà chúng ta có thể đa ra những phơng pháp khác nhau mà
mục đích cuối cùng là học sinh hiểu biết vận dụng đúng.
Sau đây là một vài ví dụ ứng với các tình huống khác nhau và các
phơng pháp sửa lỗi sai cơ bản cho học sinh khi thực hành nói Tiếng
Anh tại lớp.
a.Ph ơng pháp khi học sinh mắc lỗi thì sửa ngay:
Ví dụ:
Khi giáo viên hỏi học sinh trả lời để luyện cách sử dụng động từ
khuyết thiếu"can" để diễn đạt khả năng có thể làm đợc việc gì đó có

mình sửa lỗi . Học sinh sẽ ghi nhớ lâu hơn và có thể không bị sai nh
lỗi đó nữa. Sau khi sửa lỗi đợc ở một học sinh rồi , có thể chuyển câu
hỏi đó sang học sinh khác, sau đó lại hỏi học sinh ban đầu để kiểm tra
lại.
Ví dụ:
Teacher: Well, anyone else? What can you do, Tuan?
Tuan : I can speak English
Teacher: Yes, well done
Lan again?
Lan :I can speak English
Teacher: Good
Phơng pháp này giúp học sinh cả lớp chú ý, nhng giáo viên nên sử
dụng một cách thận trọng. Điều quan trọng là không để học sinh đầu
mắc sai cảm thấy mình là "nạn nhân" hy sinh cho những bạn khác,
phải khuyến khích đúng lúc, kịp thời để tránh cho học sinh đó có cảm
giác sợ hoặc ngại khi lần sau giáo viên hỏi sẽ không dám trả lời, cho
nên giáo viên cần phải biết xử lý tình huống một cách khéo léo.
Tóm lại, với tình huống và dạng thực hành nói nh ví dụ trên, để
việc sửa lỗi có hiệu quả chúng ta cần áp dụng phơng pháp sửa lỗi cơ
bản và phải có đợc kĩ năng sau:
-Nên động viên khuyến khích học sinh tập trung vào những gì học
sinh đúng nhiều hơn chứ không thiên về những điều sai, chỉ nên lấy
cái sai ra để so sánh và tránh lặp lại lỗi sai đó.
- 7-
- Khích lệ những câu trả lời đúng của học sinh, thậm chí cả những
câu cha đúng hoàn toàn bằng phơng pháp này học sinh sẽ cảm thấy
mình hiểu và đang hoàn thiện dần.
-Tránh miệt thị học sinh hoặc làm cho học sinh cảm thấy việc đặt
câu hoặc việc trả lời sai là việc rất tồi tệ.
- Giáo viên chủ động điều khiển sửa lỗi nhanh, nếu không sẽ mất

f. Một học sinh trả lời: She writes letter.
Tuy nhiên trong những câu trả lời trên không câu nào đúng. Nhng
để học sinh tự sửa thảo luận đi đến câu trả lời đúng, giáo viên có thể đa
ra những gợi ý sau:
Trờng hợp a: chấp nhận câu trả lời gần đúng hoặc gợi ý giúp học
sinh tự sửa
Teacher: It's nearly correct
Just"photographs of the dolls" she collects
Student: She collects photographs of the dolls
Trờng hợp b: Giáo vên ra hiệu bằng một cử chỉ để chỉ ra câu đó cha
hoàn chỉnh hoặc nói:
Teacher: Yes, she collects but she collects what?
Nếu cần thiết giáo viên có thể đặt câu hỏi đó cho học sinh khác trả
lời sau đó học sinh ban đầu nhắc lại câu trả lời đúng của bạn
Trờng hợp d:
Giáo viên đồng ý với câu trả lời đó để khích lệ học sinh nhng sau đó tự
mình sửa lại và yêu cầu học sinh đó nhắc lại câu trả lời;
Ví dụ: Teacher:Yes, good, she collects photograph of the dolls
Student : She collects photograph of the dolls
Trờng hợp e: Giáo viên gợi ý giúp học sinh tự sửa vì đó là học sinh
khá chỉ cần đa ra gợi ý sau:
Teacher:Well, nearly, what does she do ?
"she collects" or " is collects ?''
Student: She collects
Teacher: Very good
Hoặc yêu cầu học sinh khá khác trả lời cho chính xác và yêu cầu học
sinh đó nhắc lại câu trả lời đúng của bạn.
Trờng hợp f : Chấp nhận câu trả lời đó sau đó giáo viên có thể đa
ra câu hỏi lại rõ hơn về mục đích và ngữ pháp để làm sáng tỏ hơn.
- 9-

biết ra chỗ sai và có thể sửa:
- 10-
Ví dụ:
Teacher:What does Miss Lien do ?
Student :He is a teacher (He is wrong )
Miss miss Lien
She is a teacher
Một số ví dụ ở dạng sai này:
1.Yesterday I go to school early
2. He live in London
3. An aeroplan is more faster than a car
Giáo viên dùng ngữ điệu của mình vào những từ giúp học sinh nhận
biết chỗ sai trong câu và sửa lỗi sai đó:
Trờng hợp 1:
Teacher: Yesterday go or
Student:I went
Trờng hợp 2:
Teacher:He
Student:He lives
Trờng hợp 3
Teacher: faster
Student:is faster than
Tóm lại để sửa lỗi trong khi học sinh thực hành nói hiệu quả thì
giáo viên cần phải biết kết hợp vận dụng thờng xuyên các phơng pháp
sửa lỗi một cách linh hoạt phù hợp với tình huống và lỗi sai nhất định,
giáo viên cần chủ động điều chỉnh để học sinh luôn phát huy đợc tính
tích cực của mình trong học tập.
2. sửa lỗi sai khi học sinh thực hành viết tiếng
anh tại lớp
ở trờng phổ thông, với những yêu cầu kiến thức cho học sinh còn

reading
My muther injoy reading newspapers
Sẽ tốt hơn nếu giáo viên tự sửa từ "injoy " thành từ "ẹnoy " viết
lên thì học sinh cũng đã tự biết và hiểu chúng đã mắc sai chỗ đó và
- 12-
biết tại sao lại thế (vì chúng đã học rồi ) và sẽ hạn chế mắc sai ở những
lần sau, cũng giống nh thế lỗi về đánh vần và chữ cái nh từ"muther" ta
cũng không nên sửa ngay vì đều này sẽ làm phân tán sự tập trung của
học sinh vào những điểm chính. Giáo viên có thể nhớ lỗi sai đó để sửa
vào lần sau hoăc tự các học sinh khác sẽ phát hiện ra ngay.
Teacher: Is it correct all ?
Student: Muther
Teacher:Ah, what ?
Student :Mother
b. Nên đ a những yêu cầu viết nh thế nào để việc sửa lối có hiệu
quả
Vì đó là thời gian trên lớp và tuỳ thuộc vào mục đích, yêu cầu, kĩ
năng rèn luyện của từng phần nên khi luyện viết trên lớp giáo viên
cũng cần lựa chọn phần học sinh hay mắc lỗi sai để sửa và nhấn mạnh,
yêu cầu học sinh phải ghi nhớ.
Ví dụ: Sử dụng động từ ở thời tiếp diễn thêm " ing " vào sau động
từ nhng có một số trờng hợp đặc biệt mà chính học sinh hay mắc lỗi.
Giáo viên gọi học sinh lên bảng làm bài tập sau: Cho dạng đúng
của động từ trong ngoặc.
She (cut ) flower in the garden now .
-> She is cuting flower in the garden now
Câu trên có thể học sinh không phát hiện ra chỗ sai ngay vì phát
âm giống nhau và quy luật thì chúng nghĩ đơn thuần cứ thêm "ing" vào
sau động từ mặc dù giáo viên đã dạy rồi khi nào thì gấp đôi phụ âm.
Giáo viên có thể gạch chân từ "cuting" giúp học sinh nhớ lại và

Với trờng hợp này nên chăng ta chỉ nên chữa những lỗi cơ bản,
quan trọng nhất hoặc những lỗi hiển nhiên học sinh biết và chúng vừa
đợc học.Đó là những lỗi ngữ pháp cụ thể là biết sử dụng động từ ở thì
hiện tại thờng .
Ta có thể giảm bớt phần gạch chân( chéo hoặc chỉ gạch chân một
lần thôi và viết ra ngoài đầu dòng phần bác bỏ ) làm cho bài chữa rõ
ràng hơn và có vẻ ít lỗi hơn.
Hơn nữa, trong quá trình dạy ta luôn thể hiện vai trò là ngời thầy
điều khiển đa học sinh vào tình huống để chúng chủ động lĩnh hội
cũng nh sửa sai. Giáo viên có thể làm giảm bớt đi phần lỗi mà học sinh
- 14-
đó vừa mắc bằng cách gợi ý mở hỏi chính học sinh đó tự sửa. Điều đó
cũng khích lệ đợc học sinh nhìn lại những gì mình đã biết và ghi nhớ
lần sau sẽ không mắc lại lỗi đó nữa.
Ví dụ sửa đoạn trên nh sau:
get up have I always gets up 6 o'clok then I having
food break at 6.30 I go to school on feet
go with my friends. I going to home at 11.00
And have lunch at home. I usually do my
in have homework on the afternoon. I having
go dinner at 6 p.m. I going to the bed at 9 o'clock
Nếu đối với học sinh mà giáo viên dạy quen hoặc là những học
sinh khá, giáo viên có thể quy ớc các ký hiệu cho từng loại lỗi ra ngoài
mác để giúp học sinh tự sửa lỗi của mình bằng cách đọc kĩ lại những
gì mình vừa viết và suy nghĩ để sửa .
Ví dụ :
Kí hiệu: Sp: cho lỗi chính tả (spelling )
Gr: cho lỗi ngữ pháp (grammar )
Wo: thứ tự từ (word order )
2.2. những lỗi thông th ờng học sinh hay mắc

Vậy giáo viên phải làm thế nào cho phù hợp với mỗi đối tợng học sinh
trong lớp.
Với loại lỗi này , ta thấy học sinh hay mắc phải thì chúng sử dụng
các trờng hợp đặc biệt của các cách sử dụng từ cấu trúc ngữ pháp.
Ví dụ:
Các từ học sinh hay nhầm
Từ đúng Học sinh hay nhầm
Swimming Swiming
Cutting cuting
Shopping Shoping
Writing Writeing
Closing Closeing
- 16-
Trên đây là một vài ví dụ thuộc các dạng lỗi cơ bản mà học sinh
hay mắc phải và hớng giải quyết của giáo viên mà tôi thờng áp dụng
với học sinh của mình và thấy rằng các phơng pháp này rất có hiệu
quả.
IV. hạn chế và những biện pháp khắc phục của đề
tài
1. Những cái ch a làm đ ợc
ở chuyên đề này với kinh ngiệm giảng dạy còn ít , thời gian nghiên
cứu còn hạn chế và đặc biệt khó khăn trong việc tìm tài liệu hớng dẫn
nên tôi còn trăn trở một số vấn đề chỉ đề cập đợc nhng cha sâu và đa
dạng về ví dụ. Tuy nhiên những vấn đề đa ra là phổ thông và sát thực.
Chuyên đề này cha kết hợp đợc nhiều phơng pháp chữa lỗi đa học
sinh vào những tình huống có vấn đề.
2.Biện pháp khắc phục
Qua quá trình giảng dạy tôi sẽ tích luỹ kinh nghiệm thêm, đồng
thời luôn luôn học hỏi đồng nghiệp , tự học tập rèn luyện bồi dỡng th-
ờng xuyên bằng cách

23
Kém 0% 0% 0% 0%
Lớp
8b

số
25
Giỏi 4% 8% 0% 4%
Khá 40% 48% 45% 48%
TB 40% 40% 42% 44%
Yếu 8% 4% 13% 4%
Kém 8% 0% 0% 0%

Phần C - kết luận và kiến nghị
Nói tóm lại chất lợng học tập môn Tiếng Anh trong trờng THCS
hiện nay là vấn đề cần phải đợc quan tâm. Là ngời giáo viên dạy Anh
Văn, chúng ta cần phải xác định rõ vị trí và trách nhiệm của mình.
Hơn ai hết, mỗi chúng ta không ngừng đổi mới phơng pháp dạy học để
cuốn hút học sinh ngày càng yêu thích bộ môn hơn. Để sửa những lỗi
thông thờng cho học sinh có hiệu quả là một việc đã nhiều ngời làm
nhng không phải ai cũng có kết quả. Đó chính là điều trăn trở đối với
tôi. Những điều tôi đa ra trên đây là một quá trình tìm tòi, tham khảo
đúc rút kinh nghiệm của bản thân qua thực tế giảng dạy ở trờng THCS.
Tuy mới áp dụng vào thực tế nhng nó đã đem lại những hiệu quả nhất
định.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
- 18-
.
Mục lục
trang


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status