1
CHÚ GIẢI KÝ HIỆU TRONG BÁO CÁO
∆t
:
Khoảng thời gian (năm tuổi) tương ứng giữa chiều dài L
1
và L
2
;
A
:
Số tia vây hậu môn;
A
d
:
Số ngày hoạt động trung bình trong tháng của đội tàu;
ALMRV
:
Dự án đánh giá sinh vật biển Việt Nam;
ASEAN
:
Hiệp hội các nước Đông Nam Á;
b
:
Hệ số đồng hoá;
B
:
Trữ lượng (tấn);
B'/R
:
Trữ lượng tương đối trên lượng bổ sung;
Số tia vây đuôi;
CC
:
Cá con;
CI
:
Khoảng tin cậy;
21
,LL
C
:
Số cá bắt được ở nhóm chiều dài L
1
và L
2
;
CPUE
:
Năng suất khai thác (kg/ngày/tàu hoặc kg/mẻ);
CPUE
:
Năng suất khai thác trung bình của đội tàu hoặc mẻ lưới;
CPUE
i
:
Năng suất khai thác trung bình của tàu thứ i hoặc mẻ lưới thứ i;
Cs
:
Sản lượng khai thác (kg hoặc tấn);
Cs
Cá Cơm Đê-vi - Encrasicholina devisi;
Ef
:
Cường lực khai thác (ngày tàu);
Ef
MSY
:
Cường lực khai thác tương ứng;
EHET
:
Cá Cơm mõm nhọn - Encrasicholina heteroloba;
E-max
:
Ngưỡng của hệ số khai thác tối ưu;
EPUN
:
Cá Cơm sọc xanh - Encrasicholina punctifer;
F
:
Mức chết do khai thác;
FAO
:
Tổ chức Nông lương Thế giới;
F
e
:
Sức chứa trứng tuyệt đối;
F
et
:
Chiều dài thân cá tại thời điểm ban đầu và thời điểm sau của khoảng
thời gian (T2-T1);
L
∞
:
Chiều dài cơ thể tối đa theo lý thuyết của cá ước tính (mm);
L
AF
:
Chiều dài vây hậu môn;
L
c
:
Chiều dài khai thác hiện tại của loài;
3
L
CP
:
Chiều dài cán đuôi;
L
DC
:
Chiều dài sau vây lưng;
L
DF
:
Chiều dài vây lưng;
L
H
:
t
:
Chiều dài của cá ở thời điểm t (cm);
L
t+n
:
Chiều dài cơ thể cá ở tuổi t + n (cm);
M
:
Mức chết tự nhiên;
Max
:
Giá trị cực đại;
Mean
:
Giá trị trung bình;
MF
:
Sức chứa trứng trung bình của loài;
MFL
:
Chiều dài đến chẽ vây đuôi trung bình;
Min
:
Giá trị cực tiểu;
n, m
:
Các hằng số đặc trưng cho từng loài;
N
:
P
:
Tỷ lệ cá cái thành thục trong quần đàn theo khối lượng;
4
P
0
:
Số lượng trứng hàng ngày (số lượng trứng ở giai đoạn 0 ngày tuổi);
P1
:
Số tia của một vây ngực;
P
cá
:
Năng suất sinh học của cá;
P
cá nổi
:
Năng suất sinh học của nhóm cá nổi;
P
d
:
Tỷ lệ cá cái thành thục sinh sản trong mỗi ngày;
P
ĐVĐ
:
Năng suất sinh học của động vật đáy (tấn/năm);
P
ĐVPD
:
Độ muối;
S
A
:
Hệ số phản hồi âm diện tích (m
2
/nm
2
);
SCOM
:
Cá Cơm thường - Stolephorus commersonnii;
SE
:
Sai số chuẩn
SEAFDEC
:
Trung tâm phát triển nghề cá Đông Nam Á;
SIND
:
Cá Cơm Ấn Độ - Stolephorus indicus;
SL
:
Chiều dài tiêu chuẩn;
SSB
:
Trữ lượng quần đàn cá bố mẹ;
STD
:
Độ lệch chuẩn;
:
Trứng cá - cá con;
TĐ
:
Thẳng đứng;
t
e
:
Khoảng thời gian từ lúc trứng sinh ra đến khi chết;
TL
:
Chiều dài toàn thân;
TM
:
Tầng mặt;
T
m50
:
Tuổi lần đầu tham gia sinh sản trung bình ước tính (tuổi thành thục)
(năm);
T
max
:
Tuổi tối đa của cá ước tính (năm);
TS
:
Hệ số phản hồi âm của loài (nhóm loài);
TSL
:
Tổng sản lượng;
:
Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc;
Y'/R
:
Sản lượng tương đối trên lượng bổ sung ;
Z
:
Mức chết tổng số;
Z
e
:
Tỷ lệ tử vong của trứng;
μm
:
Micromet.
6
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, cá cơm không chỉ là nguyên liệu cho ngành chế biến nước mắn mà
con là nguồn nguyên liêu cho chế cá khô, chế biến các sản phẩm ăn liền, làm bột cá
đặc biệt là dùng trong nuôi “Cá bè” của các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Do nhu
cầu sử dụng nguyên liệu cá Cơm ngày càng tăng, thị trường tiêu thụ ngày càng được
mở rộng, yêu cầu về sản lượng khai thác cá cơm ngày càng cao, đòi hỏi số phương
tiện khai thác thủy sản ngày càng lớn, công nghệ khai thác ngày càng được cải tiến để
nâng cao sản lượng đáp ứng nhu cầu thị trường và hiệu quả sản xuất.
Việc nâng cao sản lượng khai thác, hoàn thiện qui trình khai thác nhằm giảm
sức lao động của con người, nâng cao hiệu quả đánh bắt là một nhu cầu tất yếu. Tuy
nhiên, nguồn lợi thủy sản không phải là vô tận, nếu khai thác vượt quá mức phục hồi,
tái tạo thì của chúng sẽ bị suy giảm dẫn đến cạn kiệt, nguồn lợi cá cơm cũng không
nằm ngoài qui luật đó.
Nghiên cứu, tìm ra các giải pháp để nguồn lợi cá cơm đem lại sản lượng, hiệu
32’40” kinh độ
Đông và 9
0
23’50’’ đến 10
0
32’30”
vĩ độ Bắc (phần đất liền). Phía
Đông và Đông Nam giáp các tỉnh
Cần Thơ, An Giang, phía Nam
giáp tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, phía
Tây giáp Vịnh Thái Lan với bờ
biển dài 200 km và phía Bắc giáp
Campuchia với đường biên giới
đất liền dài 56,8 km. Địa hình
phần đất liền tương đối bằng
phẳng có hướng thấp dần từ hướng phía đông bắc (độ cao trung bình từ 0,8-1,2 m)
xuống Tây Nam (độ cao trung bình từ 0,2-0,4 m) so với mặt biển, đồng thời tạo nhiều
kinh rạch, sông ngòi. Đặc điểm địa hình này cùng với chế độ thủy triều biển Tây chi
phối rất lớn khả năng tiêu úng về mùa mưa và bị ảnh hưởng lớn của mặn vào các
tháng mùa khô. Vùng biển có hai huyện đảo với hơn 100 hòn đảo lớn nhỏ. Từ những
đặc điếm trên đã gây trở ngại tới sản xuất và đời sống của nhân dân trong tỉnh [20].
Tuy nhiên do điều kiện khí hậu thời tiết ở Kiên Giang có những thuận lợi cơ
bản: ít thiên tai, không có bão đổ bộ trực tiếp, không rét (nhiệt độ trung bình hàng năm
Hình 1. Bản đồ ngư trường tỉnh Kiên Giang
(Nguồn: WWW:kiengiang.gov.vn)
8
từ 27-27,5
0
C) ánh sáng và nhiệt lượng dồi dào rất thuận lợi cho cây trồng vật nuôi
sinh trưởng. Đồng thời với vị trí địa lý của tỉnh cũng rất thuận lợi cho việc phát triển
C và có xu
hướng tăng dần theo chiều tăng vĩ độ, chênh lệch nhiệt độ giữa tầng mặt và tầng đáy
khoảng 2,8
0
-5
0
C. Trong mùa gió Tây Nam, hướng gió thịnh hành là Tây và Tây Nam,
tốc độ trung bình 4-5m/s, tốc độ cao nhất đạt 18-20m/s. Lượng mưa khá cao, 1800-
2000mm/tháng, dòng chảy ở mùa này ngược chiều với dòng chảy ở mùa gió Đông
Bắc, sơ đồ dòng chảy được mô tả ở Hình 2 dưới đây.
9
Hình 2. Hoàn lưu nước tầng mặt ở mùa gió Tây Nam (trái), và mùa gió Đông Bắc (phải)
Nguồn: Bộ Thuỷ sản, 1996.
Nhiệt độ tầng mặt ở mùa gió Tây Nam tăng cao, trung bình 27,5
0
-31,5
0
C và
nhiệt độ tầng đáy dao động từ 29
0
-31
0
C, các đường đẳng nhiệt vẫn có xu hướng tăng
dần từ Nam lên Bắc.
Trong suốt năm, độ mặn dao động trong khoảng 27%0 - 34%0, độ mặn cao nhất
ở tháng 3 và thấp nhất ở tháng 8, vùng cửa sông độ mặn giảm do tác động của dòng
chảy từ đất liền. Khu vực đảo Phú Quốc độ mặn trung bình ở tầng mặt dao động trong
khoảng 27%0-32%0.
1.2. Điều kiện, tiềm năng kinh tế
1.2.1. Tài nguyên đất và nước
tinh; than bùn làm chất đốt, phân bón…
1.2.3. Tiềm năng du lịch
Kiên Giang là tỉnh có nhiều tiềm năng và điều kiện để phát triển du lịch so với
các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long, bởi có nhiều địa danh thắng cảnh và địa
danh di tích lịch sử nổi tiếng như: Hòn Chông, Hòn Trẹm, Hòn Phụ Tử, núi MoSo, bãi
biển Mũi Nai,Thạch Động, Lăng Mạc Cửu, Đông Hồ, Hòn Đất, rừng U Minh đảo Phú
Quốc… Đặc biệt nhiều người nói ở Việt Nam có lẽ sau Hạ Long là Hà Tiên, vì Hà
Tiên không những khí hậu quanh năm không nóng, không lạnh, mà bởi có một “Hà
Tiên thập vịnh” (vịnh 10 cảnh đẹp Hà Tiên), qua thơ ca của các tác giả tao đàn Chiêu
Anh Các. Hà Tiên được thiên nhiên ưu đãi có nhiều núi non, hang động, chùa chiền,
có nhiều hòn đảo gần xa. Ngoài ra du lịch lễ hội Nguyễn Trung Trực - vị anh hùng
dân tộc vào cuối tháng 8 âm lịch cũng là thế mạnh của Kiên Giang với hơn 120.000
11
lượt khách trong vùng thăm viếng hàng năm. hướng tới Kiên Giang còn phát triển du
lịch sinh thái của vùng U Minh lịch sử, có hương của rừng tràm và vườn chim thiên
nhiên, với những món ăn đặc sản rừng U Minh … thật là hấp dẫn và thơ mộng [10].
1.3. Kinh tế xã hội tỉnh Kiên Giang
Năm 2002 dân số toàn tỉnh có 1.601.550 người gồm 3 dân tộc chính: Dân tộc
Kinh chiếm 85,6%, dân tộc Khơme chiếm 12,19%, dân tộc Hoa chiếm 2,16%. Dân số
thành thị chiếm 21,88% và dân dố nông thôn chiếm 78,12%. Với qui mô dân số đứng
thứ 16 trong 61 tỉnh thành của cả nước và thứ 5 so với 12 tỉnh vùng đồng bằng sông
Cửu Long. Mật độ dân số của tỉnh năm 2000 là 248 người/km
2
thuộc loại trung bình,
thấp so với trong vùng (412 người/km
2
) và cao hơn bình quân cả nước (236
người/km
2
). Dân số của tỉnh phân bố không đều, thường tập trung ở ven trục lộ giao
loài chiếm ưu thế. Các thảm cỏ biển ở Phú Quốc nằm phân bố ở những độ sâu khác
nhau, từ 1,5-7,5m, nhưng tập trung chủ yếu ở vùng biển nông từ 2-3m [16][17].
Theo Nguyễn Văn Tiến thì ở các thảm cỏ biển khu vực quần đảo Phú Quốc có
khoảng 46 loài giáp xác, 32 loài thân mềm, 3 loài da gai, 3 loài hải sâm, 67 loài cá
biển, 4 loài tôm và 35 loài rong biển, ngoài ra còn có dugong và rùa biển sinh sống.
Hệ sinh thái cỏ biển còn là nơi sống của rất nhiều ấu trùng. Đã xác định được ấu trùng
của 10 họ Tôm, 1 họ cua và 15 họ cá, ngoài ra còn ấu trùng của các loài thân mềm, hai
mảnh vỏ, ốc [15].
Số liệu điều tra năm 1995 cho thấy diện tích che phủ của các bãi cỏ biển ở khu
vực đảo Phú Quốc khoảng 3.650 hecta. Ngày nay, độ che phủ của cỏ biển đã giảm đi
rất nhiều, theo số liệu điều tra năm 2003 thì diện tích cỏ biển ở khu vực Hàm Ninh chỉ
còn khoảng 120 hecta, giảm 60% so với năm 1995 [15].
Mối đe doạ lớn nhất đối với cỏ biển ở Phú Quốc là do tác động của con người
vào hệ sinh thái, chủ yếu là tình trạng khai thác huỷ diệt như: dùng chất nổ, chất độc
hay lưới có kích thước mắt lưới nhỏ khai thác ở khu vực phân bố của các bãi cỏ biển.
Xây dựng các công trình ở vùng ven biển cũng là nguyên nhân trực tiếp làm suy thoái
các bãi cỏ biển.
1.4.2. Rừng ngập mặn
Hệ sinh thái rừng ngập mặn có liên quan mật thiết với hệ sinh thái rạn san hô
và hệ sinh thái cỏ biển, là nơi cư trú, sinh sống, sinh sản của rất nhiều loài cá, nhuyễn
thể, giáp xác, chân đầu, chim, thú, và các loài động vật khác [6].
Theo thống kê năm 2000 thì diện tích rừng ngập mặn ở vùng ven biển Nam Bộ
(Cà Mau, Kiên Giang) khoảng 58.607 ha chiếm 37,7% tổng diện tích rừng ngập mặn
toàn quốc. Theo nghiên cứu của [14], trong các hệ sinh thái rừng ngập mặn ở Việt
13
Nam có tới 77 loài cây ngập mặn khác nhau, thuộc 2 nhóm: Nhóm cây ngập mặn
“thực thụ” (có 36 loài thuộc 20 chi nằm trong 14 họ) và Nhóm cây ngập mặn “gia
nhập” (gồm 42 loài thuộc 36 chi nằm trong 28 họ khác nhau).
Các kết quả nghiên cứu đã công bố cho thấy vùng ven biển tỉnh Cà Mau và
Kiên Giang nước ta có 33 loài cây ngập mặn thực thụ trong tổng số 37 loài cây ngập
ít có những biến động lớn. Do vậy, rạn san hô tương đối đồng nhất về hình thái. Sự
khác biệt chủ yếu do yếu tố nền đáy tạo nên. Các rạn thường có chiều rộng từ 50 -
100m và phân bố tới độ sâu 10 - 13m. Đã phát hiện được gần 270 loài thuộc 64 giống
loài san hô cứng, trong đó có 61 giống san hô tạo rạn [11].
Độ phủ của san hô trên các rạn tại vùng biển Kiên Giang không cao. Theo kết
quả khảo sát năm 2002 thì độ phủ trung bình của san hô trên rạn thuộc vùng biển Phú
Quốc là (42 9) %, Nam Du là (47 12) % và Thổ Chu là (115) %. So với số liệu đã
công bố năm 1994 thì độ che phủ của san hô ở Phú Quốc đã giảm khoảng 3 %; con số
này khá nhỏ nếu so sánh với các vùng biển khác[11].
Nguyên nhân chính dẫn đến sự mất dần độ che phủ của san hô ở vùng biển Kiên
Giang là do tác động của con người vào thiên nhiên mà tác nhân chính là đánh cá bằng
chất độc xyanua, dùng thuốc nổ trong khai thác hải sản. Quá trình xâm thực của Hải
miên cũng là một trong những nguyên nhân làm suy giảm diện tích che phủ của san hô.
1.5. Đặc điểm nguồn lợi thuỷ sản
1.5.1. Nguồn lợi hải sản:
Ngư trường Kiên Giang là tỉnh ven biển thuộc vịnh Thái Lan, có đường bờ biển
dài gần 200km; vùng biển có diện tích 63.200km2 với nhiều đảo và quần đảo che chắn,
có điều kiện tự nhiên thuận lợi và nguồn lợi thuỷ sản rất phong phú, đa dạng, là cơ sở
để nghề cá phát triển nhanh và mạnh mẽ, góp phần chủ yếu đưa ngành thuỷ sản trở
thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. [24]
Trữ lượng và khả năng khai thác
Đến nay chưa có đánh giá chính thức về trữ lượng và khả năng khai thác hải sản ở
vùng biển tây nam bộ nói chung và của vùng biển Kiên Giang nói riêng. Song để tổ
chức sắp xếp lại sản xuất và bố trí phát triển các nghề khai thác hải sản hợp lý, cần thiết
phải sử dụng các số liệu có liên quan của tổ chức FAO, của Viện Nghiên Cứu Hải Sản -
Bộ Thuỷ Sản, các số liệu thống kê hàng năm của sở thuỷ sản Kiên Giang và kinh
nghiệm thực tế đánh bắt của ngư dân trên vùng biển để làm cơ sở.
-Trữ lượng của vùng biển Tây Nam và khoảng 464.660 tấn, khả năng khai thác
cho phép bằng 45% trữ lượng và được phân theo các tuyến như sau [2]:
15
Bảng 2: Trữ lượng vùng biển và khả năng cho phép khai thác phân theo các nổi và các
đáy của tỉnh Kiên Giang.
Cá nổi (tấn)
Cá đáy (tấn)
Độ sâu
(m)
Diện tích
(km2)
Trữ lượng
Cho phép KT
Trữ lượng
Cho phép KT
Tổng
Dưới 20m
Từ 20m -50m
Trên 50m
62390
15440
33960
13890
239.280
77.200
127.350
34.730
95.610
30.880
50.940
13.890
225.380
61.760
- Trai ngọc phân bố ở một số đảo thuộc quần đảo thổ chu, quần đảo An Thới và
quần đảo Nam Du sản lượng cao nhất có thể đến 50 tấn/ năm (riêng hào bao có thể đạt
sản lượng 10.000 tấn/năm.
- Rong câu phân bố ở ven bờ Phú Quốc Kiên Lương và Hà Tiên hàng năm có thể
khai thác được 300 tấn (tươi)
- Hải sâm có ở Bãi Nò (Hà Tiên), mật độ cao nhất đạt 1,7con/m2; Ngoài ra còn
xuất hiện ở một số đảo tại thổ chu và Phú Quốc, mùa khai thác là từ tháng 2-4 và tháng
9-12 hàng năm.
Sự hình thành các ran san hô đã góp phần tạo ra đa dạng sinh học và giữ gìn sự
cân bằng sinh thái, giúp cho sự phục hồi và tái tạo nguồn lợi của vùng biển [24].
1.5.3. Nguồn lợi thuỷ sản nội đồng
Là tỉnh đồng bằng thuộc châu thổ sông Cửu Long, Kiên Giang có nhiều diện tích
mặt nước tự nhiên và nhân tạo từ hệ thống sông ngòi, kinh rạch, đấm hồ và rừng U
Minh ngập nước nên nguồn lợi thuỷ sản nội đồng khá phong phú.
Với hơn 19.000 ha mặt nước sông ngòi, kinh rạch và 20.000ha rừng ngập nước,
hàng năm có thể khai thác được trên 5.000 tấn cá nước ngọt và hàng trăm tấn tôm càng
bằng các nghề truyền thống như thả chà, đóng đáy, đào đìa, cất vó. v.v
17
1.6. Thực trạng khai thác thuỷ sản ở Kiên Giang
1.6.1. Về sản lượng và cơ cấu sản phẩm khai thác:
Bảng 3: Sản lượng khai thác thủy sản của tỉnh qua các năm 2001-2005[24]. (đơn vị: Tấn)
DANH MỤC
2001
2002
2003
2004
2005
Ghi chú
Tổng Sản Lượng
-Cá
năm của
Sở Thuỷ
Sản
1.6.2. Về năng lực tàu thuyền và năng suất khai thác
Bảng 4: năng lực tàu thuyền và năng xuất khai thác thủy sản của tỉnh qua các năm
2001-2005[24]. (đơn vị: Tấn)
Năng suất bình quân
NĂM
Số lượng tàu
(chiếc)
Công suất
máy (cv)
Bình quân
(cv/chiếc)
Theo số tàu
(tấn/chiếc)
Theo công suất
(tấn/cv)
2001
2002
2003
2004
2005
6.821
7.030
7.390
7.500
7.400
701.944
814.570
Số tàu
(Ch)
Tỷ lệ
(%)
Số tàu
(Ch)
Tỷ lệ
(%)
Số tàu
(Ch)
Tỷ lệ
(%)
Số tàu
(Ch)
Tỷ lệ
(%)
2001
2002
2003
2004
2005
3.396
3.548
3.874
3.970
4.090
49,8
50,5
52,4
52,9
9,85
740
752
738
739
446
10,87
10,7
9,98
9,85
6,03
NĂM
Họ nghề
18
1.6.4. Cấu trúc ngư cụ của các họ nghề chính
Bảng 6: Cấu trúc kích thước mắt lưới tại phần thu cá của ngư cụ trong tỉnh[24]
Kích thước mắt lưới
(2a=mm)
TT
Loại Nghề
(1)
Theo qui định
(2)
Đang sử dụng
(3)
Ghi chú
(4)
01
02
03
20
30
105
30
40
05
15
10
*Kích thước mắt lưới tính ở
nơi thu hoạch sản phẩm:
-Lưới kéo là ở đụt
-Lưới vây là ở tùng
-Lưới rê là ở thịt lưới
Thực trạng khai thác thuỷ sản qua số liệu thống kê cho thấy:
-Nghề lưới kéo chiếm tỷ trọng chủ yếu cả về số lượng tàu, công suất máy và sản
lượng khai thác hàng năm (khoảng 80%); các nghề khác mà chủ yếu là nghề khai thác
cá nổi chiếm tỷ trọng thấp. Tình hình này kéo dài sẽ gây nên sự mất cân đối về trữ
lượng, khả năng khai thác cho phép của vùng biển và bất lợi cho việc duy trì đa dạng
sinh học.
-Các loài có giá trị kinh tế thấp chiếm tỷ lệ khá cao (hơn 60%) trong cơ cấu sản
phẩm khai thác; điều đó phản ảnh sự sụt giảm về hiệu quả của việc khai thác nguồn lợi
-Số lượng tàu đóng mới tăng bình quân trong giai đoạn này là 200 chiếc/năm; hầu
hết là tùa có công suất máy lớn đã góp phần nâng công suất máy bình quân của toàn
tỉnh từ 102
cv
/chiếc vào năm 2001 lên 151
cv
/chiếc vào năm 2005. Tuy nhiên năng suất
19
khai thác tính bình quân trên một đơn vị công suất máy (cv) có xu hướng giảm dần, từ
nguồn lợi chỉ dựa vào sản lượng đánh bắt để đưa ra tư vấn quản lý nghề cá bằng
QUOTA đã làm nghề cá Cơm Peru sụp đổ vào cuối năm 1970 và kéo dài suốt thập kỷ
80 với sản lượng thấp nhất là 0,1 triệu tấn (Leonid, 2001).
Theo thống kê của FAO (2004) và nhiều tác giả khác về tổng sản lượng đánh
bắt của họ Engraulidae, chỉ tính riêng vùng biển Hồng Hải (Trung Quốc) đã có tổng
20
sản lượng đánh bắt cao nhất vào năm 1999 với 500,000 tấn. Tiếp theo là Ấn Độ và
Thái Lan có sản lượng khai thác cá Cơm khá lớn trong khu vực châu Á với sản lượng
cao nhất vào khoảng năm 1990 tại Ấn Độ là 125,000 (chiếm khoảng 9% tổng sản
lượng đánh bắt) và 150,000 tấn tại Thái Lan.
Ngư cụ đánh bắt chính của nghề cá Cơm trên thế giới là lưới vây cá Cơm và
lưới chụp (J. McCrae, 1994). Ở các nước châu Á như Thái Lan, Việt Nam, Indonesia,
Philippine, Ấn Độ, ngư cụ đánh bắt chủ yếu là vây cá Cơm, vây cá Cơm kết hợp ánh
sáng và lưới chụp kết hợp ánh sáng (Ruangrai, 1994). Việc sử dụng ánh sáng để đánh
bắt cá Cơm đã dẫn đến sự mâu thuẫn giữa nguồn lợi và việc khai thác, sử dụng nguồn
lợi. Cũng theo nghiên cứu của Ruangrai (1994), tại Thái Lan, việc sử dụng lưới vây cá
Cơm kết hợp ánh sáng đã làm thiệt hại 23 ÷ 35 % giá trị mà nguồn lợi có thể mang lại
do việc đánh bắt lượng lớn cá con. Trong khi đó thiệt hại do những ngư cụ khác gây ra
chỉ khoảng 2 ÷ 9% giá trị mà nguồn lợi có thể mang lại.
1.8. Tình hình nghiên cứu trong nước
- Cá Cơm thường sống thành đàn tương đối lớn ở vùng nước ven bờ dọc biển
Việt Nam, đặc biệt ở vùng biển Tây Nam Bộ, vì vậy, đã hình thành nên những đội tàu
chuyên khai thác cá Cơm ở vùng biển này. Cá Cơm được khai thác chủ yếu bằng lưới
vây, những tỉnh có sản lượng cao là Quảng Ninh, Hà Tĩnh, Bình Định, Quảng Nam-
Đà Nẵng, Nha Trang, Phan Rang, Phan Thiết, Phú Quốc [12]. Sản phẩm được tạo ra
từ cá Cơm cũng rất đa dạng như cá khô, bột cá dùng làm thực phẩm cho con người và
cho chăn nuôi, đặc biệt chúng được dùng làm nguyên liệu để sản xuất nước mắm cá
Cơm, ví như nước mắm Phú Quốc, Phan Thiết, nổi tiếng trong nước và quốc tế.
- Ở Việt Nam, nghiên cứu về sinh học nguồn lợi và hiện trạng khai thác cũng
như sử dụng nguồn nguyên liệu cá Cơm chưa nhiều. Tuy nhiên, có thể kể đến các
trứng cá cá bột của nhiều loài cá biển Việt Nam trong đó có 3 loài cá Cơm thuộc
giống Stolephorus là S. indicus, S. commersoni và S. insularis khá chi tiết.
- Năm 2005 – 2006, Đặng Văn Thi và nnk, trong đó tôi là một thành viên có
nghiên đã tiến hành thực hiện Đề cứu đề tài “Đánh giá nguồn lợi cá Cơm
(Stolephorus spp.) ở vùng biển Tây Nam Bộ và đề xuất các giải pháp bảo vệ, khai thác
hợp lý”.
Tóm lại, mặc dù cá Cơm là đối tượng khai thác quan trọng của nghề khai thác
hải sản, và gắn liền với đời sống thường ngày của người dân Việt Nam, nhưng cho
đến nay tài liệu nghiên cứu về chúng chưa nhiều, đa số các nghiên cứu chỉ tập trung
vào hình thái phân loại. Rất ít nghiên cứu tập trung riêng về sinh học, hiện trạng và
Deleted: có vai trò
Deleted: trong
22
biến động nguồn lợi phục vụ cho việc đưa ra giải pháp khai thác hợp lý các loài cá
Cơm ở nước ta nói trung và ở Kiên Giang nói riêng . Công trình có ý nghiên cứu
mang tính qui mô nhất là của Đặng Văn Thi và nnk về Đề tài độc lập cấp Bộ: “Đánh
giá nguồn lợi cá Cơm (Stolephorus spp.) ở vùng biển Tây Nam Bộ và đề xuất các giải
pháp bảo vệ, khai thác hợp lý”. Cũng chỉ tập trung chủ yếu vào nghiên cứu nguồn lợi
và trên cơ sở nguồn lợi đề xuất các giải pháp bảo vệ, khai thác hợp lý[3].
Là thành viên của nhóm nghiên cứu, tôi đề xuất phát triển nghiên cứu đề tài
nhánh “Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp quản lý khai thác bền vững nguồn lợi cá
cơm tỉnh Kiên Giang” trên cơ sở kết quả nguồn lợi của Đề tài “Đánh giá nguồn lợi cá
cơm ở vùng biển Tây Nam bộ và đề xuất các giải pháp bảo vệ khai thác hợp lý” cùng
với các kết quả điều tra kinh tế xã hội nghề cá cơm độc lập của mình. Việc đề xuất
phát triển nghiên cứu đã được Chủ nhiệm Đề tài, ông Đặng Văn Thi chấp thuận, và
được Hội đồng xét duyệt Đề tài luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Công nghệ khai
thác thủy sản khóa học 2004-2007 chấp thuận.
Về qui mô của Đề tài tôi chỉ giới hạn ở phạm vi tỉnh Kiên Giang vì thứ nhất tôi
là một cán bộ của Kiên Giang rất thuận lợi trong việc nghiên cứu và sử dụng kết quả
nghiên cứu, thứ hai về thực trạng nghề khai thác cá cơ tại vùng biển Tây Nam bộ thì
khác như đá tai (nhĩ thạc), dạ dày… cũng được thu thập để phân tích, đánh giá. Chiều
dài được đo đến đơn vị mm và khối lượng được cân đến đơn vị gram (g). Mẫu dạ dày,
nhĩ thạch được thu thập, bảo quản và đưa về phân tích tại phòng thí nghiệm, Viện
Nghiên cứu hải sản. Nhìn chung, quy trình thu mẫu nghề cá thương phẩm và giám sát
đánh bắt theo hướng dẫn của FAO (1998). Mẫu phụ được sử dụng để phân tích, đồng
thời, hệ số nhân tương ứng được sử dụng cho việc tính toán. Bên cạnh đó, các thông
tin về tổng sản lượng, chi phí, giá thành cũng được thu thập bằng việc phỏng vấn trực
tiếp ngư dân mẫu phiếu phỏng vấn theo mẫu của Dự án ALMRVII
Các tài liệu, số liệu về khai thác và chế biến cá Cơm được thu thập từ các
chuyến điều tra kinh tế xã hội nghề cá ở hai tỉnh Cà Mau và Kiên Giang từ tháng 7
năm 2005 đến tháng 7 năm 2006. Hình thức thu thập số liệu, tài liệu là:
- Phỏng vấn trực tiếp các ngư dân làm nghề lưới vây cá Cơm và nghề “cào bay”,
- Phỏng vấn các cơ sở chế biến nước mắm, cá Cơm khô,
- Thu thập tài liệu, báo cáo tại các cơ quan hữu quan như Sở thuỷ sản, Chi cục
bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản.
Các số liệu về sản lượng khai thác được thu thập qua các chuyến điều tra nghề
cá thương phẩm hàng tháng tại các điểm lên cá. Quy trình thu thập mẫu nghề cá
thương phẩm tuân theo hướng dẫn của Per Sparre (1992).
2.1.4. Ước tính năng suất và sản lượng khai thác
Năng suất và sản lượng khai thác của nghề lưới vây cá Cơm được ước tính theo
công thức của Constantine Stamatopoulos, 2002.
n
i
i
CPUE
n
CPUE
dẫn của Pope (1972).
1),W(*1),(
1
LiLiLiiLNB
n
i
Trong đó: N(Li, Li+1), số cá thể trung bình tồn tại trong nhóm chiều dài Li, Li+1
W(Li, Li+1), khối lượng trung bình nhóm chiều dài Li, Li+1
3.3.2. Đánh giá trữ lượng theo phương pháp thuỷ âm
Trữ lượng của cá Cơm được ước tính dựa vào kết quả điều tra của tàu nghiên
cứu Biển Đông năm 2005. Trữ lượng được ước tính từ số liệu phân bố chiều dài, tham
Deleted: (18)¶