LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) là một loại hình doanh nghiệp không
những thích hợp đối với nền kinh tế của những nước công nghiệp phát triển mà
còn đặc biệt thích hợp với nền kinh tế của những nước đang phát triển. Ở nước
ta trước đây, việc phát triển các DNVVN cũng đã được quan tâm, song chỉ từ
khi có đường lối đổi mới kinh tế do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng thì
các doanh nghiệp này mới thực sự phát triển nhanh cả về số và chất lượng.
Trong điều kiện của những bước đi ban đầu thực hiện công nghiệp hoá
hiện đại hoá đất nước, có thể khẳng định việc đẩy mạnh phát triển DNVVN là
bước đi hợp quy luật đối với nước ta. DNVVN là công cụ góp phần khai thác
toàn diện mọi nguồn lực kinh tế đặc biệt là những nguồn tiềm tàng sẵn có ở
mỗi người, mỗi miền đất nước. Các DNVVN ngày càng khẳng định vai trò to
lớn của mình trong việc giải quyết các mối quan hệ mà quốc gia nào cũng phải
quan tâm chú ý đến đó là: Tăng trưởng kinh tế - giải quyết việc làm.
Nhưng để thúc đẩy phát triển DNVVN ở nước ta đòi hỏi phải giải quyết
hàng loạt các khó khăn mà các doanh nghiệp này đang gặp phải liên quan đến
nhiều vấn đề. Trong đó khó khăn lớn nhất, cơ bản nhất, phổ biến nhất đó là
thiếu vốn sản xuất và đổi mới công nghệ. Vậy DNVVN phải tìm vốn ở đâu
trong điều kiện thị trường vốn ở Việt Nam chưa phát triển và bản thân các
doanh nghiệp này khó đáp ứng đủ điều kiện tham gia, chúng ta cũng chưa có
chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp này một các hợp lý. Vì vậy phải giải quyết
khó khăn về vốn cho các DNVVN đã và đang là một vấn đề cấp bách mà Đảng,
Nhà nước, bản thân các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng cùng phải quan
tâm giải quyết.
Thực tế hiện nay cho thấy nguồn vốn tín dụng ngân hàng đầu tư cho phát
triển DNVVN còn rất hạn chế vì các DNVVN khó đáp ứng đầy đủ điều kiện
vay vốn ngân hàng và khi tiếp cận nguồn vốn tín dụng thì các doanh nghiệp lại
1
2
Chương 2: Thực trạng hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và
nhỏ tại PGD Lò Đúc - Chi nhánh Hà Nội , Ngân hàng Việt Nam Thuơng Tín.
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm mở rộng hoạt động tín dụng đối
với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại PGD Lò Đúc - Chi nhánh Hà Nội , Ngân hàng
Việt Nam Thuơng Tín.
3
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ VÀ TÍN
DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI CÁC
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.1.1. Khái niệm
a. Khái niệm doanh nghiệp
Theo khoản 1 điều 4 của Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định thì:
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn
định, được đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực
hiện các hoạt động kinh doanh.
b. Khái niệm DNVVN
Ở Việt Nam, do chưa có tiêu chí xác định cụ thể đâu là doanh nghiệp nhỏ
đâu là doanh nghiệp vừa nên một số cơ quan Nhà nước, một số tổ chức hỗ trợ
đã chủ động đưa ra các tiêu chí quy định DNVVN để phục vụ cho công tác của
mình như:
- NHCT Việt Nam quy định: là doanh nghiệp có dưới 500 lao động, vốn
siêu nhỏ
Số lao
động
Khu vực
Doanh nghiệp nhỏ
Tổng
nguồn
vốn
Số lao
động
Doanh nghiệp vừa
Tổng
nguồn vốn
Số lao động
I. Nông, lâm nghiệp
và thủy sản
10 người
trở xuống
20 tỷ đồng từ trên 10
trở xuống người đến
50 người
từ trên 10 tỷ từ trên 50
đồng đến 50 người đến
tỷ đồng
100 người
Ngoài ra, DNVVN là một loại hình doanh nghiệp nên nó mang đầy đủ đặc
điểm của một doanh nghiệp. Ngoài ra DNVVN còn có một số đặc điểm riêng.
a. Đặc điểm tạo nên những ưu thế cho DNVVN
- DNVVN có thể hoạt động mà không cần phải đòi hỏi một lượng vốn lớn.
Thêm vào đó lĩnh vực sản xuất kinh doanh thường hướng tới phục vụ trực tiếp
5
đời sống xã hội, chủ yếu nhằm vào những sản phẩm có sức mua cao, nên có thể
huy động được các nguồn lực xã hội, các nguồn vốn còn tiềm ẩn trong dân do
đó các DNVVN có khả năng đầu tư rất đa dạng và linh hoạt. Hơn nữa chu kì
sản xuất kinh doanh ngắn, diễn biến theo mùa nên tốc độ quay vòng vốn nhanh,
từ đó mang lại hiệu quả kinh tế cao cho doanh nghiệp.
- Cơ chế tổ chức - quản lý của DNVVN hoạt động tương đối hiệu quả so
với các loại hình doanh nghiệp còn lại. Trong DNVVN, cơ cấu tổ chức thường
nhỏ gọn, ít cấp bậc, thường không bị chồng chéo. Cũng chính vì cơ cấu tổ chức
đơn giản và gọn nhẹ của các DNVVN được đi cùng với cơ chế quản lý, điều
hành hết sức linh hoạt đã đem lại hiệu quả tích cực trong quản trị doanh nghiệp.
Chi phí quản lý của các DNVVN tương đối thấp. Thời gian đưa ra quyết định
của các DNVVN ngắn, do đó có thể đưa ra quyết định nhanh chóng và hiệu quả
đối với những vấn đề liên quan đến sản xuất kinh doanh khiến cho kế hoạch
kinh doanh có thể được xây dựng và điều chỉnh sát với các biến động thực tế
nghiệp có vốn dưới 2 tỷ đồng và có tới 90% doanh nghiệp có vốn dưới 5 tỷ
đồng (nguồn: Cục Phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa – Bộ Kế hoạch và Đầu
tư).
- Thông tin của các DNVVN thường không minh bạch do hạn chế kiến
thức về kế toán, về thông tin tài chính… nên việc lập kế hoạch tài chính cũng
như lập các báo cáo tài chính thiếu chính xác, không trung thực. Do chính sách
ưu đãi thuế thu nhập đối với DNVVN, một số doanh nghiệp đã cố tình “chế
biến” số liệu, giấu lãi để hưởng chính sách ưu đãi thuế.
- Chủ yếu các DNVVN không có tài sản đảm bảo để vay vốn. Mặt khác
việc chuyển giao quyền sở hữu về vốn góp bằng tài sản chưa rõ ràng minh bạch
gây khó khăn cho ngân hàng trong quá trình thẩm định tài chính, thẩm định tài
sản đảm bảo.
- Năng lực quản trị điều hành của chủ DNVVN kém, còn thói quen điều
hành quản trị theo kiểu gia đình. Việc lập kế hoạch kinh doanh, phương án kinh
doanh thiếu tính chuyên nghiệp. Chưa biết thu thập và xử lý tốt các thông tin,
khả năng tự điều chỉnh trong nền kinh tế thị trường đầy biến động còn hạn chế.
- Trình độ của người lao động còn hạn chế. Các chủ DNVVN không đủ
khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trong việc thuê những người lao
động có tay nghề cao do hạn chế về tài chính. Người lao động ít được đào tạo
7
và bồi dưỡng chuyên môn do kinh phí hạn hẹp vì vậy kỹ năng tay nghề của
người lao động không cao. Ngoài ra, sự không ổn định khi làm việc cho các
DNVVN, cơ hội để phát triển thấp tại các doanh nghiệp này cũng tác động làm
cho nhiều người lao động có kỹ năng tay nghề cao không muốn làm việc cho
khu vực này.
- Hạ tầng cơ sở phục vụ cho sản xuất kinh doanh còn nhiều hạn chế, máy
móc thiết bị lạc hậu, chi phí đầu vào cho sản xuất lớn. Hiện nay phần lớn công
nghệ mà các DNVVN đang sử dụng đã lạc hậu hàng chục năm, có khi vài chục
phần đáng kể vào sự tăng trưởng GDP của đất nước, đẩy nhanh tốc độ phát
triển của nền kinh tế, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa, dịch vụ cho nền kinh tế.
Vai trò của các DNVVN không chỉ thể hiện ở giá trị kinh tế mà nó tạo ra, mà
quan trọng hơn nó có ý nghĩa then chốt trong việc tạo ra công ăn việc làm, xóa
đói giảm nghèo, phát triển đồng đều giữa các vùng, khu vực trong cả nước.
DNVVN còn có vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất lưu thông hàng
hóa, cung ứng dịch vụ. Hệ thống cửa hàng sản xuất kinh doanh, thương mại dịch vụ vừa và nhỏ đặt ở khắp các đường phố, khu công nghiệp, các tụ điểm
dân cư, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng một cách nhanh chóng, thuận
tiện.
Với tính năng động cao, các DNVVN còn là trường học khởi nghiệp cho
các doanh nhân và là môi trường tạo mối liên kết, tích tụ vốn để từng bước hình
thành các doanh nghiệp lớn. Thực tế cho thấy, các doanh nghiệp lớn đều hình
thành từ các DNVVN cách đây vài chục năm và mọi người khi làm quen với
môi trường kinh doanh thường bắt đầu với những DNVVN. Từ những DNVVN
các nhà kinh doanh sẽ được làm quen với sự cạnh tranh, tiếp cận các kỹ năng
quản lý cơ bản, tích lũy kinh nghiệm cho bản thân. Họ sẽ là người lãnh đạo các
doanh nghiệp này phát triển thành các doanh nghiệp lớn hoặc tự tìm kiếm các
doanh nghiệp lớn để phát triển hơn nữa năng lực của mình. Nguồn nhân lực về
quản lý vì thế được nâng cao cả về chất lượng cũng như số lượng.
DNVVN có vai trò tích cực đối với sự phát triển kinh tế địa phương, khai
thác tiềm năng thế mạnh của từng vùng, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Các DNVVN có thể hoạt động ở khắp mọi nơi thậm chí cả những nơi cơ sở hạ
tầng chưa phát triển như vùng núi, hải đảo, nông thôn. Nhờ đó, doanh nghiệp
có thể khai thác rộng khắp các tài nguyên của từng vùng. Việc nhiều doanh
9
nghiệp, chủ yếu là các DNVVN được thành lập tại các vùng nông thôn, vùng
núi, vùng sâu vùng xa sẽ góp phần trong việc chuyển dịch cơ cấu của nền kinh
tế theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng ngành công
tài chính này cũng bộc lộ nhiều hạn chế như: quy mô cho vay nhỏ, ngắn hạn
với chi phí phát sinh cao, chỉ đủ để tài trợ cho những hoạt động mua sắm tài
sản cố định có quy mô nhỏ và đầu tư nhiều lần. Như vậy, các nguồn vốn này
khó có thể đáp ứng được yêu cầu phát triển DNVVN. Do đó, việc tiếp cận với
các nguồn tài chính chính thức được xem là cần thiết cho quá trình tăng trưởng
và phát triển của các DNVVN.
b. Nguồn tài chính chính thức
- Nguồn tín dụng ưu đãi của Nhà nước thực hiện chủ yếu thông qua hoạt
động của Quỹ hỗ trợ phát triển và Ngân hàng chính sách xã hội.
- Nguồn tín dụng từ các TCTD hiện hành bao gồm các NHTM quốc
doanh, NHTM cổ phần, ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước
ngoài, các quỹ tín dụng nhân dân và các công ty cho thuê tài chính. Để mở rộng
sản xuất và phát triển hoạt động kinh doanh, các DNVVN chủ yếu tiếp cận
nguồn vốn tín dụng ngân hàng. Nhưng việc tiếp cận nguồn vốn này cũng không
phải dễ dàng. Theo điều tra về thực trạng DNVVN của Cục phát triển Doanh
nghiệp nhỏ và vừa - Bộ Kế hoạch và Đầu tư chỉ có 32.28% các DNVVN có khả
năng tiếp cận được nguồn vốn ngân hàng, còn lại các DNVVN rất khó hoặc
không thể tiếp cận được.
- Các chương trình tín dụng của các tổ chức và chính phủ nước ngoài như:
Quỹ phát triển DNVVN của cộng đồng châu Âu (SMEDF), tín dụng hỗ trợ của
ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC), dự án phát triển khu vực Mêkông
(MPFD), hỗ trợ của công ty tài chính quốc tế IFC tại Việt Nam…
- Nguồn vốn huy động trên thị trường chứng khoán thông qua việc niêm
yết và phát hành trái phiếu, cổ phiếu. Tuy nhiên, hình thức huy động vốn này
đối với DNVVN rất khó khăn, bởi những điều kiện niêm yết, phát hành hết sức
chặt chẽ mà các DNVVN khó có thể đáp ứng được.
1.2. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ
NHỎ
1.2.1. Khái niệm, đặc trưng, phân loại tín dụng ngân hàng
b. Đặc trưng của tín dụng ngân hàng
* Tín dụng ngân hàng được thiết lập trên cơ sở lòng tin.
Lòng tin là cơ sở đầu tiên để có quan hệ tín dụng. Vì quan hệ tín dụng chỉ
xảy ra khi người cho vay tin tưởng người đi vay sẽ hoàn trả tiền vay, sẽ sử dụng
vốn vay có hiệu quả. Tuy nhiên, lòng tin thể hiện ở uy tín, tài sản bảo đảm của
1
2
khách hàng hay sự bảo lãnh của bên thứ ba. Điều này rất quan trọng vì nó tạo
nên sự an toàn cho hoạt động tín dụng của ngân hàng.
* Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn có thời hạn. Nếu không có
thời hạn thì không thể gọi là quan hệ tín dụng hoàn chỉnh.
Thời hạn trong quan hệ tín dụng phụ thuộc vào thỏa thuận giữa ngân hàng
và khách hàng. Để xác định thời hạn vay ngân hàng căn cứ tính hợp lý giữa
thời hạn đi vay và thời hạn cho vay vốn để giảm thiểu rủi ro thanh khoản. Còn
khách hàng xác định dựa trên cơ sở chu kì sản xuất kinh doanh, thời điểm hình
thành nguồn thu của mình.
* Tín dụng ngân hàng mang tính hoàn trả cả gốc và lãi.
Hoàn trả là thuộc tính vốn có của tín dụng. Vì vốn cho vay của ngân hàng
là vốn huy động của những người tạm thời thừa nên sau một thời gian nhất định
ngân hàng phải trả lại cho người ký thác. Mặt khác, ngân hàng cần phải có
nguồn để bù đắp chi phí hoạt động như: khấu hao tài sản cố định, trả lương cán
bộ công nhân viên, chi phí văn phòng phẩm… nên người vay vốn ngoài việc trả
nợ gốc còn phải trả cho ngân hàng một khoản lãi.
Ngoài ra, trong nền kinh tế thị trường tín dụng còn mang các đặc trưng
sau:
- Hoạt động tín dụng luôn bị chi phối bởi các quy luật kinh tế khách quan
của thị trường: Quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị, quy luật
lưu thông tiền tệ.
thiếu hụt tạm thời. Tín dụng vốn lưu động bao gồm: cho vay dự trữ hàng hóa,
cho vay chi phí sản xuất, cho vay để thanh toán các khoản nợ dưới hình thức
chiết khấu kỳ phiếu.
- Tín dụng vốn cố định: là loại tín dụng được sử dụng để hình thành tài sản
cố định, có nghĩa là đầu tư để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ
thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các xí nghiệp và công trình mới.
* Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn.
- Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa: là loại tín dụng cấp cho các
nhà doanh nghiệp, các chủ thể kinh doanh để tiến hành sản xuất và lưu thông
hàng hóa.
- Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng cấp cho các cá nhân để đáp ứng nhu
cầu tiêu dùng như: mua sắm nhà cửa, xe cộ, các loại hàng hóa bền chắc như tủ
lạnh, điều hòa, máy giặt…
1
4
* Căn cứ vào xuất xứ của tín dụng.
- Tín dụng gián tiếp: là hình thức cấp tín dụng thông qua một trung gian
tài chính như NHTM hoặc tổ chức tín dụng khác.
- Tín dụng trực tiếp: là hình thức cấp tín dụng giữa người có tiền (hoặc
hàng hóa) với người cần sử dụng tiền (hoặc hàng hóa) đó, không cần phải
thông qua một trung gian tài chính nào cả.
* Căn cứ vào mức độ đảm bảo.
- Tín dụng có đảm bảo: là hình thức cấp tín dụng có tài sản hoặc người
bảo lãnh đứng ra làm đảm bảo cho khoản nợ vay.
- Tín dụng không có đảm bảo: là hình thức tín dụng không có tài sản hoặc
người bảo lãnh đảm bảo cho khoản nợ vay.
1.2.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với sự phát triển của DNVVN
* Tín dụng ngân hàng góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho doanh
sản xuất mở rộng, phát triển các ngành nghề mũi nhọn.
* Tín dụng ngân hàng giúp các DNVVN tổ chức sản xuất kinh doanh có
hiệu quả từ đó góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của DNVVN trên thị
trường.
Đặc trưng của tín dụng ngân hàng không chỉ là tài trợ vốn mà còn phải
đảm bảo hoàn trả gốc và lãi đúng hạn. Do vậy khi sử dụng vốn vay các doanh
nghiệp không phải chỉ thu hồi vốn đủ mà còn phải tìm mọi biện pháp sử dụng
vốn sao cho có hiệu quả nhất. Mặt khác, các ngân hàng chỉ cho vay khi đã thẩm
định đầy đủ, kỹ càng mọi yếu tố liên quan đến doanh nghiệp, trong đó đặc biệt
là tính hiệu quả và khả thi của phương án, dự án kinh doanh cần tài trợ vốn. Vì
vậy, ngay từ khi thiết lập phương án sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp đã
phải nghiên cứu và phân tích kỹ về phương án của mình để có thể tăng tính khả
thi của phương án, tăng cường sự tin tưởng của ngân hàng khi quyết định tài
trợ. Ngoài ra trong quá trình cấp tín dụng ngân hàng còn tư vấn giúp cho các
doanh nghiệp có các quyết định đầu tư tốt nhất, đem lại lợi nhuận cao nhất cho
doanh nghiệp. Đồng thời công tác kiểm tra định kỳ của các ngân hàng đã buộc
các doanh nghiệp phải làm ăn đứng đắn, minh bạch, tuân thủ pháp luật. Trên cơ
sở đó năng lực cạnh tranh của DNVVN sẽ ngày càng được nâng cao trên thị
trường.
* Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình cổ phần hoá các
DNVVN thuộc loại hình doanh nghiệp Nhà nước.
1
6
Trong thời gian qua Nhà nước ta đã và đang tập trung tiến hành cổ phần
hóa các DNNN. Cụ thể, các doanh nghiệp sau khi có quyết định cổ phần hóa sẽ
tự phát hành cổ phiếu, trái phiếu hay các hình thức huy động vốn khác để có
vốn hoạt động. Trước tình hình đó các ngân hàng cũng tập trung phát triển các
dịch vụ trên thị trường chứng khoán nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp huy động
từ phía ngân hàng thông qua hoạt động tín dụng là chủ yếu. Qua đó có thể thấy,
việc mở rộng tín dụng ngân hàng đối với DNVVN là thực sự quan trọng, cần
thiết và đúng đắn, phù hợp với chủ trương, định hướng chính sách tăng cường
hỗ trợ phát triển DNVVN của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới.
1.2.3. Các phương thức cho vay áp dụng đối với DNVVN
a. Cho vay ngắn hạn
Tín dụng ngắn hạn của ngân hàng dành cho doanh nghiệp là loại cho vay
có thời hạn dưới một năm, thường được dùng để bổ sung vốn lưu động thiếu
hụt tạm thời, phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
* Cho vay ứng trước: là phương thức tài trợ trực tiếp cho người đi vay để
đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn. Bao gồm:
- Cho vay từng lần: là phương thứ cho vay dựa trên cơ sở nhu cầu tín dụng
của từng đối tượng vay cụ thể, như cho vay để mua nguyên vật liệu đối với các
doanh nghiệp sản xuất, cho vay dự trữ hàng hóa để bán đối với các doanh
nghiệp thương mại… Đây là loại cho vay có kì hạn nợ cụ thể gắn liền với chu
kì ngân quỹ của doanh nghiệp. Thông thường, việc xét duyệt cho vay dựa trên
cơ sở hợp đồng kinh tế, đơn đặt hàng, các hóa đơn bán hàng, bản kê bán thành
phẩm hoặc thành phẩm, hoặc có thể dựa trên dự toán ngân sách cho từng loại
tài sản lưu động cụ thể. Loại hình cho vay này thường áp dụng đối với các
doanh nghiệp có trình độ quản trị tài chính yếu, và có nhiều rủi ro hoặc không
có quan hệ tín dụng thường xuyên với ngân hàng. Trên thực tế, các doanh
nghiệp mới thành lập, các doanh nghiệp nhỏ thường áp dụng kỹ thuật cho vay
này.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: là phương pháp cho vay để đáp ứng toàn
bộ nhu cầu thiếu hụt vốn lưu động theo hạn mức tín dụng đã cam kết. Hạn mức
tín dụng là giới hạn tối đa số tiền cho vay mà ngân hàng có thể cung cấp cho
một khách hàng trong một thời hạn nhất định. Ngân hàng xác định hạn mức tín
dụng trên cơ sở phân tích toàn diện các mặt hoạt động của doanh nghiệp và
doanh nghiệp được sử dụng một cách chủ động tiền vay trong hạn mức thỏa
1
cho vay của một tổ chức tài chính, khi người cho vay muốn phân tán tiền vay
để hạn chế rủi ro; đặc biệt đối với các tổ chức tài chính nhỏ, có trình độ nghiệp
vụ chưa cao muốn thông qua nghiệp vụ này để có thể tiếp cận, học hỏi kinh
1
9
nghiệm, kỹ thuật cho vay của các tổ chức tài chính lớn. Hơn nữa, đối với doanh
nghiệp đi vay thì hình thức cho vay này có thể đáp ứng ngay một lần nhu cầu
vốn lớn, hạn chế chi phí về thời gian và tiền bạc khi phải vay nhiều lần ở nhiều
tổ chức tài chính.
1.3. MỞ RỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
VỪA VÀ NHỎ
1.3.1. Sự cần thiết mở rộng hoạt động tín dụng ngân hàng đối với DNVVN
a. Đối với ngân hàng
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế trước áp lực cạnh tranh ngày
càng gay gắt đặc biệt là với các đối thủ ngân hàng nước ngoài. Yêu cầu cấp
bách đặt ra cho các NHTM Việt Nam phải tiến hành ngay công cuộc đổi mới
một cách toàn diện, một trong những nội dung quan trọng là hoạt động tín dụng
- một hoạt động cơ bản, chiếm tỷ trọng lớn (70% - 80%) trên tổng tài sản có
sinh lời và là hoạt động mang lại nguồn thu nhập chính cho các ngân hàng Việt
Nam.
Hiện nay, chất lượng tín dụng của các NHTM Việt Nam còn kém, tỷ trọng
nợ quá hạn, nợ xấu khá cao. Đặc biệt là các NHTM Nhà nước trong cơ cấu các
khoản mục cho vay, tỷ trọng cho vay các doanh nghiệp Nhà nước là chủ yếu một thành phần kinh tế hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, bước vào hội nhập
kinh tế quốc tế, nguy cơ nợ quá hạn, nợ xấu tiếp tục gia tăng từ khu vực này là
điều khó tránh khỏi. Đòi hỏi các NHTM cần phải chuyển đổi cơ cấu danh mục
đầu tư cho vay, mở rộng cho vay các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (mà chủ
yếu là các DNVVN và kinh tế tư nhân) nhằm phân tán rủi ro giúp các ngân
hàng vừa mở rộng vừa nâng cao chất lượng tín dụng.
Mở rộng tín dụng ngân hàng sẽ giúp các doanh nghiệp có thêm nhiều cơ hội để
tiếp cận với nguồn vốn tín dụng của ngân hàng hơn, vì hiện tại khả năng tiếp
cận vốn ngân hàng của DNVVN còn rất nhiều hạn chế, trở ngại và khó khăn.
Được cấp vốn tín dụng ngân hàng sẽ là một động lực quan trọng giúp DNVVN
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng tính
cạnh tranh - yếu tố quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp. Đồng thời
những năng lực, thế mạnh của từng DNVVN sẽ không ngừng được bộc lộ và
phát huy.
c. Đối với nền kinh tế
2
1
Việc mở rộng tín dụng ngân hàng đối với DNVVN góp phần làm cho
nguồn vốn được luân chuyển hiệu quả, đến những nơi đang thực sự khát vốn
trong nền kinh tế. Một mặt nó thúc đẩy sự phát triển của chính các doanh
nghiệp, mặt khác là cách thức để tăng thu cho Ngân sách Nhà nước thông qua
việc nộp thuế và các nghĩa vụ khác của DNVVN đối với Nhà nước. Ngoài ra,
việc mở rộng tín dụng ngân hàng đối với DNVVN buộc các ngân hàng phải
phát huy tối đa năng lực của mình và tìm các biện pháp để có thể huy động
vốn, tăng cường tập trung, tích tụ những nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, từ đó
mọi nguồn lực về vốn đã được khai thác một cách tối ưu để phục vụ cho sự
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội.
1.3.2. Khái niệm mở rộng tín dụng
Mở rộng là việc làm cho quy mô, phạm vi lớn hơn trước. Mở rộng tín
dụng ngân hàng là sự tăng lên về doanh số, dư nợ, sản phẩm tín dụng. Như vậy
mở rộng tín dụng ngân hàng đối với DNVVN là những hoạt động tín dụng của
ngân hàng nhằm thỏa mãn và mở rộng hơn nữa đối tượng khách hàng là các
DNVVN. Việc mở rộng tín dụng ngân hàng đối với các DNVVN được xác
lần; cho vay theo hạn mức thấu chi; cho vay đồng tài trợ; cho vay cầm cố giấy
tờ có giá… các doanh nghiệp có thể dễ dàng lựa chọn các hình thức tín dụng
phù hợp với yêu cầu sản xuất kinh doanh của mình.
Như vậy đối với ngân hàng, để mở rộng tín dụng đối với DNVVN ngân
hàng cần phải:
- Mở rộng mạng lưới cấp tín dụng trên cơ sở đó tăng khả năng tiếp cận và
làm đa dạng hóa đối tượng khách hàng.
- Tăng tỷ trọng tín dụng đối với DNVVN trong tổng dư nợ.
- Tiến hành mở rộng thị phần cho vay đối với DNVVN.
1.3.3. Các tiêu thức đánh giá mức độ mở rộng tín dụng ngân hàng đối với
DNVVN
Việc mở rộng tín dụng ngân hàng đối với DNVVN được thể hiện thông
qua khả năng thỏa mãn ngày càng nhiều hơn nhu cầu của khách hàng là
DNVVN về khối lượng tín dụng, lĩnh vực cấp tín dụng, thông qua việc đa dạng
hóa các sản phẩm tín dụng cho các DNVVN. Trên cơ sở chung đó, mức độ mở
rộng tín dụng ngân hàng DNVVN được đánh giá cụ thể qua các chỉ tiêu sau:
a. Mở rộng số lượng khách hàng DNVVN
* Mức tăng số lượng khách hàng DNVVN.
2
3
MSL = St - St - 1
Trong đó:
MSL: là mức tăng số lượng khách hàng là DNVVN.
St: là số lượng khách hàng DNVVN năm thứ t.
St - 1: là số lượng khách hàng DNVVN năm thứ (t - 1).
* Tốc độ tăng số lượng khách hàng DNVVN.
Trong đó:
qua các năm phản ánh quy mô và xu hướng của hoạt động tín dụng là mở rộng
hay thu hẹp.
* Mức tăng doanh số cho vay DNVVN.
MDS = DSt - DSt - 1
Trong đó:
MDS: là mức tăng doanh số cho vay đối với DNVVN.
DSt: là doanh số cho vay đối với DNVVN năm thứ t.
DSt - 1: là doanh số cho vay đối với DNVVN năm thứ (t - 1).
* Tốc độ tăng doanh số cho vay đối với DNVVN.
Trong đó:
MDS
TĐDS = -------- *100%
DSt - 1
TĐDS: Tốc độ doanh số cho vay đối với DNVVN.
MDS: là mức tăng doanh số cho vay đối với DNVVN.
DSt - 1: là doanh số cho vay đối với DNVVN năm thứ (t - 1).
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ thay đổi doanh số cho vay đối với DNVVN
năm nay so với năm trước.
* Tỷ trọng doanh số cho vay DNVVN so với tổng doanh số cho vay.
DS*
TTDS = ------- *100%
DS
Trong đó:
TTDS: Tỷ trọng doanh số cho vay đối với DNVVN so với tổng doanh số
cho vay.