SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT TT TRƯƠNG VĨNH KÝ
Mã số: ................................
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
DẠY HỌC HÓA HỌC 12 GẮN LIỀN VỚI THỰC TIỄN
ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
Người thực hiện: NGUYỄN THỊ PHƯƠNG NHUNG
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn: Hóa học
- Lĩnh vực khác: .......................................................
Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
Mô hình Đĩa CD (DVD)
Phim ảnh
(các phim, ảnh, sản phẩm phần mềm)
Năm học: 2015-2016
Hiện vật khác
2
Chuyên đề:
DẠY HỌC HÓA HỌC 12 GẮN LIỀN VỚI THỰC TIỄN
ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
––––––––––––––
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hóa học là một môn khoa học thực nghiệm, đóng vai trò hết sức quan trọng trong
việc hình thành và phát triển trí dục cho học sinh. Thông qua việc học hoá học là
để hiểu, để giải thích được các vấn đề thực tiễn dựa trên cơ sở cấu tạo nguyên tử,
phân tử, sự chuyển hoá của các chất bằng các phương trình phản ứng hoá học...
Đồng thời là khởi nguồn, là cơ sở phát huy tính sáng tạo ra những ứng dụng phục
vụ trong đời sống của con người. Hoá học góp phần giải tỏa, xoá bỏ hiểu biết sai
lệch làm phương hại đến đời sống, tinh thần của con người...
Nhưng thực tế, đối với những giờ học Hóa hiện nay thì việc phát huy tối đa mục
đích trên lại rất hạn chế. Học sinh chỉ được tiếp thu những lí thuyết, khái niệm,
định luật… khô cứng. Đặc biệt là học sinh THPT khối 12, khi mà mục tiêu duy
nhất của các em là vượt qua được các kì thi với những lí thuyết và bài toán khô
khan. Hứng thú học tập là một khái niệm “ xa xỉ” đối với các em. Hơn thế nữa,
trong những năm gần đây, khi các môn học có xu hướng chú trọng liên hệ thực tế,
các đề thi Hóa học thường có những câu hỏi thực tiễn dưới hình thức là câu hỏi “
vận dụng ở mức độ cao”. Học sinh bắt đầu lúng túng, thường xuyên không giải
quyết được những câu hỏi này. Từ đó, ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của việc
giảng dạy, xa rời mục đích ban đầu của bộ môn Hóa học đặt ra.
Để nâng cao khả năng tiếp thu, tính chủ động, sáng tạo trong học tập môn Hóa học
của học sinh, giáo viên giảng dạy cũng đã sử dụng thường xuyên các phương
pháp dạy học tích cực như thảo luận nhóm, nêu vấn đề, ...Tuy nhiên, việc gắn
liền các kiến thức thực tế bộ môn vào các bài giảng hàng ngày trong giảng dạy
thực tiễn của môn học, làm cho các bài học trở nên hấp dẫn và lôi cuốn học sinh
hơn. Đồng thời góp phần năng cao năng lực nhận thức, tự học, tích cực chủ
động học tập của học sinh. Điều đó làm tăng hứng thú học tập mang lại kết quả
học tập bộ môn cao hơn.
V. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu cơ sở lí luận việc đổi mới chương trình giáo dục môn hóa, phương
pháp
đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực, tích hợp
Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa, sách giáo viên hóa học phổ thông.
Mục tiêu chương trình hóa học phổ thông ( chủ yếu là trung học phổ thông ) để
sưu tầm và xây dựng hệ thống một số hiện tượng hóa học phát huy tính tích
cực, chủ động tư duy cho học sinh nhằm tăng hứng thú, say mê học tập bộ môn.
VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu luật giáo dục về đổi mới chương trình, phương pháp dạy
học,…
Các tài liệu về lí luận dạy học, phương pháp dạy học tích cực bộ môn
hóa.
Sưu tầm, liệt kê các hiện tượng hóa học thực tiễn áp dụng cho một số bài dạy cụ
thể ở chương trình hóa học trung học phổ thông.
4
B. PHẦN NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC ĐƯA KIẾN THỨC THỰC TIỄN VÀO BÀI
GIẢNG HÓA HỌC PHỔ THÔNG ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
1. Vai trò của việc đưa kiến thức thực tiễn vào bài giảng trong quá trình dạy
học hóa học phổ thông
Có thể nói rằng, việc đưa kiến thức thực tiễn vào bài giảng là một điều cần thiết
phải có trong quá trình dạy học.
- Thời gian dành cho tiết học không nhiều do đó giáo viên không có cơ hội
đưa những kiến thức thực tế vào bài học.
5
- Năng lực vận dụng kiến thức hoá học để giải thích những tình huống xảy ra
trong thực tế của học sinh còn hạn chế.
- Vốn hiểu biết thực tế của học sinh về các hiện tượng có liên quan đến hóa
học trong đời sống hàng ngày còn ít.
3. Cơ sở lí luận
Giáo viên phải tổ chức được các hoạt động tự lực học tập cho học sinh theo
những cơ sở lí luận sau:
3.1. Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh học tập theo hướng tích hợp
Hiện nay, với sự phát triển về mọi mặt đòi hỏi tính toàn diện nên chương trình
đào tạo cũng hướng tới mục đích liên kết, kết hợp các môn học thuộc cùng lĩnh
vực lại với nhau. Thông qua một bài học hóa học, chúng ta nên và cần làm rõ cho
học sinh thấy được mối quan hệ hữu cơ của các lĩnh vực không những hóa học
mà còn giữa các ngành khoa học khác như: sinh học, vật lí, toán học….
Khi dạy kiến thức hóa học bất kể từ lĩnh vực nào: cấu tạo nguyên tử, phương
trình hóa học, dung dịch…đều liên quan đến kiến thức vật lí hay nhiều hiện
tượng thiên nhiên, hoặc kiến thức hóa hữu cơ: gluxit, lipit, protein,…đều liên
quan đến kiến thức sinh học, nên khi sử dụng những câu hỏi mở rộng theo
hướng tích hợp sẽ làm cho học sinh chủ động tìm tòi câu trả lời, đồng thời thấy
được sự liên hệ giữa các môn học với nhau.
Ví dụ: khi ta học sinh học, ta biết không nên để nhiều cây xanh trong phòng ngủ
vào ban đêm vì quá trình hô hấp của cây. Đến khi học hóa học ta lại càng hiểu
rõ hơn là do vào ban đêm cây không có ánh sáng để thực hiện quá trình quang
hợp:
¸ nhs¸ ng
6nCO 2 + 5nH 2 O
đó giúp học sinh thêm yêu thích môn học hơn.
Ví dụ: Khi học về photpho, GV có thể đưa ra tình huống:
Vì sao khi ăn phải bả, chuột thường chết ở nơi gần nguồn nước ?
Giải thích: Bã chuột có công thức là Zn3P2, thủy phân theo phương trình:
→ 3Zn(OH)2 + 2PH3
Zn3P2 + 6H2O ¬
Khí PH3 độc giết chết chuột. Ngoài ra, do phản ứng thủy phân hai chiều, chuột
càng uống nước, chuột lại càng khát nước vì H2O đã mất do cân bằng dịch
chuyển theo chiều thuận. Chính vì thế chuột lại càng nhanh chết hơn.
Tình huống mang tính thách đố như vậy sẽ kích thích học sinh học tập và thi đua
nhau tìm câu trả lời. Các em sẽ nhớ kiến thức lâu hơn.
4. Một số tình huống để áp dụng thực tiễn vào bài học
4.1. Đặt tình huống dẫn vào bài
Tiết dạy có thành công hay không nhờ vào người hướng dẫn (giáo viên) rất
nhiều. Trong đó phần mở đầu đặc biệt quan trọng, nếu ta biết đặt ra một tình
huống thực tiễn hoặc một tình huống giả định yêu cầu học sinh cùng tìm hiểu,
giải thích qua bài học sẽ lôi hút được sự chú ý của học sinh.
4.2. Liên hệ thực tế trong bài dạy
7
Khi học xong vấn đề gì học sinh thấy có ứng dụng thực tiễn cho cuộc sống thì các
em sẽ chú ý hơn, tìm tòi, chủ động tư duy để tìm hiểu, để nhớ hơn. Do đó mỗi
bài học giáo viên đưa ra được một số ứng dụng thực tiễn sẽ lôi cuốn được sự chú
ý của học sinh.
Tuy nhiên, giáo viên phải biết lựa chọn cách giải thích cho phù hợp, nếu học
Câu 2: Vì sao các chất béo (dầu, mỡ,…) không tan trong nước mà
tan trong các dung môi hữu cơ không phân cực?
a. Giải thích: Những chất phân cực sẽ tan trong dung môi phân cực, những chất
không phân cực sẽ tan trong dung môi không phân cực. Chất béo (dầu, mỡ) là
8
những chất không phân cực còn nước là dung môi phân cực nên chất béo không
tan trong nước mà chỉ tan trong dung môi hữu cơ không phân cực.
b. Áp dụng: Đây là tính chất hóa học quan trọng của chất béo. Giáo viên có thể
nêu câu hỏi, đặt vấn đề trong phần tính chất vật lí của chất béo trong bài “ Lipit”
( tiết 2- lớp 12)
Câu 3: Dầu mỡ động - thực vật để lâu thường có mùi khó chịu, ta gọi đó
là hiện tượng ôi mỡ. Cho biết nguyên nhân gây nên hiện tượng ôi mỡ.
a. Giải thích: Quá trình ôi mỡ tăng nhanh và ở điều kiện nhiệt độ ẩm cao, nóng và
có ánh sáng. Mỡ bị ôi do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng chủ yếu do oxi
không khí cộng vào liên kết đôi C = C, trong gốc axit béo không no tạo thành
peoxit, sau đó peoxit tiếp tục chuyển thành andehit và axit cacboxylic có mùi khó
chịu.
b. Áp dụng: Giáo
viên có thể nêu hiện
tượng yêu cầu học
sinh giải thích trong
phần tính chất hóa
học của chất béo ở
bài “Lipit” ( tiết 2 –
lớp 12)
Câu 4. Vì sao gạo
nếp lại dẻo?
a. Giải thích:
của tinh bột trong bài: “
Saccarozơ, tinh bột và
xenlulozơ” ( Tiết 8 – lớp
12)
Câu 6: Vì sao khi để rớt H2SO4 đậm đặc vào quần áo bằng vải sợi bông
thì chỗ vải đó bị đen lại và bị thủng ngay, còn khi bị rớt HCl vào thì vải
mủn dần rồi mới bục ra?
a. Giải thích: Thành phần chính của sợi bông là xenlulozơ. Khi H2SO4 đặc rớt
vào thì H2SO4 đặc có tính háo nước, sẽ hút nước rất nhanh làm cho vải sợi bông
bị thủng ngay và thành phần còn lại là Cacbon (C) có màu đen. Còn khi HCl rớt
vào, bản chất của HCl chỉ là một axit mạnh nên chỉ thủy phân xenlulozơ dẫn đến
vải mủn dần.
b. Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi nêu vấn đề ở phần tính chất hóa học
của xenlulozơ trong bài: “ Saccarozơ, tinh bột và xenlulozơ” ( Tiết 8 – lớp 12)
Câu 7: Vì sao vắt chanh vào cốc sữa đặc có đường sẽ thấy có kết tủa?
a. Giải thích: Trong sữa có thành phần Protein gọi là cazein, khi vắt chanh vào
sữa sẽ làm tăng độ chua tức làm giảm độ pH của dung dịch sữa. Tới pH đúng với
điểm đẳng điện của cazein thì chất này sẽ kết tủa. Khi làm phomat người ta cũng
tách cazein rồi cho lên men tiếp. Việc làm đậu phụ cũng theo nguyên tắc tương
tự như vậy.
b. Áp dụng: Giáo viên có thể đặt vấn đề ở đầu bài học: Peptit – Protein ( tiết 17 –
lớp 12)
10
Câu 8: Vì sao rượu lại làm mất mùi tanh của cá?
a. Giải thích: Cá tanh do
trong cá có trimetylamin
(CH3)3N và đimetylamin
mọi người.
b. Áp dụng: Học sinh biết
vận dụng bài học của mình để
sơ cứu khi cần thiết là điều rất
11
có ý nghĩa. Vì vậy, Giáo viên có thể đưa câu hỏi này vào nội dung bài học: peptit
và protein. ( tiết 17 – Lớp 12)
Câu 10: Tại sao khi nấu thịt, cá cùng với rau, quả có vị chua thì nhanh nhừ
hơn?
a. Giải thích: Trong môi trường axit là các rau, quả có vị chua sẽ xúc tác cho sự
thủy phân protein tạo thành aminoaxit và những protein đơn giản hơn, nên thịt cá
nhanh nhừ hơn.
b. Áp dụng: Giáo viên có thể đưa ra câu hỏi này khi bắt đầu phần tính chất hóa
học của protein (tiết 17- Lớp 12)
Câu 11: Phân biệt các chất liệu vải như thế nào?
a. Giải thích: Căn cứ vào bản chất của có chất liệu làm nên vải ta có thể nhận
biết cách đơn giản sau:
Nếu vải làm bằng sợi bông: Khi đốt sợi vải cháy nhanh, ngọn lửa màu vàng, có
mùi như đốt giấy và tro có màu xám đậm.
Nếu vải làm bằng sợi tơ tằm: Khi đốt sợi vải cháy chậm hơn vải sợi bông, có mùi
khét như đốt tóc, sợi tơ co cục, màu nâu đen, lấy tay bóp thì tan.
Nếu vải làm bằng lông cừu( len lông cừu): Khi đốt bắt cháy không nhanh, bốc
khói, có mùi khét như đốt tóc và tạo thành những bọt phồng, rồi vón cục có màu
đen hơi óng ánh, giòn, bóp tan ngay.
Nếu vải làm bằng sợi visco: Khi đốt sợi vải cháy nhanh, ngọn lửa màu vàng, có
mùi như đốt giấy và tro có màu xám nhưng rất ít.
Nếu vải làm bằng sợi axetat: Khi đốt sợi vải bắt cháy chậm ,thành giọt dẻo màu
những phương pháp chống ăn mòn kim loại. Phương pháp điện hóa ( dùng Zn) để
bảo vệ vỏ tàu biển như trên rất hiệu quả và được ứng dụng rất rộng rãi. Giáo viên
có thể nêu vấn đề sau khi dạy xong bài “Ăn mòn kim loại”( Tiết 31- lớp 12) để cho
học sinh giải thích nhằm giúp cho học sinh biết cách vận dụng kiến thức để giải
thích hiện tượng trong cuộc sống.
Câu 2: Vì sao trước khi luộc rau muống cần cho thêm một ít muối ăn NaCl ?
a. Giải thích:
Dưới áp suất
khí quyển
1atm thì nước
sôi ở 100oC.
Nếu cho thêm
một ít muối ăn
vào nước thì
nhiệt độ sôi
cao hơn
100oC. Khi đó
luộc rau sẽ
mau mềm,
xanh và chín
nhanh hơn là
luộc bằng
nước không. Thời gian rau chín nhanh nên ít bị mất vitamin.
b. Áp dụng: Đây là một vấn đề rất quen thuộc mà nếu không chú ý thì học sinh sẽ
không biết. Học sinh dễ dàng làm thí nghiệm ngay khi nấu ăn. Từ đó góp phần tạo
nên kinh nghiệm nấu ăn cho học sinh, rất thiết thực trong cuộc sống. Giáo viên có
thể nêu vấn đề trên sau khi kết thúc bài “Các hợp chất của natri” (Tiết 41 lớp 12).
13
a. Giải thích: Vôi là canxi hiđroxit, là chất tan ít trong nước nên khi cho
nước vào tạo dung dịch trắng đục, khi tô lên tường thì Ca(OH)2 nhanh chống
khô và cứng lại vì tác dụng với CO2 trong không khí theo phương trình:
Ca(OH)2 + CO2
→ CaCO3 + H2O
b. Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần mở rộng tính chất hóa
học của canxi hiđroxit ở bài :Một số hợp chất quan trọng của kim loại kiềm thổ
( tiết 43, 44- Lớp 12).
Câu 6: Tại sao khi nấu nước giếng ở một số vùng, lâu ngày thấy xuất hiện
lớp cặn ở đáy ấm? Cách tẩy lớp cặn này như thế nào ?
a. Giải thích: Trong tự nhiên, nước ở một số vùng là nước cứng tạm thời - là
nước có chứa các muối axit như: Ca(HCO3)2 và Mg(HCO3)2.
Khi nấu nước lâu ngày thấy xảy ra phương trình hóa học:
Ca(HCO3)2 → CaCO3↓ + CO2↑ + H2O
Mg(HCO3)2 → MgCO3↓ + CO2↑ + H2O
Do CaCO3 và MgCO3 là chất kết tủa nên lâu ngày sẽ đóng cặn. Để tẩy lớp
cặn này thì dùng giấm (dung dịch CH3COOH 5%) cho vào ấm đun sôi để nguội
khoảng một đêm rồi rửa sạch.
b. Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần mở rộng bài : Nước
cứng ( tiết 43, 44 – Lớp 12). Mục đích là cung cấp cho học sinh một số vấn đề
có trong đời sống từ đó có thể giải thích được bản chất vấn đề nhằm kích thích
sự hưng phấn trong học tập. Đây là hiện tượng mà học sinh có thể quan sát và
thực hiện được dễ dàng.
Câu 7: Hiện tượng tạo hang động và thạch nhũ với những hình dạng phong
phú đa dạng được hình thành như thế nào ?
a. Giải thích: Các vùng núi đá vôi, thành
phần chủ yếu là CaCO3. Khi trời mưa
trong không khí có CO2 tạo thành môi
trường axit nên làm tan được đá vôi.
Những giọt mưa rơi xuống sẽ bào mòn đá
cho đá bị bào mòn dần.
b. Áp dụng: Hiện tượng này thường thấy ở những phiến đá có dòng nước chảy
qua. Do hiện tượng xảy ra chậm nên phải thật sự chú ý chúng ta mới nhận ra điều
này. Hiểu được điều này giúp học sinh biết được dụng ý khoa học của câu tục ngữ
có từ xa xưa và làm cho hóa học trở nên rất gần gũi hơn trong cuộc sống đời
thường. Giáo viên có thể nêu vấn đề này ở phần “Canxi cacbonat” của bài :Một số
hợp chất quan trọng của kim loại kiềm thổ ( tiết 43, 44- Lớp 12).
Câu 9: Vì sao trước khi thi đấu các VĐV thể thao cần xoa bột trắng vào lòng
bàn tay?
a. Giải thích: Loại bột màu trắng có
tên gọi là “Magiê cacbonat”(MgCO3)
mà người ta vẫn hay gọi là “ bột
magiê”. MgCO3 là loại bột rắn mịn,
nhẹ có tác dụng hút ẩm rất tốt. Khi
tiến hành thi đấu, bàn tay của các vận
động viên thường có nhiều mồ hôi.
Điều đó đối với các vận động viên thi
đấu thể thao hết sức bất lợi. Khi có
nhiều mồ hôi ở lòng bàn tay sẽ làm
giảm độ ma sát khiến các vận động viên sẽ không nắm chắc được các dụng cụ khi
thi đấu. Điều này không chỉ ảnh hưởng xấu đến thành tích mà còn gây nguy hiểm
khi trình diễn. MgCO3 có tác dụng hấp thụ mồ hôi đồng thời tăng cường độ ma sát
giữa bàn tay và các dụng cụ thể thao giúp vận động viên có thể nắm chắc dụng cụ
và thực hiện các động tác chuẩn xác hơn.
16
Ngoài ra với các vận động viên giàu kinh nghiệm, họ có thể lợi dụng khoảnh khắc
“xoa bột” làm giảm bớt tâm lí căng thẳng; sắp xếp lại trình tự thực hiện thao tác,
ôn tập lại các yếu lĩnh, chuẩn bị tốt hơn tâm lí thi đấu để thực hiện các thao tác
a. Giải thích : Đó chính là màn kịch giữa sắt và nước. Ở nhiệt độ cao, sắt và
nước tác dụng với nhau tạo nên oxit sắt từ (Fe3O4) lấp lánh màu lam.
3Fe + 4H2O → Fe3O4 + 4H2
Không nên coi thường lớp áo màu lam này của sắt, chính nó là tấm màng bảo vệ
sắt làm cho sắt không bị gỉ và bị ăn mòn.
17
b. Áp dụng : Giáo viên có thể đặt vấn đề ở bài Sắt ( tiết 52 – Lớp 12)
Câu 12 : Chảo , môi, dao đều được làm từ sắt. Vì sao chảo lại giòn ? môi lại
dẻo ? còn dao lại sắc ?
a. Giải thích : Chảo xào rau, môi và dao đều làm từ sắt. Thế nhưng loại sắt để chế
tạo chúng lại không giống nhau.
Sắt dùng để làm chảo là “gang”. Gang có tính chất là rất giòn. Trong công
nghiệp, người ta nấu chảy lỏng gang để đổ vào khuôn, gọi là “đúc gang”
Môi múc canh được chế tạo bằng “thép non”. Thép non không giòn như gang.
Người ta thường dùng búa để rèn, biến thép thành các đồ vật có hình dạng khác
nhau.
Dao thái rau không chế tạo từ thép non mà bằng “thép”. Thép vừa dẻo vừa dát
mỏng được, có thể rèn, cắt gọt nên rất sắc.
b. Áp dụng: Vấn đề từ sắt có thể điều chế những vật dụng có chức năng khác nhau
được sử dụng rất rộng rãi trong cuộc sống. Giải thích được điều này đòi hỏi học
sinh phải biết được tính chất của sắt cũng như hợp kim của nó. Giáo viên có thể đề
cập trong bài “Hợp kim của sắt” ( Tiết 54 - lớp 12).
Câu 13 : Vì sao dụng cụ phân tích rượu có thể phát hiện các lái xe đã uống
rượu?
a. Giải thích : Thành phần chính của các loại nước uống có cồn là rượu etylic.
Đặc tính của rượu etylic là dễ bị oxi hóa. Có rất nhiều chất oxi hóa có thể tác
dụng với rượu nhưng người chọn một chất oxi hóa là crom(VI)oxit CrO3. Đây là
một chất oxi hóa rất mạnh, là chất ở dạng kết tinh thành tinh thể màu vàng da
Khá, giỏi Trên TB
12B10 ( không áp dụng)
0%
79,1%
12B13( có áp dụng)
3,6%
89,2%
Với việc áp dụng các kiến thức thực tiễn vào trong giảng dạy môn hóa học
THPT, năm học 2014-2015 taị trường THPT Trương Vĩnh Ký, tôi nhận thấy sự
tiến bộ của học sinh và đã làm tăng được tính tò mò của rất nhiều học sinh. Với cố
gắng của bản thân, tôi tin rằng tỉ lệ học sinh yếu sẽ được giảm hơn nữa, để góp
phần nâng cao chất lượng giáo dục.
Vì chưa có điều kiện tìm hiểu môi trường học ở những nơi khác nhau và
nguồn lực có hạn nên đề tài còn nhiều hạn chế. Kính mong sự đóng góp ý kiến
thêm cho đề tài để những năm tiếp theo đề tài hoàn thiện hơn và phong phú hơn để
được áp dụng rộng rãi trong giảng dạy bộ môn hóa học THPT.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] SÁCH GIÁO KHOA HÓA HỌC 10, 11, 12
( Nhà xuất bản Giáo Dục)
[2] PHÂN PHỐI CHƯƠNG TRÌNH HÓA HỌC10, 11, 12.
(SỞ GD & ĐT ĐỒNG NAI)
[3] 385 CÂU HỎI VÀ ĐÁP VỀ HÓA HỌC VỚI ĐỜI SỐNG