đánh giá hiện trạng, bước đầu đề xuất các giải pháp để phục hồi nguồn lợi thủy sản tại đầm nại – ninh thuận - Pdf 22


1

LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam với đường bờ biển dài 3.260 km, bao gồm hơn 4.000 hòn đảo lớn nhỏ,
nhiều vũng vónh, eo biển, đầm phá. Đặc biệt ven biển Việt Nam có 12 đầm phá
điển hình, nằm dọc ven biển các tỉnh Trung bộ và Nam Trung bộ, thuộc hai nhóm:
nhiệt đới ẩm, mưa nhiều và khô hạn, ít mưa. Đầm phá ven biển là một loại hình
thủy vực tiêu biểu, được ngăn cách với biển bởi các roi cát chắn ngoài, có một vài
cửa sông mang nước ngọt đổ vào và thông với biển bởi một hoặc vài cửa. Đầm phá
cũng là hệ sinh thái đặc thù: nông, nửa kín/gần kín, nơi giao lưu giữa nước ngọt và
nước mặn, nơi thuận lợi cho các loài thủy sản sinh trưởng và phát triển. Ngoài ra
đầm phá còn có chức năng sinhh thái quan trọng cho toàn vùng bờ và chứa đựng
tiềm năng kinh tế đa mục tiêu. Nhưng phần lớn các đầm phá ở nước ta chỉ được đưa
vào khai thác và nuôi trồng thủy sản, các tiềm năng khác chưa được sử dụng hợp lý.
Việc sử dụng tài nguyên đầm chưa theo qui hoạch, tài nguyên bò khai thác quá mức,
vượt quá ngưỡng phục hồi và sức tải của đầm. Chính vì vậy đã làm cho nguồn lợi
suy giảm nhanh chóng và môi trường ô nhiễm. Đầm Nại là một thủy vực nằm ở phía
đông tỉnh Ninh Thuận, thuộc chuỗi đầm phá ven biển Nam Trung bộ – Việt Nam
cũng không nằm ngoài qui luật đó.
Vùng đầm phá là nơi thuận lợi cho các hoạt động kinh tế. Do đó dân cư sống chủ
yếu tập trung xung quanh đầm. Đặc điểm của cư dân ven biển và đầm phá là đông
con, trình độ học vấn hạn chế, đời sống còn nhiều khó khắn. Nên buộc họ phải tăng
cường khai thác và đánh bắt tất cả những gì có thể sử dụng được để đáp ứng nhu cầu
thiết yếu hàng ngày. Đa số người dân sống chủ yếu bằng nghề khai thác. Cũng
chính từ đó làm cho nguồn lợi ở các đầm phá ven biển nước ta trong một vài năm
gần đây giảm sút nhanh chóng. Điều này đã đặt ra là phải có những nghiên cứu cụ
thể nhằm đánh giá về hiện trạng nguồn lợi cũng như môi trường ở các đầm phá và

2
đề ra các giải pháp hợp lý để sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên

Trang
LỜI MỞ ĐẦU 1

PHẦN I: TỔNG LUẬN 3
I. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGUỒN LI THUỶ SẢN TRÊN THẾ GIỚI .3
II. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGUỒN LI THUỶ SẢN Ở VIỆT NAM 5
1. Nguồn lợi sinh vật phù du 5
2. Nguồn lợi cá 5
3. Nguồn lợi động vật thân mềm 7
4. Nguồn lợi giáp xác 8
5. Nguồn lợi San Hô 8
6. Nguồn lợi rong biển Việt Nam 8
7. Nguồn lợi động vật bò sát 9
8. Nguồn lợi Rừng ngập mặn 9
9. Một số kết quả điều tra nguồn lợi đầm phá ở Việt Nam 9
III.TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGUỒN LI THUỶ SẢN NINH THUẬN VÀ VỊNH
PHAN RANG 11
PHẦN II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
1. Thời gian và đòa điểm nghiên cứu 13
2. Phương pháp thực hiện 13
2.1. Sơ đồ nghiên cứu 14
2.2. Phương pháp nghiên cứu 14
3. Phương pháp xử lý số liệu 14
PHẦN III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 16
I.ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC
ĐẦM NẠi 16

4
1. Điều kiện tự nhiên 16
1.1. Vò trí đòa lý 16

1.6. Dân số 39
2. Một số giải pháp khắc phục nguồn lợi 39
2.1.Hạn chế gia tăng dân số 39
2.2. Tạo công ăn việc làm 40
2.3. Cải thiện môi trường 40
2.4. Nghiêm cấm hoạt động khai thác hủy diệt trên đầm 42
2.5. Khôi phục nguồn lợi 43
2.6. Tuyên truyền giáo dục cho người dân trong việc bảo vệ nguồn lợi 43
2.7. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học để biết mùa vụ sinh sản, di chuyển
hạn chế khai thác 44
2.8. Trồng lại rừng ngập mặn 44
PHẦN IV: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 45
I. KẾT LUẬN 45
II. ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
6

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Phòng Đào tạo, Ban Chủ
nhiệm Khoa Nuôi trồng Thủy sản đã đồng ý cho phép tôi thực hiện đề tài này.

Bảng 1: Cơ cấu dân số của các thôn hành nghề khai thác thủy sản trên đầm Nại. .20
Bảng 2: Trình độ dân trí của ngư dân khai thác ven đầm Nại (n = 111) 21
Bảng 3: Cơ cấu nghề nghiệp của ngư dân ven đầm Nại 22
Bảng 4: Mức sống của ngư dân ven đầm Nại 23
Bảng 5: Số lượng sỏng khai thác và số lượng sỏng hiện có 24
Bảng 6: Số lượng và kích thước mắt lưới của từng loại nghề 25
Bảng 7: Năng suất khai thác tôm, ghẹ, cá trên đầm Nại năm 2005 27
Bảng 8: Năng suất khai thác Ngao, Sò, Ốc, Hầu trên đầm Nại năm 2005 28
Bảng 9: Năng suất khai thác sò (Kg/ngày/hộ) theo năm (Nguyễn Trọng Nho, 2003).28
Bảng 10: Đối tượng và kích thước của một số loài khai thác trên đầm Nại 29
Bảng 11: Giá bán một số đối tượng khai thác trên đầm Nại 31
Bảng 12: Chi phí cho hoạt động khai thác của 1 hộ trong năm 32
Bảng 13: Doanh thu 1 ngày của 1 hộ KTTS trên đầm Nại 33
Bảng 14:Lợi nhuận của một người KTTS trên đầm Nại trong 1 năm 34
Bảng 15:Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của các xã quanh đầm Nại năm 2005 35
Bảng 16: Diện tích sản xuất muối đầm Nại qua các năm 36
Bảng 17: Diễn biến diện tích nuôi trồng thủy sản ở đầm Nại qua các năm 38

8
DANH MỤC HÌNH
Trang

ĐVTM Động vật thân mềm
ĐVĐ: Động vật đáy
TVĐ: Thực vật đáy
KTTS: Khai thác thuỷ sản
THCS: Trung học cơ sở
THPT: Trung học phổ thông
CĐ/THCN: Trung học chuyên nghiệp
NTTS: Nuôi trồng thuỷ sản
CN: Công nghiệp
VNĐ: Việt Nam Đồng
ppt: Phần ngìn
h: Giờ 10
PHẦN I: TỔNG LUẬN
I. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGUỒN LI THUỶ SẢN TRÊN THẾ GIỚI
Gulland (1970, 1971) đã ước tính tiềm năng cực đại đối với những loài khai thác
biển truyền thống ngoại trừ động vật chân đầu khoảng 100 triệu tấn/năm.
Những nỗ lực để đánh giá nguồn lợi thuỷ sản của thế giới đã được bắt đầu bằng
hàng loạt các nghiên cứu của FAO (từ 1950-2004).
Sản lượng thuỷ sản trên thế giới tăng đều đặn từ 19,3 triệu tấn năm 1950 và hơn 100
triệu tấn năm 1989 và gần 134 triệu tấn năm 2002. Đối với khai thác hải sản sau khi đạt
được 80 triệu tấn năm 1980 và đạt kỷ lục 87,6 triệu tấn năm 2000 và giảm nhẹ 84,4 triệu
tấn năm 2002, nhóm đóng vai trò quan trọng trong khai thác hải sản là loài thủy sản sống
tầng mặt. Cũng chính từ áp lực khai thác và thay đổi môi trường dẫn đến sự suy giảm một
cách đáng kể 3 loài Peruvian anchoveta, Sardine, cá thu Chilean jack ở Đông Nam Thái
Bình Dương trong những năm gần đây (FAO, 2004).
Nguồn giống thuỷ sản trên thế giới vẫn khai thác một cách bền vững và tăng lên
một cách đều đặn từ năm 1974 đến 1995. Sau năm 1995 tiềm năng về giống giảm

+ Sản lượng cá nước ngọt khai thác trong nội đòa của nhiều nước cũng có khả
năng được gia tăng do càng ngày môi trường sinh thái được quản lý tốt hơn.
Nguyễn Chu Hồi (2003) cho biết ASEAN nằm trong vùng trung tâm Tây Thái
Bình Dương, nơi đánh bắt tới một nửa cá ngừ vằn và cá vây vàng của thế giới.
Trong suốt những năm 80, tổng sản lượng cá đánh bắt của vùng trung tâm Tây Thái
Bình Dương đều đạt mức từ 600.000 – 800.000 tấn. Đánh bắt cá tập trung nhất trong
vònh Thái Lan, eo biển Malaca, phần nước nông của biển nam Java và vùng biển
Philippin. Một số loài cá nổi nhỏ vùng ven biển của ASEAN đang tiến dần đến mức
khai thác tới hạn như cá Thu, cá Sòng Tròn, cá Trích. Các loài cá nổi lớn vùng ven
biển đã được khai thác từ mức thấp đến mức trung bình trong những năm gần đây.
II. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGUỒN LI THUỶ SẢN Ở VIỆT NAM

12
1. Nguồn lợi sinh vật phù du
Những công trình đầu tiên nghiên cứu về nguồn lợi ở vùng ven bờ biển Việt Nam
là của Maurise Rose (1920 – 1926) đã công bố 42 loài TVPD và 56 loài ĐVPD.
R. Serène (1937) công bố danh mục 47 loài chân mái chèo ở vùng biển Việt Nam.
Hoàng Quốc Trương (1962 – 1963 và 1967) đã xác đònh 245 loài TVPD ở vònh Nha Trang.
A.Shirota (1966) đã công bố danh sách có kèm theo hình vẽ của 72 loài giáp xác
chân chèo ở vùng biển miền Nam Việt Nam.
Nguyễn Tiến Cảnh et al. (2001) đã xác đònh ở vùng biển quần đảo Trường Sa có
313 loài TVPD và 299 loài ĐVPD.
Nguyễn Dương Thạo (2001) nghiên cứu về vùng biển miền Nam Việt Nam đã
xác đònh được 170 loài TVPD và 219 loài ĐVPD.
Phạm Thược (2001) đã xác đònh được 171 loài TVPD và 105 loài ĐVPD ở vùng
biển giữa vònh Thái Lan.
Toàn bộ vùng biển Việt Nam có 537 loài TVPD và 657 loài ĐVPD không kể
động vật nguyên sinh (Protozoa).[34]
2. Nguồn lợi cá
2.1. Nguồn lợi cá nước ngọt

được 2.038 loài cá trong đó trên 100 loài cá kinh tế.
Đào Mạnh Sơn (2005) đã xác đònh vùng biển Việt Nam có trên 2.000 loài cá,
nhưng số lượng của mỗi loài ít và số loài cá kinh tế có khoảng 130 loài. Trữ lượng
cá ở vùng biển xa bờ là 2.378.000 tấn (cá nổi chiếm 72% và cá đáy 28%). Trữ lượng
cá đáy ở vùng biển xa bờ khoảng 660.000 tấn, khả năng khai thác là 264.000 tấn và
trữ lượng cá nổi xa bờ ước tính khoảng 1,7 triệu tấn, khả năng khai thác trên dưới
830.000 tấn, trong đó cá nổi đại dương có trữ lượng là 510.000 tấn và khả năng khai
thác khoảng 230.000 tấn.

14
Nhìn chung khu hệ cá biển Việt Nam mang tính chất nhiệt đới và cận nhiệt đới.
Có số họ nhiều nhưng số giống trong từng họ chưa nhiều đặc biệt số loài trong một
giống ít. Đa số các loài cá sống tản mạn ít kết đàn. Các loài cá thường gặp là cá
Nục, cá Trích, cá Mối, cá Phèn, cà Lượng, cá Hố… Các loài cá kinh tế như họ cá
Nhám (Carchahinidae), họ cá Đuối (Dasyatidae), họ cá Đối (Mugilidae)…[34]
2.3. Nguồn lợi cá rạn san hô
Ở vùng biển Việt Nam đến nay đã xác đònh được 635 loài thuộc 62 họ. Có 4 họ
có số lượng nhiều nhất là họ cá Thia (Pomacentridae), họ cá Bàng Chài (Labridae),
họ cá Bướm (Chaetodontidae), họ cá Mó. Một số loài cá có giá trò kinh tế ở rạn san
hô như cá Mập, cá Đuối, cá Mú, cá Hồng.[34]
2.4. Nguồn lợi cá vùng cửa sông
Vũ Trung Tạng (1994) cho biết khu hệ cá thuộc toàn bôï vùng cửa sông dọc bờ
biển nước ta được tổng hợp lại lên tới 580 loài thuộc 110 họ của 25 bộ cá.
3. Nguồn lợi động vật thân mềm
Nguyễn Hữu Phụng et al. (1994) đã cho biết có tới 2.500 loài thân mềm ở vùng biển
Việt Nam.
Dương Trí Dũng et al. (2001) đã xác đònh ven biển thò xã Bạc Liêu có 7 loài động
vật hai mảnh vỏ, một số loài có giá trò kinh tế như Nghêu Bến Tre (Meretric lyrata),
sò Huyết (Anadara granosa).
Nguyễn Hữu Phụng et al. (2001) đã xác đònh động vật thân mềm thuộc lớp chân

Rong mứt (Porphyra tenava) ở nước ta đã phát hiện 3 loài, rong đông (Hypnea) là 12
loài khác nhau.[34] 7. Nguồn lợi động vật bò sát

16
Rắn biển: căn cứ vào số mẫu vật rắn biển, viện Hải dương học đã thu được từ trước đến
nay và phân loại được 15 loài rắn biển.
Đào Văn Tiến (1976) đã nêu lên 5 loài rùa biển ở nước ta.
8. Nguồn lợi rừng ngập mặn
Rừng ngập mặn ở nước ta đã xác lập được 74 loài trong hai nhóm:
Nhóm I : Những loài cây ngập mặn điển hình gồm 35 loài thuộc 20 chi và 16 họ.
Nhóm II: Gồm những loài gia nhập vào rừng ngập mặn gồm 20 loài thuộc 35 chi 27 ho.ï[34]
9. Một số kết quả điều tra nguồn lợi đầm phá ở Việt Nam
Vũ Trung Tạng (1994) đã thống kê kết quả nghiên cứu từ trước đến nay cho thấy:
+ Phá Tam Giang – Cầu Hai đã thống kê được 75 loài TVPD tại các phá nam sông
Hương, còn khu hệ TVPD toàn giải phá Thừa Thiên có tới 153 loài. Động vật nổi đã xác
đònh được 34 loài. Khu hệ cá của phá Thừa Thiên và sông Hương lần đầu tiên được công
bố la ø138 loài.
+ Đầm Ô Loan có khoảng 30 loài TVĐ, ĐVĐ, chỉ riêng ĐVTM đã gặp 16 loài, tôm
13 loài, cá trong đầm thống kê được 71 loài thuộc 39 họ.
+ Vònh Quy Nhơn: đã xác đònh được 185 loài TVPD, 58 loài ĐVPD và 6 dạng ấu
trùng động vật không xương sống khác, thực vật đáy 136 loài, động vật đáy xác đònh
được 192 loài, chiếm đa số là thân mềm (100 loài) sau đó chân đốt 71 loài. Khu cá
đã xác đònh được 114 loài thuộc 60 họ, 15 bộ cá. Những loài có sản lượng cao là cá
Đối (Mugil cephalus), cá Dìa (Siganus guttatus), cá Đăng (Therapon jarbua), cá
Hồng (Lutianus russelti).
+ Đầm Nha Phu đã xác đònh được 529 loài, trong đó TVPD 116 loài, ĐVPD 44 loài,
TVĐ 104 loài, ĐVĐ 172 loài và cá 93 loài, phần lớn các giống chỉ có 1 loài chiếm

Nam trước năm 1945 chủ yếu do người nước ngoài. Sau khi nước nhà hoàn toàn giải

18
phóng 1975 được sự quan tâm của chính phủ cùng sự giúp đỡ của các nước anh em.
Nên các nguồn lợi thuỷ sản Việt Nam đã được điều tra cơ bản và khái quát hơn.[10]
III. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGUỒN LI THUỶ SẢN NINH THUẬN VÀ
VỊNH PHAN RANG
Bờ biển Ninh Thuận dài 105 km, vùng đặc quyền kinh tế 24.480 km
2
, diện tích
vùng biển nội thuỷ 1.800 km
2
, có các cửa biển là cà Ná, Đông Hải, Khánh Hội,
Vónh Hy. Đặc biệt vùng biển Ninh Thuận nằm trong khu vực nước trồi mạnh nhất
của vùng thềm lục đòa phía Nam. Nên đây là một trong 4 ngư trường lớn nhất và
giàu nguồn lợi nhất về các loài hải sản của cả nước.
Khu hệ cá vùng biển Ninh Thuận rất phong phú và đa dạng có thể chia làm 2 nhóm
+ Nhóm cá nổi 146 loài (chủ yếu cá cơm) chiếm 27,13% tổng số loài .
+ Nhóm cá đáy 392 loài (chủ yếu cá Mối vạch, cá Mú xám, cá Nục xồ) chiếm
72,86% tổng số loài.
Nguồn lợi mực có khoảng 20 loài trong đó 6 loài mực nang, 4 loài mực ống, 2 loài mực lá.
Nguồn lợi tôm thì vònh Phan Rang không phải là bãi đẻ của tôm hùm nhưng lại là
nơi cư trú của tôm hùm con. Số lượng tôm hùm con mà nhân dân lặn bắt được hàng
năm từ 200.000 – 300.000 con (Quy hoạch tổng thể phát triển ngành Thuỷ sản Ninh
Thuận giai đoạn 2001 – 2010, 2002).
Rong vùng biển Ninh Thuận có đến 194 loài rong và 4 loài cỏ biển. Trong đó
rong lam 3 loài, rong đỏ 82 loài, rong nâu 27 loài và lục 50 loài.[30]
Biển Ninh Thuận được coi là một trong những trung tâm phát triển san hô tạo rạn
lâu đời ở nước ta với 120 loài thuộc 65 giống. Nguồn lợi sinh vật trong rạn san hô rất
phong phú, chỉ tính riêng rạn san hô ở vònh Phan Rang đã có 9 loài thân mềm, 2 loài

PHẦN II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Thời gian và đòa điểm nghiên cứu
* Thời gian thực hiện: Từ ngày 2/8 năm 2005 đến ngày 19/11/2005
* Đòa điểm thực hiện: Sở Thuỷ sản Ninh Thuận, Trung tâm khuyến ngư, Chi cục
bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, Uỷ ban nhân dân huyện Ninh Hải, 5 xã quanh Đầm Nại,
các hộ dân làm nghề khai thác trên đầm.
2. Phương pháp thực hiện
Thu thập số liệu thứ cấp: thông qua sở thuỷ sản Ninh Thuận, Trung tâm khuyến
ngư, Chi cục bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, Uỷ ban nhân dân huyện Ninh Hải, 5 xã
quanh Đầm Nại.
Thu thập số liệu sơ cấp: điều tra tại thực đòa thông qua bộ câu hỏi.
Lấy mẫu theo “Hướng dẫn giám sát kinh tế xã hội cho các nhà quản lý vùng ven
biển ở Đông Nam Á: SOCMON SEA”.

21
2.1. Sơ đồ nghiên cứu
nhiên & đặc
điểm KT-XH
khu vực Đầm
Nại
Sản
lượng
khai
thác
thuỷ
sản

Tình
hình
khai
thác
thuỷ
sản

NTTS
ảnh
hưởng
đến
nguồn
lợi

Phân
tích
số
liệu
Kết luận và kiến nghò

38’ vó độ
Bắc và từ 109
0
01’ – 109
0
03’ kinh độ Đông.
Đầm Nại là một lòng chảo nông dạng lục giác không đều ít eo ngách. Nối với
biển qua lạch Ninh Chữ dài 2 km, rộng 150 – 300 (m), sâu 3 – 5 (m), chỗ hẹp nhất
140 (m) tại cầu Tri Thuỷ. Diện tích lòng Đầm Nại khoảng 700 ha, vùng đồng bằng
ven đầm bò chi phối triều trên 400 ha. Bao quanh Đầm Nại là ruộng lúa, các ngọn
núi Cà Đú, núi Đình, Hòn Thiên, các ruộng muối và các ao nuôi tôm.[28]

24

Hình 2: Bản đồ đầm Nại
1.2. Đòa hình đầm Nại
Đầm Nại là một hồ biển nông, độ dốc hướng về lạch thông với biển nơi sâu nhất
(rốn đầm) chỉ cách ngọn lạch biển 180 m. Do lạch hẹp mà các đường đẳng sâu khi
đến ngọn lạch thường bò xen chặt vào nhau. Tại đây bờ lạch khá dốc. Từ độ cao 1,2
m đến độ sâu 2,5 m ken nhau trên một mặt cắt không quá 5 m, càng xa ngọn lạch về
phía đầm các đường đẳng sâu giãn ra. Tại Hộ Diêm, Phương Cựu, Hòn Thiên, trên
đòa hình 0 – 0,5 m có mặt cắt hàng trăm mét. Theo độ sâu khoảng cách các mặt cắt
giãn dần từ 0 – 2,5 m, vùng có độ sâu thấp có diện tích lớn và ngược lại.[31]
1.3. Đặc điểm khí tượng thuỷ văn đầm Nại
1.3.1. Đặc điểm khí tượng
* Chế độ gió
Đầm Nại thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa, một năm có 2 mùa gió chính:

C, chênh lệch nhiệt độ nước trong ngày không quá 5
0
C [28].
1.3.2. Nguồn cung cấp nước và chế độ thuỷ văn
* Nguồn cung cấp nước mặn và đặc điểm trao đổi nước của đầm Nại
Vònh Phan Rang là nơi trực tiếp trao đổi nước mặn với đầm Nại qua lạch Ninh
Chữ. Hàng ngày đầm Nại nhận một lượng nước biển khoảng 3 – 4 triệu m
3
vào kỳ
nước kém và 5 – 6 triệu m
3
vào kỳ nước cường. Lượng nước này chiếm khoảng 12 –
25% tổng lượng nước của đầm. Mức nước thay hàng ngày ở đầm Nại khoảng 20%
vào mùa khô và 15% vào mùa mưa, tạo ra sự cân bằng ổn đònh cho đầm lâu dài, nếu
không có tác động của con người. Song nguồn nước mặn ra vào đầm có hiện tượng
quay vòng, không thay nước triệt để được, nên đầm Nại trở thành túi chứa nước thải
của vùng nuôi tôm quanh đầm Nại.
Thuỷ triều đặc trưng của đầm Nại chòu ảnh hưởng của chế độ thuỷ triều khu vực
Nam Trung Bộ: Nhật triều không đều, trung bình một tháng có 18 – 20 ngày là Nhật
triều, còn lại là bán Nhật triều. Biên độ triều dao động từ 0,7 – 2,5 m, cường độ triều

Trích đoạn Phương tiện
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status