“Khai thác kênh hình và sưu tầm tư liệu để nâng cao hiệu quả giảng dạy Lịch sử Việt
Nam lớp 10 ban cơ bản”
MỤC LỤC
PHẦN I. MỞ ĐẦU.
1. Lý do chọn đề tài…………………………………………………...Trang 1
2. Mục đích nghiên cứu .......................................................................Trang 2
3. Phạm vi nghiên cứu .........................................................................Trang 3
4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu............................... ..........Trang 3
5. Kết cấu của đề tài sáng kiến kinh nghiệm ....................................Trang 3
PHẦN II. NỘI DUNG
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Cơ sở lý luận ...................................................................................Trang 4
2. Cơ sở thực tiễn ................................................................................Trang 7
CHƯƠNG II. CHƯƠNG II: MỘT SỐ GIẢI PHÁP THỰC TẾ TRONG VIỆC “
KHAI THÁC KÊNH HÌNH VÀ SƯU TẦM TƯ LIỆU ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
GIẢNH DẠY LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 10 BAN CƠ BẢN”
1.Yêu cầu đối với giáo viên và học sinh ……………………….........Trang 10
2. Nội dung giáo viên hướng dẫn học sinh khai thác kênh hình và sưu tầm tư liệu học
tập (Phần Lịch sử Việt Nam trong Sách giáo khoa Lịch sử lớp 10 cơ bản)
.................................................................................................Trang 12
2.1 Trước hết tôi giúp học sinh phân loại các kênh hình.................Trang 12
2.2 Phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác kênh hình..........Trang 13
2.3. Biện pháp tiến hành cụ thể............................................................Trang 14
CHƯƠNG III. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC..............................................Trang 53
PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận…………………………………………………………....Trang 56
2. Khuyến nghị……………………………………………………....Trang 57
PHẦN IV. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……………...Trang 59.
Trường THPT Kiệm Tân
thành được khái niệm và hiểu biết lịch sử một cách khoa học.
Có nhiều phương tiện, phương thức để tạo biểu tượng lịch sử cho học
sinh, trong đó đồ dùng trực quan có vị trí đặc biệt quan trọng đối với việc
khôi phục, tái tạo lại quá khứ lịch sử.
Đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông bao gồm
nhiều loại: hiện vật lịch sử, tranh ảnh, các phương tiện trực quan quy ước như
Trường THPT Kiệm Tân
Trang
2
“Khai thác kênh hình và sưu tầm tư liệu để nâng cao hiệu quả giảng dạy Lịch sử Việt
Nam lớp 10 ban cơ bản”
bản đồ, đồ thị, niên biểu, sơ đồ,… Các loại đồ dùng trực quan này góp phần
không nhỏ vào việc tạo biểu tượng, hình thành khái niệm, phát triển tư duy,
cung cấp kiến thức, bồi dưỡng tình cảm, nâng cao nhận thức lịch sử, khả năng
thực hành…Vì vậy, sách giáo khoa lịch sử hiện nay đã dành cho phần kênh
hình một tỉ lệ khá cao. Đây vừa là nội dung minh họa bài học vừa là một bộ
phận kiến thức cần hình thành cho học sinh. Kênh hình không chỉ sử dụng khi
trình bày kiến thức mới mà còn dùng để ôn tập, tổng kết, kiểm tra, hoạt động
ngoại khóa và thực hành.
Trong sách giáo khoa lịch sử, kênh hình bao giờ cũng gắn liền với nội
dung bài viết, câu hỏi, bài tập. Do đó kênh hình đã thay thế một phần nội
dung đáng kể của bài học. Học sinh được sự hướng dẫn của giáo viên tìm hiểu
nội dung kênh hình, khai thác triệt để kênh hình qua đó nhận thức được sự
kiện đang học một cách hứng thú, sinh động, sâu sắc mà nhớ lâu, học sinh sẽ
yêu thích lịch sử từ đó sẽ nâng cao được hiệu quả dạy học lịch sử.
- Nội dung nghiên cứu: tập trung khai thác những nội dung kênh hình đã
cung cấp cho học sinh trong sách giáo khoa lịch sử và hướng dẫn học sinh sưu
tầm thêm về tư liệu lớp 10 cơ bản phần lịch sử Việt Nam .
4. Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Xác định cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn của việc khai thác
kênh hình và sưu tầm tài liệu liên quan trong bộ môn Lịch sử Trường THPT.
- Phân tích thực trạng sử dụng đồ dùng dạy học: khai thác kênh hình và sưu
tầm tài liệu của giáo viên và học sinh ở trường phổ thông.
- Một số kinh nghiệm về việc hướng dẫn khai thác kênh hình và sưu tầm tài
liệu …. Trong dạy học Lịch sử ở trường THPT Kiệm Tân.
5. Phương pháp nghiên cứu.
- Phân tích, tổng kết, so sánh qua các bài có sử dụng, khai thác các kênh hình
và sưu tầm tài liệu có liên quan tới bài dạy.
- Có thể giáo viên cho học sinh xem một số hình ảnh, tư liệu liên quan tới bài
học thông qua đó làm rõ nội dung của bài và giáo dục ý thức và tư tưởng cho
học sinh.
6. Cấu trúc của đề tài.
Đề tài gồm có 3 phần :
PHẦN I. MỞ ĐẦU
PHẦN II. NỘI DUNG
PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Trường THPT Kiệm Tân
Trang
4
“Khai thác kênh hình và sưu tầm tư liệu để nâng cao hiệu quả giảng dạy Lịch sử Việt
Nam lớp 10 ban cơ bản”
Trang
5
“Khai thác kênh hình và sưu tầm tư liệu để nâng cao hiệu quả giảng dạy Lịch sử Việt
Nam lớp 10 ban cơ bản”
Nghị quyết TW 2 khóa VIII: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục
và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo
cho người học. Từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến hiện đại vào quá
trình dạy – học, bảo đảm thời gian và điều kiện tự học tự nghiên cứu cho học
sinh”. “Trong nhà trường, điều chủ yếu không phải là nhồi nhét cho học trò
một mớ kiến thức hỗn độn, tuy rằng kiến thức là cần thiết. Điều chủ yếu là
giáo dục cho học trò phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương
pháp diễn tả, rồi đến phương pháp nghiên cứu, phương pháp học tập, phương
pháp giải quyết vấn đề”(Phạm Văn Đồng, “Hãy tiến mạnh trên mặt trận khoa
học và kỹ thuật”, NXB Sự Thật, Hà Nội, 1969).
Những chủ trương đổi mới giáo dục và đào tạo: Nghị quyết trung ương
4 khóa VII về việc phát triển mạnh mẽ phong trào tự học, tự đào tạo thường
xuyên và rộng khắp trong nhân dân.
Cải tiến , đổi mới phương pháp dạy học không chỉ là việc tích lũy, phát
triển kinh nghiệm giáo dục, mà điều quan trọng hơn là tiến hành trên cơ sở
nghiên cứu khoa học. Bởi phương pháp dạy học là một trong những yếu tố
quan trọng nhất trong quá trình dạy học và quá trình nhận thức.Vì vậy không
thể coi nhẹ phương pháp dạy học , xem đó là kinh nghiệm, thủ thuật của cá
nhân.
Việc bồi dưỡng về phương pháp dạy học là điều cần thiết và cấp thiết
nhằm làm cho việc dạy học Lịch sử thu được nhiều kết quả đáp ứng được nhu
Việc học tập lịch sử thông qua các biện pháp trên nói chung và việc
khai thác kênh hình, sưu tầm tài liệu nói riêng sẽ tạo nhiều hứng thú cho các
em trong học tập, các em được tiếp cận, nhận thức các sự kiện lịch sử và bài
học lịch sử sống động hơn, gần với quá khứ hơn. So với những bài giảng
thông thường, học sinh phải mường tượng trong đầu những sự kiện, nhân vật
mà thầy cô thuyết giảng thì với việc học trên bài giảng điện tử, khai thác các
kênh hình, tìm tòi và nghiên cứu học sinh đã được trực quan sinh động với
những sự kiện, nhân vật lịch sử một cách cụ thể giúp kích thích quá trình tư
duy của học sinh. Từ đó, nội dung kiến thức lịch sử học sinh thu thập đủ hơn
và in sâu hơn vào trong trí nhớ của các em, giờ học sẽ trở nên sôi nổi hơn,
hiệu quả hơn với sự tham gia đóng góp những ý kiến có chất lượng của nhiều
học sinh và học sinh sẽ thực sự chủ động quá trình dạy học, giáo viên có thể
hoàn thành vai trò hướng dẫn học sinh tiếp thu kiến thức bền vững hơn. Qua
thực tế việc khai thác kênh hình và sưu tầm tư liệu trong giảng dạy trong lịch
sử lớp 10 ban cơ bản đã tạo hứng thú cho học sinh. Mỗi học sinh có thể tự
Trường THPT Kiệm Tân
Trang
7
“Khai thác kênh hình và sưu tầm tư liệu để nâng cao hiệu quả giảng dạy Lịch sử Việt
Nam lớp 10 ban cơ bản”
khai thác, tự tìm tòi, khám phá những kiến thức lịch sử cho mình dưới sự
hướng dẫn của giáo viên để bài học trở nên dễ thuộc, dễ hiểu, dễ nhớ hơn.
Vì vậy tôi xin đưa ra đề tài: “Khai thác kênh hình và sưu tầm tư liệu để
nâng cao hiệu quả giảng dạy Lịch sử Việt Nam lớp 10 ban cơ bản”
2. Cơ sở thực tiễn.
“Khai thác kênh hình và sưu tầm tư liệu để nâng cao hiệu quả giảng dạy Lịch sử Việt
Nam lớp 10 ban cơ bản”
kĩ năng thực hành bộ môn, khả năng quan sát, suy luận, trình bày các vấn đề
lịch sử… của học sinh đã không được chú trọng theo đúng yêu cầu đổi mới
của mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình sách giáo khoa và phương pháp
dạy học. Với việc sử dụng đó đồ dùng trực quan, khai thác kênh hình chỉ có
giá trị được dùng để minh họa cho lời giảng của giáo viên nên giá trị sử dụng
của đồ dùng trực quan trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học không cao
hoặc không cần thiết (không sử dụng cũng được). Đây chính là kiểu dạy học
“cầm tay chỉ việc” có tính cách “học hộ” và áp đặt, làm cho người học trở nên
thụ động, mất khả năng và hứng thú tìm tòi, sáng tạo.
Phương pháp dạy học truyền thống vẫn tiếp tục được áp dụng. Hiện
tượng thuyết giảng một chiều, thầy đọc, trò chép diễn ra khá phổ biến trong
các giờ học môn lịch sử. Đồ dùng dạy học chưa sử dụng triệt để, đôi khi trong
tiết dạy giáo viên chỉ đưa ra một số bức tranh, sơ đồ minh hoạ không đủ sức
cuốn hút, hấp dẫn học sinh. Đôi khi các sơ đồ lược đồ được sử dụng không
đảm bảo tính sư phạm.
Sách giáo khoa lịch sử hình ảnh để minh họa cho bài học màu sắc
không sinh động (đen - trắng). Giáo viên lịch sử lại không chú trọng việc
hướng dẫn học sinh khai thác các kênh hình trong sách giáo khoa để các em
hiểu biết kĩ hơn về kiến thức có liên quan tới bài học và ít hướng dẫn các em
sưu tầm tư liệu thêm để giúp bài học thêm sinh động.
Phân phối chương trình bộ môn lịch sử chỉ có 1,5 tiết / tuần, mà kiến
thức lịch sử trong SGK lại rất giàn trải, và đặc biệt với số lượng thời gian ít
nên không có tiết sửa bài kiểm tra. Giáo viên ra đề kiểm tra lại chưa hình
thành đáp án rõ ràng.
Phương thức lĩnh hội chủ yếu của học sinh là nghe và ghi nhớ, kĩ năng
học tập lịch sử của học sinh đang còn rất mơ hồ, đơn điệu về lịch sử. Tổ chức
hoạt động cho học sinh học tập theo nhóm, thảo luận, trình bày theo sơ đồ tư
học sinh không có hứng thú đối với môn lịch sử, việc học tập môn học này
chưa được các học sinh thực sự say mê và muốn khám phá, tìm tòi. Đặc biệt
gia đình không quan tâm, không ủng hộ các em (ví dụ như năm học 20122013 tôi có ôn thi học sinh giỏi lớp 12, có một trường hợp phụ huynh khi tôi
gọi điện xin cho em học sinh đó đi ôn thi học sinh giỏi môn lịch sử thì phụ
huynh này không ngần ngại và nói thẳng với tôi rằng “học cái môn không ra
gì đó để làm gì cô”.
Chương trình lịch sử hiện nay còn nặng, còn nhiều về ghi nhớ số liệu,
sách giáo khoa môn lịch sử quá nhấn mạnh sự kiện, con số, ngày tháng, hình
Trường THPT Kiệm Tân
Trang
10
“Khai thác kênh hình và sưu tầm tư liệu để nâng cao hiệu quả giảng dạy Lịch sử Việt
Nam lớp 10 ban cơ bản”
ảnh chưa phong phú “không gợi nhớ”, học sinh có cảm giác mệt mỏi khi phải
học và nhớ, đọc sau sẽ quên trước. Nhưng một thực trạng hiện nay là học sinh
thiếu động cơ học lịch sử bởi việc nhớ quá nhiều sự kiện là ác mộng với nhiều
học sinh và nhớ một cách máy móc, đa số học sinh học vẹt chiếm tỷ lệ cao.
Với việc khai thác kênh hình trong sách giáo khoa và sưu tầm thêm tư
liệu thì học sinh chỉ biết nhìn vào đó thấy có những hình ảnh, những lược đồ
của trận đánh, hình ảnh những nhân vật lịch sử… có thể để cười, hoặc có một
số em còn vẽ thêm lên những hình ảnh đó. Các em cũng không biết phải trình
bày như thế nào nếu không có sự hướng dẫn của giáo viên.
Trong xã hội hiện nay, công nghệ thông tin rất phát triển nhưng ít có
học sinh giành thời gian lên Internet vào những trang lịch sử mà truy cập, để
tìm hiểu và khám phá thêm về lịch sử nước nhà, mà đa số các em đi vào các
thiết vừa làm phong phú bài giảng vừa giúp học sinh khắc sâu kiến thức. Để
tiết học đạt hiệu quả và nâng cao được hiệu quả học tập, giáo viên cần làm
những việc sau đây:
- Yêu cầu học sinh chuẩn bị bài học, đọc và trả lời các câu hỏi sách
giáo khoa.
- Hướng dẫn học sinh tìm tư liệu và hình ảnh liên quan đến bài học và
tự khai thác kênh hình (quan sát, mô tả, nhận xét).
- Trong tiết học, giáo viên hướng dẫn học sinh khai thác kênh hình
sách giáo khoa và tư liệu cùng những hình ảnh học sinh tự tìm và hình ảnh
do giáo viên cung cấp để học sinh chủ động tiếp nhận kiến thức bài học và
mở rộng thêm những nội dung có liên quan.
Trên cơ sở có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của đồ dùng dạy
học, cơ sở lý luận về đổi mới giáo dục trong việc sử dụng khai thác kênh hình
của giáo viên, từ kinh nghiệm thực tế của bản thân qua quá trình dạy học xin
được trình bày phương pháp sử dụng kênh hình trong quá trình dạy học lịch
sử một cách có hiệu quả:
- Việc khai thác kênh hình sách giáo khoa phải đư c th c hiện th o
các bước sau:
Bước 1: Cho học sinh quan sát tranh, ảnh, lược đồ... để xác định một
cách khái quát nội dung tranh, ảnh cần khai thác.
Bước 2: Giáo viên đưa ra câu hỏi nêu vấn đề và tổ chức, hướng dẫn học
sinh tìm hiểu nội dung tranh ảnh, lược đồ...
Trường THPT Kiệm Tân
Trang
12
Trường THPT Kiệm Tân
Trang
13
“Khai thác kênh hình và sưu tầm tư liệu để nâng cao hiệu quả giảng dạy Lịch sử Việt
Nam lớp 10 ban cơ bản”
- Lư c đồ lịch sử: Là kênh hình nhằm xác định địa điểm của những sự kiện
trong thời gian và không gian nhất định. Đồng thời giúp học sinh suy nghĩ và
giải thích các hiện tượng Lịch sử về mối quan hệ liên hệ nhân quả, có tính
quy luật và trình độ phát triển của quá trình Lịch sử, giúp các em học sinh ghi
nhớ những kiến thức đã học.
- Biểu đồ: Là kênh hình dùng để diễn tả quá trình phát triển, sự vận động của
một sự kiện Lịch sử, trên cơ sở sử dụng số liệu, tài liệu thống kê trong bài
học. Biểu đồ thường được biểu diễn trên trục hoành (ghi thời gian) và trục
tung (ghi sự kiện).
2.2 Phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác kênh hình.
Thứ nhất: Trước khi hướng dẫn học sinh khai thác, tìm hiểu về kênh hình,
tôi chuẩn bị thật kĩ. Tôi tìm hiểu, nắm vững nội dung của kênh hình đó bằng
việc đọc sách tham khảo, báo, mạng Internet, ti vi..
Thứ hai: Để chuẩn bị cho một giờ học mới, tôi yêu cầu học sinh đọc trước
bài ở nhà, tự tìm hiểu về kênh hình trong bài học đó.
Thứ ba: Khi giảng dạy, tôi yêu cầu các em học sinh quan sát kênh hình để
xác định một cách khái quát nội dung kênh hình cần khai thác.Tôi giải thích
bảng chú giải trong kênh hình, đặt câu hỏi để các em thảo luận, tự trình bày
về sự kiện, hiện tượng Lịch sử. Sau đó tôi nhận xét, bổ sung nội dung trả lời
khoa Lịch sử lớp 10 cơ bản).
* Tiết thị phạm : Bài 16. Thời Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh giành độc
lập dân tộc( tiếp theo), phần II, mục 2.
Trong bài này có 2 kênh hình để khai thác: hình 34- đền thờ Hai Bà Trưng ở
Mê Linh (Vĩnh Phúc) trong mục khởi nghĩa Hai Bà Trưng đây là loại kênh
hình tranh ảnh lịch sử và hình 35- Lược đồ chiến thắng Bạch Đằng năm 938
trong mục d, Ngô Quyền và chiến thắng Bạch Đằng năm 938 đây là loại kênh
hình lược đồ lịch sử.
- Khi dạy mục a, khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở phần 2, một số cuộc
khởi nghĩa tiêu biểu tôi đã hướng dẫn cho học sinh khai thác hình 34 - đền thờ
Hai Bà Trưng ở Mê Linh (Vĩnh Phúc) trong sách giáo khoa.
Trường THPT Kiệm Tân
Trang
15
“Khai thác kênh hình và sưu tầm tư liệu để nâng cao hiệu quả giảng dạy Lịch sử Việt
Nam lớp 10 ban cơ bản”
Hình 34- Đền thờ Hai Bà Trưng ở Mê Linh( Vĩnh Phúc)
Tôi hướng dẫn học sinh quan sát bức tranh “đền thờ Hai Bà Trưng” ở
Mê Linh (Vĩnh Phúc), đặt câu hỏi đàm thoại, gợi mở để học sinh suy nghĩ trả
lời. Đó là: Em biết gì về đền thờ Hai Bà Trưng?
Quan sát bức tranh em cảm nhận được điều gì?
Sau khi học sinh trả lời, tôi nhận xét, bổ sung và chốt ý về hình ảnh
“đền thờ Hai Bà Trưng”: ảnh trong sách giáo khoa chụp đền thờ Hai Bà
Trưng tại làng Hạ Lôi, xã Mê Linh,Vĩnh Phúc. Ban đầu đền được dựng bằng
17
“Khai thác kênh hình và sưu tầm tư liệu để nâng cao hiệu quả giảng dạy Lịch sử Việt
Nam lớp 10 ban cơ bản”
Qua việc hướng dẫn học sinh khai thác kênh hình trên có ý nghĩa giáo
dục cao đối với các em tinh thần yêu nước, ý chí quật cường bất khuất của
dân tộc ta, vai trò to lớn của người phụ nữ Việt Nam trong lịch sử vẻ vang của
dân tộc lời thề Trưng Trắc vẫn còn lưu truyền đến ngày nay:
“Một xin rửa sạch nước thù
Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba kẻo oan ức lòng chồng
Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh này”
Trích: “Thiên Nam ngữ lục”.
- Ngoài việc hướng dẫn các em khai thác kênh hình tôi còn hướng dẫn
học sinh tìm hiểu thêm:
+ Các hình ảnh và tư liệu Hai Bà Trưng. Trước khi cung cấp tư liệu về Hai Bà
Trưng, giáo viên đặt câu hỏi để học sinh suy nghĩ, trả lời:
Câu hỏi: Em biết gì về cuộc đời và công lao của Hai Bà Trưng đối với
lịch sử dân tộc?
Học sinh trả lời câu hỏi. Giáo viên nhận xét và kết luận, cung cấp tư
liệu cho học sinh.
- Tư liệu về Hai Bà Trưng:
Trưng Trắc, Trưng Nhị là hai chị em sinh đôi (sinh vào ngày mồng một
tháng tám năm Giáp Tuất, năm 14 sau công nguyên), là con gái của Lạc
tướng huyện Mê Linh (người đứng đầu bộ lạc huyện Mê Linh, thuộc tỉnh
Vĩnh Phúc ngày nay) thuộc dòng dõi Hùng Vương. Mẹ là bà Man Thiện.
Hai Bà mất mồ côi cha sớm nhưng được mẹ quan tâm nuôi nấng, dạy cho
nghề trồng dâu, nuôi tằm, dạy con lòng yêu nước, rèn luyện sức khoẻ, rèn
thuộc vùng hai bên bờ sông Hồng, phía trên thị xã Sơn Tây). Có tài,
Chân dung Lý
Bí(tranh vẽ)
Trường THPT Kiệm Tân
Trang
19
“Khai thác kênh hình và sưu tầm tư liệu để nâng cao hiệu quả giảng dạy Lịch sử Việt
Nam lớp 10 ban cơ bản”
Võ giỏi mưu cao, ông còn là người rất mực yêu nước, thương dân
Một thời gian, Lý Bí có giữ một chức quan nhỏ, coi việc quân ở Châu Đức
(Hà Tĩnh). Nhận thấy tình cảnh cơ cực của dân, ông đem lòng chán ghét chính
quyền đô hộ. Cuối cùng, ông từ chức về quê nhà, mưu tính việc lớn. Nhân
lòng oán hận quân Lương của mọi người, Lý Bí đã chiêu mộ được nhiều
quân, trữ được nhiều lương thực. Ông còn liên kết với hào kiệt các nơi chuẩn
bị cùng nổi dậy.
Theo sử cũ, bấy giờ Triệu Túc và con là Triệu Quang Phục ở vùng Chu Diên
hưởng ứng đầu tiên. Tiếp theo là Tinh Thiều, Phạm Tu cùng hào kiệt nhiều
nơi khác. Tinh Thiều cũng quê ở Thái Bình. Học giỏi, văn hay, nhưng vì
không thuộc dòng dõi quý tộc nên Tinh Thiều chỉ được phong chức "canh
cổng thành". Bất bình, ông không nhận chức, về quê cùng Lý Bí mưu tính
khởi nghĩa. Lão tướng Phạm Tu, người Thanh Trì (Hà Nội), bấy giờ đã ngoài
sáu mươi, vẫn cùng lớp trai làng hăng say việc nước.
Mùa xuân năm 542, Lý Bí phất cờ nổi dậy. Khởi nghĩa thành công nhanh
Chân dung Ngô Quyền( tranh minh họa).
Năm 938, Ngô Quyền cùng với Dương Tam Kha (con trai Dương Đình
Nghệ) và Đỗ Cảnh Thạc đem quân ra Đại La, giết chết Kiều Công Tiễn
khi quân Nam Hán còn chưa kịp vào thành. Thành Đại La trở thành
trung tâm đầu não và chỉ huy của Ngô Quyền để nhanh chóng tổ chức
kháng chiến chống quân Nam Hán ở sông Bạch Đằng. Trước mưu đồ
xâm lược trở lại của phong kiến Trung Quốc, ngọn cờ cứu nước của
Ngô Quyền trở thành ngọn cờ đoàn kết của cả dân tộc. Đội quân Ngô
Quyền, từ một đội binh Ái Châu đã nhanh chóng trở thành một đội
quân dân tộc. Truyền thuyết dân gian còn ghi nhớ chuyện 38 chàng trai
làng Gia Viễn (Hải Phòng) do Nguyễn Tất Tố và Đào Nhuận dẫn đầu,
Trường THPT Kiệm Tân
Trang
23
“Khai thác kênh hình và sưu tầm tư liệu để nâng cao hiệu quả giảng dạy Lịch sử Việt
Nam lớp 10 ban cơ bản”
đã tự vũ trang, xin theo Ngô Quyền phá giặc. Trai tráng các làng Lâm
Động
(Thủy Nguyên, Hải Phòng), Đằng Châu (Kim Động, Hải Hưng), người mang
vũ khí, kẻ mang chiến thuyền, tìm đến cửa quân xin diệt giặc. Ba anh em Lý
Minh, Lý Bảo, Lý Khả ở Hoàng Pha (Hoàng Động, Thủy Nguyên), ông tổ họ
Phạm ở Đằng Giang (An Hải, Hải Phòng) cũng chiêu mộ dân binh, hăng hái
tham gia kháng chiến.