Báo cáo tốt nghiệp
"Giải pháp mở rộng hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng tại
Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội"
Mục lục
Báo cáo tốt nghiệp 1
Chương I 5
Hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng 5
I. Thẻ tín dụng - sản phẩm đa tiện ích của ngân hàng : 5
1. Lịch sử hình thành : 5
2. Khái niệm, đặc điểm chung của thẻ tín dụng: 7
2.1. Khái niệm : 7
2.2. Đặc điểm chung : 8
II.Các tiện ích của thẻ tín dụng : 9
1. Tiện ích dành cho khách hàng : 9
2.Tiện ích dành cho các điểm tiếp nhận thẻ: 10
3. Lợi ích đối với nền kinh tế: 11
III. Tác động của thẻ tín dụng đối với hoạt động ngân hàng : 11
1. Tác động đến lợi nhuận : 11
2. Tác động đến công tác thanh toán : 13
3.Tác động tới công tác huy động vốn quĩ : 13
4. Tác động tới công tác tín dụng : 15
các hoạt động thanh toán của ngân hàng.
Kinh doanh thẻ tín dụng hiện vẫn là một lĩnh vực hoàn toàn mới mẻ
ở Việt Nam. Việc phát triển thẻ đồng nghĩa với một cuộc cách mạng trong
phương thức giao dịch và mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế. Để đẩy
nhanh tốc độ “ công nghiệp hoá, hiện đại hoá” ngân hàng và nhanh chóng
đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập với nền kinh tế thế giới thì thẻ tín dụng
là một trong những công cụ hữu hiệu. Bên cạnh đó việc phát triển thanh
toán bằng thẻ cũng sẽ là điều kiện để chúng ta xây dựng một nền văn minh
tiền tệ.
Mặc dù đã thử nghiệm ở Việt Nam một thời gian nhưng hiện nay
việc phát triển thẻ tín dụng và thị trường thẻ tín dụng còn gặp rất nhiều khó
khăn. Đây đang là một vấn đề bức xúc đối với các ngân hàng.
Nhận thấy vai trò của thẻ tín dụng và lợi ích thiết thực mà nó mang
lại đối với nền kinh tế đất nước và thị trường thẻ thực sự là thị trường tiềm
năng nên em quyết định chọn đề tài "Giải pháp mở rộng hoạt động kinh
doanh thẻ tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội"
làm chuyên đề tốt nghiệp.
Chuyên đề được chia làm 3 phần chính:
Chương I: Hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng.
Chương II : Thực trạng công tác phát hành và kinh doanh thẻ tín
dụng tại Chi nhánh ngân hàng Ngoại thương Hà Nội.
Chương III : Giải pháp mở rộng hoạt động kinh doanh thẻ tín
dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội.
sẽ được cấp thẻ, dùng để thanh toán cho các thương vụ bán lẻ hàng hoá
dịch vụ. Các cơ sở này, khi nhận được giao dịch sẽ liên hệ với ngân hàng,
nếu được phép chuẩn chi họ sẽ thực hiện giao dịch và đòi tiền sau đối với
ngân hàng.
Với lợi ích của việc thanh toán này, càng ngày càng có nhiều tổ chức
tín dụng tham gia thanh toán. Năm 1955, hàng loạt thẻ mới như Trip
Change, Golden Key, Guornet Club rồi đến Carte Blanche và American
Express ra đời và thống lĩnh thị trường. Tuy nhiên, để hình thức thanh toán
thẻ có thể thu hút được khách hàng cần phải có một mạng lưới thanh toán
lớn, không chỉ trong phạm vi một địa phương, một quốc gia mà trên phạm
vi toàn cầu. Đứng trước đòi hỏi đó, Interbank (MasterCharge) và Bank of
American (Bank Americard) đã xây dựng một hệ thống các quy tắc, tiêu
chuẩn trong xử lý, thanh toán thẻ toàn cầu. Năm 1977, Bank Americard trở
thành Visa USA và sau đó trở thành tổ chức thẻ quốc tế Visa. Năm 1979,
MasterCharge cũng trở thành một tổ chức thẻ quốc tế lớn khác là
Mastercard.
Ngày nay, Mastercard và Visacard là hai loại thẻ lưu hành phổ biến
nhất. Visa chiếm khoảng 50% thị phần phát hành và hơn 45% thị phần
thanh toán, kế đến là Mastercard với 30% thị phần phát hành và 25% thị
phần thanh toán.
Do thẻ ngày nay được sử dụng rộng rãi, các công ty và các ngân
hàng liên kết với nhau để khai thác lĩnh vực thu hút nhiều lợi nhuận này.
Thẻ dần dần được xem như một công cụ văn minh, thuận lợi trong các cuộc
giao dịch mua bán. Bên cạnh các loại thẻ như Mastercard, Visa, thẻ
American Express (Amex) ra đời năm 1958, JCB xuất phát từ Nhật cũng
vươn lên mạnh mẽ, được sử dụng rộng rãi trên toàn cầu và cùng chia những
thị phần rộng lớn.
Với những tiện ích mang lại, thẻ ngân hàng đã chinh phục được
những khách hàng khó tính nhất và mở ra những thị trường đầy hứa hẹn.
Có thể khẳng định rằng thẻ ngân hàng vẫn đang và sẽ tiếp tục gặt hái được
Khi khách hàng sử dụng thẻ tín dụng để mua hàng hoá và dịch vụ tức
là họ đang sử dụng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng.
Ngân hàng đảm nhận vai trò kế toán hộ cho các chủ thẻ trên tài khoản tín
dụng. Số dư phát sinh sẽ được ghi vào bên nợ của tài khoản, được hiểu là
một khoản cho vay. Khách hàng phải tiến hành thanh toán theo sao kê khi
đến hạn. Tín dụng thẻ có tính tuần hoàn và cho phép người sử dụng mở
rộng khả năng tài chính trong ngắn hạn. Chỉ cần khách hàng tuân thủ đúng
các qui định hợp đồng sử dụng thẻ thì sẽ luôn có quyền sử dụng thẻ.
2.2. Đặc điểm chung :
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều thẻ tín dụng do các tổ chức phát
hành như Visacard, Mastercard, American express, JCB, Diner club
…Phạm vi sử dụng của các loại thẻ này trên toàn thế giới, trong đó phải kể
đến 2 loại thẻ là Visacard và Mastercard, số điểm tiếp nhận 2 loại thẻ này
lên đến hàng triệu điểm.
Các loại thẻ đều có cấu tạo giống nhau, có kích thước tiêu chuẩn
6*10 cm. Hiện nay, thẻ có thể được sản xuất bằng công nghệ thẻ từ tính
hoặc thẻ thông minh. Số lượng thẻ từ tính hiện tại đang được dùng nhiều
hơn, vì nó là loại thẻ ra đời sớm hơn, nhưng nó cũng đã bộc lộ một số
nhược điểm về kỹ thuật và độ bảo mật không cao, dễ bị làm giả. Do đó,
công nghệ thẻ thông minh ra đời và nhanh chóng được ứng dụng. Tuy thẻ
thông minh có thể khắc phục được nhược điểm của thẻ từ tính nhưng giá
thành để sản xuất thì quá đắt. Việc phát hành và thanh toán thẻ tín dụng
thường đi đôi với việc thiết lập các hệ thống đầu cuối như máy gửi, rút tiền
tự động ATM, máy thanh toán thẻ tại các điểm bán hàng(POS).
Thanh toán bằng thẻ có nhiều tính năng, ưu điểm hơn hẳn các
phương thức thanh toán thông thường khác, đó là:
2.2.1. Tính linh hoạt.
Với nhiều loại thẻ đa dạng, phong phú, thẻ thích hợp với mọi đối
tượng khách hàng, từ những khách hàng có thu nhập thấp (thẻ thường) đến
những khách hàng có thu nhập cao (thẻ vàng), khách hàng có nhu cầu rút
Với sự trợ giúp của tiến bộ khoa học công nghệ trong lĩnh vực ngân
hàng, công nghệ sản xuất thẻ đã đến trình độ cao cộng với các biện pháp
chống làm giả mạo như mã hoá thông số từ tính hoặc kỹ thuật vi mạch điện
tử đã giúp cho thẻ rất khó làm giả .
Một điểm lợi lớn mà thẻ tín dụng đem lại cho khách hàng là một
dịch vụ “ chi tiêu trước trả tiền sau”. Các ngân hàng phát hành thẻ cấp một
hạn mức tín dụng và chủ thẻ được phép chi tiêu trong hạn mức tín dụng đó
mà không phải trả tiền ngay. Theo qui định của các ngân hàng, chủ thẻ có
thể sử dụng hạn mức tín dụng và chỉ phải thanh toán cho ngân hàng một
phần nhất định khoản tiền đã sữ dụng khi đến hạn. Đặc biệt chủ thẻ có thể
sử dụng khoản tín dụng đó không chịu lãi trong thời hạn 10- 45 ngày và
nếu chủ thẻ trả nợ toàn bộ số dư sao kê, chủ thẻ sẽ không phải trả một
khoản lãi nào cho ngân hàng. Tuy nhiên, trên thực tế có rất ít khách hàng
thanh toán các khoản theo sao kê. Phần lớn họ chỉ thanh toán 1 khoản lớn
hơn hoặc bằng số tiền tối thiểu mà ngân hàng qui định và chấp nhận trả lại
cho số dư còn lại. Hơn thế chi phí thực tế vào việc sử dụng thẻ không phải
là lớn. Ngoài khoản lệ phí bắt buộc thường niên mà chủ thẻ phải nộp
(200.000VND cho thẻ vàng và 100.000 VND cho thẻ chuẩn ) hầu như toàn
bộ các khoản giao dịch phát sinh của chủ thẻ sẽ không bị tính lãi nếu được
thanh toán theo đúng sao kê. Hơn nữa sử dụng thẻ sẻ giúp các chủ thẻ luôn
kiểm soát và tự tính toán được các khoản phí và lãi nếu trả cho mỗi khoản
giao dịch .
2.Tiện ích dành cho các điểm tiếp nhận thẻ:
Các điểm tiếp nhận thẻ là nơi cung ứng hàng hoá và dịch vụ chấp
nhận việc thanh toán bằng thẻ. Song song với các ngân hàng, các điểm tiếp
nhận thẻ cũng phát triển ngày một nhiều. Việc thanh toán thẻ của ngân
hàng sẽ không thực hiện được nếu thiếu sự góp mặt của các điểm tiếp nhận
thẻ. Có thể nói, mối quan hệ giữa ngân hàng phát hành và các điểm tiếp
nhận thẻ là mối quan hệ 2 chiều. Các điểm tiếp nhận thẻ là khách hàng của
ngân hàng, hàng hoá mà họ được ngân hàng cung cấp khi tham gia vào
chuẩn là 100.000VND. Đây là số tiền không nhỏ đối với chủ thẻ, nhưng
với ngân hàng phát hành mà số lượng phát hành đáng kể thì khoản thu sẽ
lên đến con số triệu .
Các khoản giao dịch rút tiền mặt mang lại một khoản thu quan trọng
cho ngân hàng. Trong tổng doanh số hoạt động thẻ bình quân qua các năm
có đên khoảng 97- 98% là doanh số rút tiền mặt. Phí rút tiền mặt ( tại ngân
hàng hay tại các máy rút tiền tự động ATM ) lên tới 4% cho ngân hàng phát
hành ( lớn hơn lãi suất cho vay dài hạn, vì ngân hàng không khuyến khích
rút tiền mặt ra khỏi ngân hàng ). Ngoài ra, chủ thẻ cũng phải chịu lãi ngày,
từ ngày giao dịch phát sinh cho đến ngày sao kê. Đến hạn thanh toán nếu
chủ thẻ thanh toán toàn bộ dư nợ cuối kỳ đúng hạn, chủ thẻ sẽ được miễn
lãi cho các giao dịch tiền mặt từ ngày sao kê đến ngày chủ thẻ trả nợ theo
hạn. Nếu chủ thẻ không trả hoặc trả một phần dư nợ, ngân hàng sẽ tiếp tục
tính lãi đối với giao dịch rút tiền mặt chưa được thanh toán kể từ ngày sao
kê và khoản lãi này sẽ được thể hiện trên sao kê kỳ kế tiếp .
Với giao dịch mua bán hàng hoá, dịch vụ tại các điểm tiếp nhận thẻ,
theo nguyên tắc chủ thẻ sẽ không phải trả phí cho ngân hàng. Ngân hàng
vẫn duy trì được nguồn thu cố định của mình thông qua khoản phí do cơ sở
chấp nhận thẻ trả. Đây là khoản phí liên quan tới việc thanh toán thẻ tín
dụng theo % tính trên trị giá giao dịch thẻ. Khoản phí này là 3% cho mọi
giao dịch. Hơn nữa ngân hàng vẫn thu được một khoản lãi nếu khách hàng
chỉ thanh toán một phần số dư khi đến ngày sao kê .
Nguồn thu của ngân hàng còn đến từ khoản phí chậm trả trên số dư
thanh toán tối thiểu. Hàng tháng ứng với mỗi sao kê, ngân hàng buộc khách
hàng phải thanh toán một số tiền tối thiểu. Nếu khách hàng chỉ trả một
phần số tiền này, phần dư nợ tối thiểu còn lại sẽ phải chịu phí chậm trả lên
tới 3%.
Đối với các ngân hàng đại lý, khi thực hiện thanh toán hộ cho ngân
hàng phát hành sẽ được hưởng một phần chiết khấu thương mại ( tỷ lệ do
tổ chức thẻ qui định ) khi tiến hành đòi tiền với ngân hàng phát hành thẻ.
cho thấy một điều là “ thẻ tín dụng làm tăng trưởng lượng vốn huy động
của ngân hàng”.
Sơ đồ 1 : Tác động của thẻ tín dụng tới công tác huy động vốn quỹ. (3)Cung ứng hàng hoá dịch vụ
(1) Cấp thẻ TD cho KH *Bước1:Ngân hàng phát hành cấp thẻ tín dụng cho chủ thẻ sau khi
hồ sơ xin sử dụng thẻ của chủ thẻ được chấp nhận.
*Bước2: Chủ thẻ sử dụng thẻ tín dụng để mua hàng hoá, dịch vụ tại
các điểm chấp nhận thẻ.
*Bước3: Các cơ sở chấp nhận thẻ cung ứng hàng hoá, dịch vụ cho
chủ thẻ.
*Bước4: Các cơ sở chấp nhận thẻ gửi hoá đơn thanh toán thẻ cho
ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng thanh toán.
(4)
Gửi
hoá
đơn
thanh
(6)
Thanh
toán
nợ cho
Ngân
Trong qui trình thanh toán thẻ tín dụng, để thuận tiện trong thanh
toán, các cơ sở chấp nhận thẻ khi ký hợp đồng tiếp nhận thẻ thường mở tài
khoản tại ngân hàng thanh toán. Mỗi khi có giao dịch phát sinh, các cơ sở
chấp nhận thẻ gửi hoá đơn thanh toán ( in theo mẫu ) lên ngân hàng. Ngân
hàng sẽ làm căn cứ để ghi có vào tài khoản tiền gửi của điểm tiếp nhận thẻ.
Điều đó làm cho số dư tài khoản tiền gửi tăng lên và làm tăng trưởng ngân
quỹ.
Sự gia tăng vốn quỹ được nhân lên gấp đôi khi chủ thẻ thanh toán nợ
cho ngân hàng. Mỗi khoản giao dịch là một khoản vay. Tại ngày đáo hạn
theo sao kê, khi chủ thẻ thanh toán cho ngân hàng sẽ làm tăng quĩ tiền mặt
thực tế. ở đây ta xét giới hạn trong trường hợp ngân hàng thanh toán cũng
là ngân hàng phát hành.
Với doanh số thanh toán hàng năm lên đến hàng trăm tỷ USD, chắc
chắn có một phần không nhỏ vốn đọng lại trong toàn bộ hệ thống các ngân
hàng tham gia phát hành, thanh toán thẻ tín dụng. Điều này chứng tỏ rằng:
bản thân việc phát triển thẻ tín dụng cũng đem lại tác động tích cực đến
lượng vốn huy động của ngân hàng.
4. Tác động tới công tác tín dụng :
Tín dụng thẻ rất an toàn so với các hình thức tín dụng khác. Nó
thường được phát hành dựa trên cơ sở thế chấp hoặc dựa trên theo dõi thu
về thẻ tín dụng do Tổng giám đốc ngân hàng đó qui định.
Thẻ tín dụng được phát hành dựa trên nguyên tắc tín dụng có bảo
đảm. Để có quyền sử dụng thẻ, khách hàng phải đáp ứng được các yêu cầu
về tín chất, thế chấp và các điều kiện đảm bảo khác. Vì hình thức thẻ tín
dụng nằm trong nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn của ngân hàng nên nguồn vốn
phát hành chủ yếu vốn huy động ngắn hạn.
1.3. Thủ tục phát hành :
Việc phát hành thẻ tuân theo các bước sau :
* Bước 1: Khách hàng gửi đơn và các hồ sơ cần thiết yêu cầu được
sử dụng thẻ tín dụng đến ngân hàng.
* Bước 2: Khi nhận được hồ sơ yêu cầu phát hành thẻ của khách
hàng, bộ phận phát hành thẻ sẽ tiến hành thẩm định và ra quyết định chấp
nhận hoặc từ chối phát hành. Với những hồ sơ được chấp nhận, gửi thông
báo quyết định chấp nhận phát hành cùng với hợp đồng sử dụng thẻ cho
khách hàng tới trung tâm phát hành thẻ đồng thời xác định các hạn mức
cho khách hàng.
* Bước 3: Trung tâm thẻ sẽ tiến hành mở tài khoản thẻ tín dụng cho
khách hàng cập nhật hồ sơ và tiến hành in thẻ. Sau khi in xong thẻ và xác
định số PIN, thẻ được trao cho bộ phận phát hành thẻ để trao thẻ cho
khách hàng đảm bảo an toàn bí mật.
2. Cơ chế thanh toán:
Việc thanh toán thẻ tín dụng phải tuân theo các qui định của luật
pháp, luật lệ hiện hành của tổ chức thẻ quốc tế và các qui định của các ngân
hàng tham gia phát hành, thanh toán thẻ tín dụng.
2.1. Các chủ thể tham gia vào qui trình thanh toán thẻ tín dụng:
- Ngân hàng phát hành: là ngân hàng cung cấp tín dụng cho khách
hàng dưới hình thức thẻ tín dụng, tham gia vào quá trình thanh toán với tư
cách là chủ nợ và có trách nhiệm thanh toán lại cho ngân hàng thanh toán
và các điểm chấp nhận thẻ.
- Ngân hàng thanh toán: là hội viên của tổ chức thẻ tín dụng quốc tế
(6) Báo có cho NHTT
Chủ thẻ
(2) Cung cấp hỗn
hợp dịch vụ rút
ti
ề
n m
ặ
t(1)- Mua
hàng hoá
dịch vụ
hoặc rút
có cho
merchant
hoặc
NHĐLTT
(7)
Báo nợ
ngân
hàng
phát
hành
(8)Thanh toán
theo báo nợ của
t
ổ
ch
ứ
c th
ẻ
Qu
ố
c
(3)
Gửi
hoá
đơn
thanh
(9) Gửi sao kê
*Bước 10: Chủ thẻ phải thanh toán tối thiểu 20% số dư (bao gồm dư
nợ kỳ trước và tổng số phát sinh trong kỳ kể cả phí và lãi.)
Quá trình thông tin và thanh toán giữa ngân hàng thanh toán, ngân
hàng phát hành tổ chức thẻ quốc tế được thực hiện qua mạng ONLINE.
Còn giữa ngân hàng phát hành, ngân hàng thanh toán và các điểm tiếp nhận
thẻ có thể thực hiện bằng 2 cách: ONLINE ( thông tin về thẻ được kiểm tra
trực tiếp thông qua tiếp nối mạng với ngân hàng phát hành ) hoặc
OFFLINE ( kiểm tra tính chính xác của thẻ thông qua việc định dạng mã
- 21 -
số bằng máy cà tay ). Thanh toán bằng ONLINE chỉ mất 10 giây cho mỗi
giao dịch, qui trình thanh toán khép kín và tốc độ thanh toán thẻ đã đưa thẻ
tín dụng là dịch vụ thanh toán điện tử hàng đầu của ngân hàng.
V. Rủi ro, quản lý phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh thẻ :
1. Các loại rủi ro trong kinh doanh thẻ:
Trong bất cứ một hoạt động kinh doanh thuộc bất cứ thuộc ngành
nào cũng hàm chứa rủi ro. Hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng của ngân
hàng củng không nằm ngoài quy luật này. Theo thống kê của tổ chức thẻ
quốc tế, doanh số thanh toán thẻ toàn cầu bao gồm ( thẻ VISA, Mastercard,
JCB, AMEX, ) năm 1996 đạt 1800 tỷ USD, năm 1997 đạt 2500 tỷ USD.
Trong đó mỗi năm các tổ chức thẻ quốc tế và các thành viên phải chi không
dưới 1% doanh số cho rủi ro và phòng ngưà rủi ro. Điều đó chứng tỏ việc
quản lý và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh thẻ của các tổ chức thẻ quốc
tế cũng như các thành viên là vô cùng quan trọng.
Rủi ro và nguy cơ rủi ro có thể xuất hiện bất cứ lúc nào, khâu nào
trong toàn bộ quá trình phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ.
1.1. Rủi ro trong khâu phát hành :
1.1.1. Đơn phát hành với các thông tin giả mạo ( Fraudulent
Applicatiopns):
Ngân hàng có thẻ phát hành thẻ cho khách hàng có đơn xin phát
khó quản lý vì nằm ngoài sự dự đoán của NHPH.
1.2.2. Thẻ mất cắp thất lạc ( Lost - Stolen Card ):
Chủ thẻ mất cắp bị hoặc thất lạc thẻ và các thẻ được 1 người khác sử
dụng trước khi chủ thẻ kịp thông báo cho ngân hàng phát hành để có các
biện pháp hạn chế sử dụng hoặc thu hồi thẻ. Các tổ chức tội phạm có thẻ in
nổi và mã hoá lại các thẻ để thực hiện các giao dịch thẻ giả. Trường hợp
này dễ dẫn đến rủi ro cho chủ thẻ hoặc ngân hàng phát hành. Loại rủi ro
này chiếm tỷ lệ lớn nhất trong các loại, chiếm xấp xỉ 99%.
1.2.3. Thanh toán hàng hoá , dịch vụ bằng thẻ qua thư , điện thoại
(Mail, Telephone order):
- 23 -
Cơ sở chấp nhận thẻ cung cấp hàng hoá dịch vụ theo yêu cầu của
chủ thẻ qua thư hoặc điện thoại trên cơ sở cá thông tin về thẻ như : Loại
thẻ, số thẻ, ngày hiệu lực, tên chủ thẻ. Trong trường hợp chủ thẻ chính thức
không phải là khách đặt mua hàng CSCNT thì giao dịch đó của CSNT bị
NHPH từ chối thanh toán. Trường hợp này dễ dẫn đến rủi ro cho CSCT
hoặc NHTT.
1.2.4. Nhân viên CSCNT in nhiều hoá đơn thanh toán của một thẻ
(Multipe imprints):
Khi thực hiện giao dịch, nhân viên của CSCNT đã cố tình in ra nhiều
bộ hoá đơn thanh toán thẻ nhưng chỉ giao một bộ hoá đơn cho chủ thẻ ký
để thanh toán giao dịch. Sau đó nhân viên của CSCNT mạo chữ ký thật của
chủ thẻ để nộp hoá đơn thanh toán cho NHTT.
1.2.5. Tạo băng từ giả :
Là loại giả mạo giao dịch thẻ sử dụng kỹ thuật cộng nghệ cao. Trên
cơ sở thu nhập các thông tin trên băng từ của thẻ thật thanh toán tại các
CSCNT, các tổ chức tội phạm làm thẻ giả đã sử dụng các phầm mềm riêng
đã mã hoá và in tạo các băng từ trên thẻ giả. Sau đó chúng thực hiện các
giao dịch giả mạo. Trường hợp này dẫn đến rủi ro cho NHTT hoặc cho
Hiện nay, Mastercard & Visa International là hai tổ chức phát hành
và thanh toán thẻ lớn nhất thế giới. Với Visa card, người ta biết đến nó lần
đầu tiên vào năm 1977 khi Banh of American liên kết với nhiều ngân hàng
khác ở nhiều bang để phát hành và thanh toán một loại thẻ tín dụng trên
toàn nước Mỹ. Sự liên kết ban đầu chỉ là biện pháp tránh tính cạnh tranh và
phân chia thị trường. Nhưng chính sự liên kết này đã tạo nên một thế mạnh
nổi trội của thẻ tín dụng trong các phương tiện thanh toán tiêu dùng và nó
nhanh chóng phát triển vượt ra khỏi biên giới quốc gia. Visa International
tiếp nhận thêm các thành viên mới là các ngân hàng nước ngoài. Mạng lưới
thanh toán của nó rộng khắp toàn cầu tạo nên sức lưu hành rộng rãi của nó
trên khắp toàn cầu. Thẻ Visa là loại thẻ có doanh số thanh toán đứng đầu
thế giới.
Tổ chức thẻ quốc tế Mastercard International đuợc hình thành do một
hãng dầu lửa lớn nhất phát hành. Từ năm 1979 cũng theo xu hướng quốc tế
hoá thẻ tín dụng, tổ chức này kết nạp thêm các thành viên và trở thành một
tổ chức thẻ quốc tế có quy mô rộng lớn không kém Visa International.
- 25 -
Sự tồn tại của hai tổ chức thẻ nói trên và các tổ chức thẻ khác chính
là cơ sở để thẻ tín dụng taọ lập được thế mạnh trong thanh toán quốc tế.
Tham gia vào tổ chức này, thẻ tín dụng được phát hành bởi một ngân hàng
thành viên nào cũng có sức lưu thông ở tại các điểm tiếp nhận thẻ của các
thành viên tham gia.
MasterCard & Visa đã đạt được nhiều thành công lớn trong kinh
doanh thẻ. Thành công của hai tổ chức này không chỉ dừng lại ở mức
doanh số thanh toán kỷ lục mà còn ở tính phổ dụng toàn cầu của loại thẻ
phát hành hứa hẹn về triển vọng một thị trường nhiều thuận lợi cho hoạt
động của hai tổ chức này.
2. Một số thị trường thẻ tín dụng nổi bật trên thế giới:
2.1. Thị trường thẻ tín dụng ở Mỹ: