ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG NGUỒN LỢI RONG MƠ TẠI QUẢNG NGÃI VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP KHAI THÁC VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG - Pdf 37

UBND TỈNH QUẢNG NGÃI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VIỆN NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
  
NHA TRANG
  

BÁO CÁO TÓM TẮT TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Tên đề tài:

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG NGUỒN LỢI
RONG MƠ TẠI QUẢNG NGÃI
VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP KHAI THÁC VÀ
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Mã số:

08/2012/HĐ-ĐTĐTCB

Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ
Nha Trang, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Chủ nhiệm đề tài: TS. Lê Như Hậu

 NHA TRANG, 2014


UBND TỈNH QUẢNG NGÃI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VIỆN NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
  
NHA TRANG

làm thức ăn gia súc, làm phân bón, làm thuốc chữa bệnh và xuất khẩu nguyên liệu.
Ở tỉnh Quảng Ngãi, rong Mơ phân bố phổ biến trên các nền đáy cứng ở vùng triều
và dưới triều, hình thành các bãi rong Mơ lớn từ 20 ha như ở vũng Me thuộc xã Phổ Châu,
cho đến 100 ha từ xã Bình Hải đến xã Tịnh Khê và đến 133,5 ha quanh đảo Lý Sơn, nhiều
nơi đạt sinh lượng từ 0,5 kg tươi/m2 cho đến 3 kg tươi/m2 và có độ cao đến 3 m.
Trong những năm gần đây nhu cầu về nguồn nguyên liệu này gia tăng đáng kể, đã
thúc đẩy người dân ven biển khai thác mạnh ngay cả khi rong còn non, trong giai đoạn
rong đang phát triển. Sự khai thác nguồn rong Mơ không theo đặc điểm sinh học của loài
đã làm giảm sản lượng và có nguy cơ biến mất nguồn lợi rong Mơ này, giảm nơi ở của các
loài thủy sản ven biển, giảm chức năng làm sạch nước cho các thủy vực ven biển dẫn đến
làm gia tăng hiện tượng nở hoa ở các vùng ven biển.
Đồng thời việc thu hoạch rong Mơ non còn làm giảm các giá trị kinh tế như giá
thành hạ do chất lượng kém, chi phí chiết rút cao do hiệu suất thu hồi các thành phần
alginat, fucoidan, phlorotanin…. thấp.
Trước đây có nhiều công trình nghiên cứu về mùa vụ khai thác rong Mơ ở Quảng
Ngãi như Nguyễn Văn Tiến (1993), tác giả chỉ đề xuất khai thác hợp lý bằng việc khai thác
phải tiến hành sau thời gian sinh sản mà chưa cụ thể cho từng địa phương, từng loài và thời
gian. Nhưng công trình nghiên cứu về rong Mơ của Nguyễn Hữu Đại (1997) thì cụ thể hơn,
rong Mơ nên được khai thác vào tháng 4 và các tháng sau đó để có thể đảm bảo cho mùa
vụ sau. Nhưng theo Đàm Đức Tiến và Vũ Thanh Ca (2010) và Vũ Thanh Ca (2013), cho
rằng mùa vụ rong Mơ ở tỉnh Quảng Ngãi cho cả vũng Dung Quất và ven đảo Lý Sơn đều
như nhau, cây con bắt đầu mọc lại từ tháng 7, 8 phát triển nhanh từ sau tháng 1, rong sinh
sản vào tháng 5-6, nên thời gian khai thác hợp lý đều như nhau.
Bên cạnh đó, cũng có những chỉ thị của chính quyền địa phương về thời gian khai
thác rong Mơ như Chủ tịch UBND huyện Lý Sơn đã ra một chỉ thị số 61/UBND ngày
5/03/2010 về việc quản lý khai thác rong Mơ tại địa bàn huyện, trong đó nghiêm cấm khai
thác rong Mơ từ tháng 12 đến tháng 5 năm sau. UBND tỉnh Tỉnh Quảng Ngãi, ra chỉ thị số
75/UBND- NNTN ngày 12/01/2011 về nghiêm cấm việc khai thác, mua bán vận chuyển
rong Mơ trên địa bàn tỉnh từ ngày 1/12 năm trước đến ngày 30/4 năm sau.
1

1.6. Xây dựng bản đồ tổng quan (tỉ lệ 1/50.000) và chi tiết (tỉ lệ 1/25.000) hiện trạng
nguồn lợi rong Mơ vùng biển ven bờ và đảo Lý Sơn tỉnh Quảng Ngãi và định hướng khai
thác hợp lý cho các vùng trọng điểm
2. Nội dung 2: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học cơ bản của rong Mơ Quảng Ngãi
2.1. Theo dõi sự phát triển và sinh sản của rong biển ngoài tự nhiên tại 4 vùng ( Bình
Thuận-Bình Hải, Bình Châu, Đức Phổ và đảo Lý Sơn)
2.2. Theo dõi một số yếu tố môi trường trong mối quan hệ với sự phát triển rong Mơ .
3. Nội dung 3: Đánh giá thực trạng khai thác, quản lý nguồn lợi rong Mơ ở tỉnh Quảng
Ngãi.
2


3.1. Điều tra phỏng vấn đánh giá sự biến động nguồn lợi rong Mơ từ khai thác và các
nhân tố chủ yếu ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn lợi rong Mơ, vai trò của rong Mơ đối với
thu nhập của người dân.
3.2. Khảo nghiệm sự biến động nguồn lợi rong Mơ khai thác theo 2 mô hình dự kiến: Vùng
có tổ chức quản lý khai thác tại Châu Thuận Biển và không tổ chức quản lý khai thác tại xã
Bình Hải
4. Nội dung 4: Đề xuất các giải pháp quản lý, bảo vệ, khai thác hợp lý, bền vững nguồn
lợi rong Mơ trên địa bàn tỉnh.
4.1. Đề xuất các giải pháp quản lý, bảo vệ, khai thác hợp lý, bền vững nguồn lợi rong Mơ
4.2. Tập huấn về kỹ thuật khai thác cho các hộ dân sống dựa vào nguồn lợi rong Mơ tại
Quảng Ngãi.
Các sản phẩm chính đã đạt được của đề tài:
Tập số liệu về kết quả phân tích rong Mơ, tư liệu ảnh và video
- Bộ mẫu vật gồm 80 tiêu bản rong Mơ
- 1 Bản đồ tổng quan hiện trạng nguồn lợi rong Mơ Quảng Ngãi tỷ lệ 1/50.000;
- 4 Bản đồ chi tiết hiện trạng nguồn lợi rong Mơ cho 04 vùng, tỉ lệ 1:25.000) (theo chuẩn
Mapinfor) về phân bố, sinh lượng, thành phần loài. Mỗi vùng 01 bản đồ.
- 4 Bản đồ định hướng khả năng khai thác hợp lý nguồn lợi rong Mơ cho 04 vùng, tỉ lệ

việc di chuyển bằng thuyền khi khảo sát thực
địa (Hình 2.1 và bảng 1 phụ lục )
Đồng thời, 4 địa điểm được chọn đại
diện đặc trưng sinh thái cho các bãi rong Mơ ở
tỉnh Quảng Ngãi và thuận tiện cho việc theo dõi
sinh học rong Mơ hàng tháng là xã Phổ Châu –
huyện Đức Phổ (14°37'26.90"N, 109°
4'16.20"E), xã Bình Châu – huyện Bình Sơn
(15°14'52.68"N, 108°55'52.90"E), xã Bình Hải huyện
Bình
Sơn
(15°19'53.74"N,
108°52'32.76"E), xã An Hải – huyện Lý Sơn
(15°22'49.80"N, 109° 8'54.09"E (Hình 2.1).
2.3. Thời gian nghiên cứu: 2012-2014
2.4. Phương pháp nghiên cứu

Hình 2.1. Bản đồ tỉnh Quảng Ngãi chỉ các
vị trí nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp đánh giá nguồn lợi: theo
qui phạm nhà nước về điều tra rong biển (UBKH-KT NN, 1981).

2.4.2. Phương pháp nghiên cứu mùa vụ sinh trưởng và phát triển rong Mơ
Tại mỗi địa điểm được chọn để nghiên cứu biến động mùa vụ sinh trưởng và phát
triển của rong Mơ của Bình Hải, Bình Châu, Châu Me, An Hải, tỉnh Quảng Ngãi, các chỉ
tiêu nghiên cứu gồm mật độ, sinh lượng, chiều dài, trọng lượng cá thể, tỷ lệ thỏi sinh sản
4



(2, 4).
Hai cảnh ảnh ALOS-AVNIR2 (độ phân giải 10m) chụp ngày 20 tháng 6 năm 2013
(số hiệu ALAV2A128083310-O1B2R_U và ALAV2A128084310-O1B2R_U) (5, 6)

5


CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Các đặc điểm điều kiện
tự nhiên
3.1.1. Đặc điểm cấu trúc địa
hình – địa mạo dãi ven bờ
tỉnh Quảng Ngãi
Dựa trên bộ ảnh vệ tinh
đa phổ như đã nêu ở phần
phương pháp kết hợp với 72
điểm khảo sát chìa khóa thu
thập bằng phương pháp khảo
sát điểm theo các hợp phần
nền đáy khác nhau như: san hô
cứng, san hô chết, Rong Mơ,
cỏ biển, nền cát. Bằng phép
phân loại có giám sát “khoảng
cách Mahalobich” dựa trên 4
băng phổ D.I.I như đã nêu đã
tạo ra được bản đồ phân bố chi
tiết của sinh cảnh dưới nước
(rạn san hô, thàm rong
biển/thảm cỏ biển, nền đá, nền
cát,... ở vùng ven bờ tỉnh

Ngãi

Huyện Bình Sơn

Vùng

Cạn
(
x

x

x

x

2931

x

x

x

x

x

x

3132

x

x

x
x

các sông đổ ra trong các tháng có mưa ở khu vực ven bờ huyện Bình Sơn.
3.2. Thành phần loài rong Mơ tại Quảng Ngãi
Qua khảo sát thực địa tại các vùng trọng điểm tại các xã: Bình Thuận, Bình Hải,
Bình Châu, Tịnh Khê, Phổ Khánh, Phổ Châu và huyện đảo Lý Sơn đã lặn và thu 996 mẫu
sinh lượng và xác định thành phần loài. Qua số lượng mẫu đã xác định được số lượng loài
ưu thế tạo nên sinh lượng lớn ở các điểm khảo sát là 21 loài (Bảng 3.2)
Bảng 3.2. Thành phần loài và phân bố
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14

Loài

Tên Việt Nam

Sargassum berberifolium J. Ag.
Mơ hoàng liên
S. binderi Sonder

Bình Bình
Hải Châu
x

x

x

Lý Sơn
x
x
x

x
x

x
x

x
x
x

x
x
x

x
x
x

S. quinhonense Dai
S. serratum Dai
S. siliquosum J. Agardh
S. swartzii C. Agardh
21=14+7

Mơ phạm hoàng
Mơ lá lông chim
Mơ nhiều phao
Mơ quy nhơn
Mơ gai
Mơ sừng dài
Mơ mũi mác

x
x
x

x
10

x

x

x
x

x


3.3.1.2. Phân bố của Rong Mơ ở vùng ven bờ phía Nam
Rong Mơ có một ít phân bố rải rác
ở ven bờ xã Phổ Vinh và Phổ Khánh,
nhưng trữ lượng không đáng kể. Tuy
nhiên, chúng phát triển tập trung chủ yếu
ở vùng ven bờ Sa Huỳnh ở hai thôn Châu
Me và Tấn Lộc (thuộc xã Phổ Châu,
huyện Đức Phổ). Chúng phát triển trên
nền đá Bazan, xung quanh là nền đáy mềm
phủ cát. Rong Mơ phát triển dạng mảng,
độ sâu phân bố khoảng 4 – 5m, sinh khối 2
kg/m2. Rong Mơ ở đây phát triển mạnh
vào tháng 5 hàng năm, với sinh lượng
2
2242,4±171,6 g.tươi/m , mật độ 35,6±13,2
cây/m2 và chiều dài cá thể 84,6±17,3 cm.
Tổng trữ lượng của rong Mơ ở ven
huyện Đức Phổ là 602,4±32,2 tấn tươi. Số
liệu thống kê chi tiết về phân bố của các
vùng trên diễn giải trong Hình 3.4.
3.3.1.3. Phân bố Rong Mơ ở Lý Sơn

Hình 3.4. Phân bố sinh lượng Rong Mơ khu ven
bờ Sa Huỳnh - xã Phổ Thạnh, Huyện Đức Phổ

Rong Mơ phát triển ở đảo Lý Sơn
(đảo lớn) và cả ở đảo Bé trên nền đáy rắn
– nền rạn san hô. Diện tích nền rạn tổng
cộng 500 ha. Rong Mơ ở đây bắt đầu phát
triển mầm non vào tháng 10 và phát triển

triều thường là nơi phân bố của
quần thể loài rong Mơ nhiều phao
(Sargassum polycystum), ở phân
trên vùng dưới triều là nơi phân bố
Hình 3.6. Sự phân bố của 4 loài phổ biến (Oli: S.
ưu thế của quần thể rong Mơ lá
oligocystum, mc: S. mcclurei, po: S. polycystum,
quýt (S. mcclurei) và rong Mơ lá
Dup: S. duplicatum) theo mức thủy triều
tre (S. oligocystum); rong Mơ S.
duplicatum thường phân bố sâu nhất ở các bãi rong ven bờ, sâu từ 3 m cho đến viền san hô
sống (Hình 3.6).
3.4. Đặc điểm sinh thái học
Các kết quả nghiên cứu phân bố của rong Mơ tại các vùng trọng điểm, trên cơ sở
khảo sát thực địa được thể hiện ở các đặc điểm về độ phủ, mật độ, chiều dài và sinh lượng
từng khu vực trọng điểm như sau:
3.4.1. Độ phủ
Độ phủ rong Mơ và các hợp phần nền đáy khác từ kết quả khảo sát bằng phương
pháp mặt cắt cho thấy, độ phủ rong Mơ trung bình toàn tỉnh đạt 43,71%. Trong đó, độ phủ
rong Mơ ở vùng Bình Châu đến Bình Thuận là cao nhất (62,89%), Đảo Lý Sơn (53,35%),
Sa Huỳnh (40,1%) và ở Tịnh Kỳ độ phủ đạt thấp (28,68%) (chỉ bằng 50% khu vực vịnh ở
Bình Châu).
3.4.2. Mật độ của rong Mơ
Ở 4 điểm của tỉnh Quảng Ngãi đã nghiên cứu cho thấy mật độ quần xã rong Mơ khác nhau
giữa các khu vực, giá trị trung bình mật độ đạt 42,9±16,2 cây/m2. Ở khu vực Bình Châu
đến Bình Hải mật độ rong Mơ cao nhất với giá trị trung bình cho toàn khu vực đạt
45,5±12,3 cây/m2. Tiếp đến là Lý Sơn, mật độ trung bình đạt 43,2±9,7 cây/m2 và thấp nhất
là khu vực Sa Huỳnh đạt 35,6±4,2 cây/m2 (Hình 3.7).

11

6
7
8
9 10 11 12
với chiều dài và trọng lượng cá thể
Lý Sơn
Phổ Châu
Bình Hải
Bình Châu
(r > 0,9). Trong đó, các loài S.
mcclurei, S. binderi và S. Hình 3.7. Biến động mật độ trung bình của rong Mơ
duplicatum có sự tương quan mạnh
ở 4 bãi rong Bình Châu, Bình Hải, Phổ Châu, Lý
Sơn, năm 2013.
giữa sinh lượng với chiều dài (r >
0.9), với mật độ (r>0,5). Riêng đối với loài S. polycystum thì ngược lại, có sự tương quan
nhỏ hơn giữa sinh lượng với chiều dài và tương quan nghịch giữa sinh lượng và mật độ, có
thể loài này do bị sóng nhổ khi có sự gia tăng về kích thước. Đồng thời tất cả các loài cũng
có sự tương quan mạnh giữa sinh lượng với Độ sâu mực nước (r = 0,67-0,95) và nhiệt độ (r
= 0,63-0,86). Tuy nhiên, không có sự tương quan giữa sinh lượng với độ mặn và các muối
dinh dưỡng (r = 0,23-0,36, Bảng 3.3).

Bảng 3.3. Mối tương quan (correlation, r) giữa sinh lượng với các chiều dài, mật độ,
trọng lượng cá thể các loài, nhiệt độ, độ mặn, độ sâu mực nước, dinh dưỡng.
Sinh lượng của
Mật độ
loài

Trọng
Chiều

0, 5332

0,9657

0,9644

0,6332

0,3225

0,7657

0,3224

0,2354

S. oligocystum

0, 5224

0,9345

0,9353

0,7234

0,3336

0,9435



3.4.3.2. Tăng trưởng về sinh
lượng

Chiều dài trung bình của rong Mơ ở Quảng Ngãi

120
Chiều dài (cm)

Qua khảo sát 4 bãi rong Mơ
Bình Châu, Bình Hải, Lý Sơn và
Phổ Châu cho thấy tất cả các đều có
một kiểu phát triển và có một thời
điểm cho sinh lượng cao nhất trong
năm. Tổng sinh lượng của bãi triều
gia tăng theo nhiệt độ ấm hơn và
tương quan thuận với nhiệt độ nước
bề mặt (r2 = 0.68, p = 0.048, n = 7).

140

100
80
60
40
20

0
Tháng



Hình 3.8. Biến động chiều dài trung bình của rong
Sinh lượng rong Mơ ở Bình
Mơ ở 4 bãi rong Bình Châu, Bình Hải, Phổ Châu,
Hải cao nhất là 1801,6±185,7g.
Lý Sơn, năm 2013.
tươi/m2 vào tháng 4 và giảm rất
nhanh sau đó tức vào tháng 5, điều này do rong Mơ ở đây đang bị khai thác sớm. Trong
khi đó ở Bình Châu rong Mơ vẫn còn phát triển mạnh, do rong Mơ ở Bình Châu đang được
bảo vệ cho đến tháng 6, cũng là thời điểm rong Mơ đạt giá trị sinh lượng cao nhất (3022,4±
333,7g.tươi/m2), giá trị này cao gấp 1,5-1,8 lần so với sản lượng rong Mơ ở Bình Hải vào
tháng 4 (Hình 3.9).
3500
Sinh lượng (g tươi/m2)

3.4.4. Sinh sản
3.4.4.1. Cấu trúc về sinh sản của
rong Mơ Quảng Ngãi

Sinh lượng trung bình của rong Mơ ở Quảng Ngãi

3000
2500

Các loài rong Mơ ở Quảng
2000
Ngãi cũng như trên thế giới đều có
1500
đặc điểm chung có thời điểm cho
1000

1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21

Loài
S. berberifolium
S. binderi
S. capillare
S. cinereum
S. crassifolium
S. duplicatum
S. feldmannii

x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x

15%

42%

58%

100%

100%

3.4.4.2. Mùa vụ sinh sản tại các vùng trọng điểm
Tất cả các loài đều có một kiểu sinh trưởng và phát triển. Sinh lượng, trọng lượng,
chiều dài cá thể đều gia tăng từ cuối mùa Đông cho đến đỉnh cực đại vào các tháng có
nhiệt độ nước ấm hơn trong những tháng mùa Hè. Thời kỳ sinh sản của các quần thể rong
Mơ tại Quảng Ngãi có thể chia thành 3 thời điểm về mùa vụ sinh sản theo độ sâu của nền
đáy. Các bãi triều ven bờ với nền đáy cạn dưới 3 mét (đại diện là vùng Lý Sơn) có thời kỳ
sinh sản kéo dài từ tháng 3 đến tháng 5, các bãi triều ven đảo với nền đáy cạn trên 2 -5 mét
(đại diện là vùng Châu me –Phổ Châu) có thời kỳ sinh sản kéo dài từ tháng 5 đến tháng 7
và các bãi triều có nền đáy sâu 3-8 mét (đại diện là vùng Bình Thuận, Bình Hải, Bình
Châu) có thời kỳ sinh sản kéo dài từ tháng 6 đến tháng 8 (Hình 3.10).

14


100
80
60
40
20
0

4

5

6

7

S.oligocystum

S.polycystum

S.duplicatum

S.mcclurei

8

Tỷ lệ (%) sinh sản trung bình
120

Tỷ lệ cá thể rong Mơ có sinh sản ở Bình Hải

100
80
60
40
20
0
2

5

6
7
S.polycystum
S.mcclurei

8

Tỷ lệ cá thể rong Mơ có sinh sản ở Bình Châu

100
80
60
40
20
0
Tháng 1
2
3
4
S.oligocystum
S.duplicatum
Tỷ lệ (%) sinh sản trung bình

5

6
7
S.polycystum


-

Góp phần giảm ô nhiểm nguồn nước ven bờ nhờ có khả năng hấp thụ dinh dưỡng N, P,
kim loại nặng.

-

Giảm tác động sóng biển điều này là một cách gián tiếp làm giảm sự xói mòn bờ biển.

-

Làm giảm được biến đổi khí hậu, người ta thấy rằng khả năng hấp thụ CO2 của rong
15


biển gấp 8-20 lần khi so sánh trên trọng lượng khô, nhưng lớn hơn 1.000 lần khi so
sánh về diện tích nuôi trồng với thực vật trên cạn (Heilmeier & Whale, 1987; Cao &
Woodward, 1998).
-

Khả năng hấp thụ kim loại nặng làm sạch môi trường nước.

3.5.1.2. Tác động có hại
Rong Mơ hầu như không tác hại đến môi trường. Mặc dù có nhiều ý kiến cho rằng
khi rong Mơ phát triển mạnh sẽ xâm lấn đến san hô. Tuy nhiên có nhiều công trình thấy
rằng, rong Mơ chỉ phát triển trên san hô chết mà không thể có hợp tử rong Mơ bám và
phát triển trên san hô sống. Đồng thời cũng có sự duy trì tự nhiên về sự cân bằng giữa
rong biển và san hô nhờ vào sự hiện diện của động vật ăn thực vật như cá, nhum, hải sâm,
bào ngư, giáp xác…


2
Không
bắt gặp
Không
bắt gặp
Không
bắt gặp

Tháng
3
4
121-2
15
101-2
15
151-3
25

5
1823
1720
3254

6
42-62
35-45

7
Không

Huyện Sơn Tịnh
Tháng 4-7

3.6.3. Sản lượng rong Mơ từ khai thác
3.6.3.1. Sản lượng rong bình quân thu được trong ngày/hộ (tạ khô)
Theo thống kê của 120 phiếu cho các huyện và xã khác nhau cho thấy, sản lượng
biến động rất lớn theo từng khu vực. Trong đó, tập trung vào 3 khu vực chính là huyện đảo
Lý Sơn, ven bờ Huyện Bình Sơn từ Tịnh Kỳ đến mũi Nam Châm, ven bờ huyện Đức phổ
từ Phổ Châu đến Phổ Khánh (Bảng 3.7).
Bảng 3.7. Sản lượng trung bình /ngày/hộ
Huyện Đức Phổ

Huyện Lý Sơn

Huyện Sơn Tịnh

0,21,10,6-1
0,5
2,0
4
10
1

0,21,10,6-1
0,5
2,0
22
6
2


2,12,5
45

2,6-3
9

6,7

73,3 20,0

6,7

20,0 40,0 40,0

3.6.3.2. Sản lượng rong bình quân thu được trong năm cho các hộ, huyện và toàn
tỉnh (năm 2013)
Sản lượng trung bình/năm/hộ theo Bảng 12, từ đó tính được sản lượng khai thác của
cả năm tại các huyện là Xã Tịnh Kỳ 28 tấn khô/năm, Huyện Lý Sơn là 838,7 tấn khô/năm,
Huyện Đức Phổ là 64 tấn khô/năm, Huyện Bình Sơn là 2837,2 tấn khô/năm.
Như vậy, tổng sản lượng rong (tấn khô) thu được trong năm 2013 của toàn tỉnh
khoảng 3.760 tấn khô (Bảng 3.8).
17


Bảng 3.8. Hiện trạng khai thác và sản lượng rong Mơ ở Quảng Ngãi (2013)
Huyện Bình
Sơn

Huyện Đức
Phổ


2837,2

64

838,7

28

Mặc dù sản lượng khai thác khá cao, tuy nhiên sau khi chi phí hàng ngày cho việc
thu hoạch. Do đó Số tiền kiếm được cho một vụ mùa khai thác rong Mơ tại các huyện
(đ/năm/hộ) thấp hơn so với sản lượng khai thác được. Trên kết quả từ số liệu chi tiêu hàng
tháng của các hộ và số tiền kiếm được từ khai thác rong Mơ, cho thấy rằng sau khi chi
tiêu trong 2 tháng khai thác rong Mơ. Mỗi hộ tại các huyện còn thừa ra một khoản tiền,
trung bình của các hộ tại các huyện như sau.
Qua đó cho thấy, nguồn thu nhập từ khai thác rong Mơ cũng đóng vai trò quan
trọng của người dân ven biển của các huyện Bình Sơn, Đức Phổ, Lý Sơn và Sơn Tịnh. Do
đó việc quản lý, bảo vệ và khai thác hợp lý nhằm duy trì bền vững nguồn lợi rong Mơ là
cần thiết (Bảng 3.9).
Bảng 3.9. Số tiền kiếm được từ khai thác rong Mơ (Đơn vị: đ)
Huyện Bình

Huyện Đức

Huyện Lý

Sơn

Phổ


Sản lượng các hộ khai thác rong Mơ được giữa các năm giữa các huyện dao động
rất lớn và có khuynh hướng giảm dần theo các năm gần đây. Biến động sản lượng rong Mơ
khai thác rong trong năm gần đây của các hộ trên toàn tỉnh (Bảng 3.10)
Bảng 3.10. Biến động sản lượng trung bình (tấn khô/năm) rong Mơ từ khai thác của
các hộ trên toàn tỉnh Quảng Ngãi

Sản lượng (Tấn khô/năm/hộ)
Sản lượng (Ngàn tấn khô
/năm/tỉnh)

Năm
2008
5-5,5

Năm
2009
3-3,5

Năm
2010
2,3-2,5

Năm
2011
2-2,5

Năm
2012
1,5-1,7


rong Mơ hợp lý để tránh tình trạng biến mất nguồn nguyên liệu quý giá này.
3.6.5. Biến động sản lượng khai thác theo thời gian
Khi theo dõi sinh lượng của các bãi rong theo thời gian và so với thời điểm chính
vụ (sinh lượng cao nhất). Sinh lượng tăng theo thời gian đến thời điểm cho sinh lượng cao
nhất và sau đó giảm dần. Trên cơ sở, từ sinh lượng cao nhất của các vùng xảy ra vào các
tháng, như tháng 4 ở Lý Sơn, tháng 5 ở bãi rong Phổ Châu, tháng 6 ở Bình Châu để giả sử
rằng nếu thời điểm thu hoạch vào các tháng kể trên sẽ cho sản lượng thu hoạch tương
đương 100%, tất nhiên sản lượng thu hoạch sẽ không bao giờ đạt được 100% như theo lý
thuyết. Nhưng qua đây để thảo luận rằng: nếu khai thác vào các tháng trước chính vụ sẽ
cho sản lượng thấp như thế nào so với chính vụ (Bảng 3.11).
Bảng 3.11. Biến động sản lượng có thể khai thác được theo thời gian tại Bình Châu, Bình
Hải, Phổ Châu, Lý Sơn so với tháng chính vụ

Tháng
1
2
3
4
5
6
7
8
9

Sinh lượng trung bình các bãi rong
(g tươi/m2)
Bình
Bình
Phổ
Lý Sơn

41,20
149,60

321,60
1261,20
1802,00
1962,00
1162,00
122,00
182,00
229,60
263,20

Tỷ lệ khai thác được (%) so với thời
điểm chính vụ
Bình
Bình
Phổ
Lý Sơn
Châu
Hải
Châu
5,37
8,70
19,93
63,59
88,74
100,00
45,10
8,63

13,41
19


10
11
12

40,80
67,32
98,74

40,80
67,32
98,74

179,52
197,47
217,22

315,84
347,42
382,17

1,35
2,23
3,27

1,35
2,23

Do đắp kè lấn biển:

Số
người
trả lời
115
98
85
14
16
0

Tỷ lệ
(%)
90,6%
81,7%
70,8%
11,7%
13,3%
0,0%

Mặc dù các nguyên nhân trên đều gây suy giảm nguồn lợi rong Mơ, nhưng khi so
sánh và đối chiếu các bãi rong Mơ, cho thấy rằng các tác nhân từ thứ hai đến thứ năm đều
là thứ yếu. Vì rằng những bãi rong xa bờ, xa khu dân cư, không bị ảnh hưởng bởi lắng
đọng trầm tích, ô nhiễm, lấn đất …rong Mơ cũng không phát triển tốt như trước đây, mật
độ thưa và chiều dài cây rong chỉ từ 0,5-1 mét. Vấn đề là khai thác không phù hợp với
mùa vụ phát triển của rong Mơ là vấn đề chính gây suy giảm nguồn lợi rong Mơ ở Quảng
Ngãi. Rong Mơ nhiều nơi của Quảng Ngãi đã bị khai thác ngay từ khi chúng còn non, khi
chưa đến giai đoạn trưởng thành.
Trên thực tế, rong Mơ ở các điểm khảo sát đều được người dân thu hoạch rất sớm,


26

21,7%

Tỷ lệ

Nội dung được hỏi ý
kiến
Nghiêm
Chưa bao giờ được
nghe:

Số người
trả lời
50

41,7%

6

5,0%

Tỷ lệ

3.8. Đề xuất các giải pháp
3.8.1. Thời gian khai thác:
Kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học rong Mơ Quảng Ngãi, rong Mơ sau khi
hoàn thành nhiệm vụ phóng thích các giao tử vào môi trường nước thì rong tàn lụi và chết
đi. Vì vậy rong Mơ cần thiết phải được thu hoạch để giảm ô nhiễm môi trường nước. Tuy

9
21


2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21

Thôn Tuyết Diêm 2, Xã Bình Thuận
Thôn Đông Lỗ, Xã Bình Thuận
Thôn Phước Thiện, Xã Bình Hải
Thôn Thanh Thủy, Xã Bình Hải
Thôn An Cường, Xã Bình Hải

Thôn Tây, Xã An Hải
Thôn Bắc, Xã An Bình (Đảo Bé)

15/4
15/4
15/4
15/4
15/4
15/5

Đây là thời gian các bãi rong khai thác có hiệu quả kinh tế và môi trường, là lúc
rong có trữ lượng và tỷ lệ cây mang thỏi sinh sản cao nhất.
3.8.2. Cách khai thác
- Khi cắt rong hoặc thu hoạch cần thiết phải để lại gốc bám và một đoạn thân dài
khoảng 10 cm, để giúp rong có phần tán che cho giao tử tránh được các động vật ăn, giảm
bớt áng sáng tác động trực tiếp, phát triển thêm các thỏi sinh sản và cung cấp thêm nguồn
giống giao tử.
- Chừa lại khoảng 20% trữ lượng của bãi theo các luống, luống cách luống khoảng
100m để còn nơi cư trú và nơi đẻ cho động vật thủy sản.
- Khi cắt không được giẫm đạp lên san hô cũng như không neo tàu bè làm hủy diệt
hệ sinh thái san hô.
Như vậy, Tổng trữ lượng của các vùng trọng điểm là 13.657,4 tấn tươi (2731,48
tấn khô), tuy nhiên sản lượng khai thác khoảng 80% tổng trữ lượng sẽ được là 10.925,9
tấn tươi (2.185,184 tấn khô).

22


3.8.3. Quản lý khai thác hợp lý
3.8.3.1. Quy chế quản lý hoạt động khai thác rong Mơ ở vùng biển ven bờ

và quyền hạn của tổ tự quản.
g. Trách nhiệm của người thu mua: Nhà thu mua cần có chế tài trên cơ sở cấp giấy
phép kinh doanh theo điều kiện về tiêu chuẩn nguồn nguyên liệu có kích thước chiều dài
23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status