SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị : Trường THPT Phú Ngọc
Mã số: ................................
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
VÀI SUY NGHĨ VỀ VIỆC RÈN KĨ NĂNG CẢM THỤ VĂN HỌC
TRONG THỂ ĐỐI SÁNH CHO HỌC SINH GIỎI Ở MÔN NGỮ VĂN
Người thực hiện: PHẠM QUANG ĐỨC
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ văn
- Lĩnh vực khác: ...............................................
Có đính kèm:
Mô hình
Đĩa CD (DVD)
Phim ảnh
Hiện vật khác
Năm học: 2015-2016
1
trong giờ dạy giảng văn- đọc văn.
+ Một vài suy nghĩ về kinh nghiệm viết bài văn nghị luận có hiệu quả.
+ Vài kinh nghiệm về biện pháp giáo dục học sinh cá biệt có hiệu quả.
2
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Dạy học là một nghệ thuật, đặc biệt đối với bộ môn ngữ văn trong các cấp
học phổ thông hiện nay. Môn ngữ văn vẫn là bộ môn chính, chiếm nhiều thời
lượng trong chương trình học tập của học sinh ở trường THPT hiện tại. Tuy nhiên
việc dạy và học văn ở cấp học phổ thông hiện nay không phải lúc nào và ở đâu
diễn ra cũng thuận lợi và không phải lúc nào cũng cho kết quả khả quan. Trong đó
công việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn văn vừa là nhiệm vụ quan trọng nhưng
cũng là thách thức không nhỏ đối với người giáo viên, nhất là giáo viên trực tiếp
tham gia bồi dưỡng. Ngay cả việc học sinh đăng kí danh sách vào đội tuyển học
sinh giỏi môn văn cũng là điều hết sức khó khăn. Bởi trước mắt các em có quá
nhiều vấn đề để chọn lựa. Có lẽ chỉ em nào có một chút tâm hồn và thực sự yêu
văn chương mới có bản lĩnh ghi danh vào đội tuyển. Đó là thực trạng trong công
tác bồi dưỡng học sinh giỏi mà tôi đã thấy qua nhiều năm học trong quá trình bồi
dưỡng. Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn văn cũng có những vấn đề cần
đặt ra là làm sao thu hút, tạo được sự hứng thú, mới mẽ cho học sinh trong quá
trình học tập hay để các em chìm trong sự chán nản, tẻ nhạt và mang lại hiệu quả
thấp.
Tuy nhiên có thể do nhiều lí do khác nhau có thể ảnh hưởng đến tinh thần học
tập môn học này của học sinh, song việc đứng lớp và vai trò của người giáo viên
có phần quyết định lớn đến thái độ và kết quả học tập của các em. Nếu người thầy
tìm được phương pháp giảng dạy phù hợp với bài học và bộ môn thì sẽ giúp học
sinh, nhất là học sinh giỏi có điều kiện tiếp thu baì học có hiệu quả, gia tăng sự
hứng thú trong học tập và tất nhiên là kết quả học tập cũng sẽ được nâng lên.
trong một điều kiện hoàn cảnh có thể. Công việc dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi
cũng không ngoài mục đích đó. Nghĩa là người giáo viên phải tìm cách nâng cao
và cải tiến được chất lượng và hiệu quả giảng dạy so với thời gian trước đó. Như
vậy người giáo viên trực tiếp đứng lớp giảng dạy phải suy nghĩ và tìm ra những
phương pháp kĩ thuật để mang lại kết quả cuối cùng một cách tốt nhất. Dạy bộ môn
ngữ văn và bồi dưởng học sinh giỏi cũng vậy. Người giáo viên giảng dạy bộ môn
ngữ văn cũng luôn suy nghĩ, vận động để nâng cao chất lượng giảng dạy và đào tạo
được nhiều học sinh giỏi.
Trong thực tiễn giảng dạy trước đây đã có nhiều nhà nghiên cứu giáo dục và
các giáo viên ở nhiều cấp học, trong đó có giáo viên ở cấp học THPT đã có nhiều
suy nghĩ và tìm các phương pháp giảng dạy khác nhau để góp phần nâng cao hiệu
quả giảng dạy và đạt được mục tiêu của mình trong giáo dục. Công tác bồi dưỡng
học sinh giỏi cũng đã có nổ lực ở nhiều giáo viên khác trong việc sáng kiến, tìm tòi
để nâng cao hiệu quả. Bản thân tôi cũng đã tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi và cố
gắng tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy trong những năm
học đã qua như Sáng kiến kinh nghiệm: Một vài suy nghĩ về kinh nghiệm tạo hứng
thú cho học sinh trong giờ dạy giảng văn - đọc văn. Đề tài: Một vài suy nghĩ về
kinh nghiệm viết bài văn nghị luận có hiệu quả. Đề tài: Một vài suy nghĩ về kinh
nghiệm giúp học sinh chuẫn bị bài có hiệu quả trong môn ngữ văn. Đề tài: Một vài
suy nghĩ về kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi có hiệu quả. Trong đó có đề tài
tập trung về các giải pháp giúp nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn
văn. Tất cả các đề tài trên đều có những cách thức khác nhau trong hoạt động
giảng dạy nhưng đều hướng đến mục đích chung nhất là nhằm đưa ra những
phương pháp trong dạy học bộ môn để tác động trực tiếp đến học sinh học tập để
mang lại hiệu quả cho bộ môn mà người giáo viên tham gia đứng lớp giảng dạy.
Những đề tài trên đã mang lại những hiệu quả cụ thể nhất định như tôi đã trực tiếp
trình bày trong đề tài. Tuy nhiên đề tài mà tôi trình bày trong sáng kiến kinh
nghiệm này: Vài suy nghĩ về phương pháp rèn luyện kĩ năng cảm thụ văn học
trong thể đối sánh cho học sinh giỏi môn ngữ văn. Đây là đề tài có định hướng đi
sâu vào công việc giúp học sinh nâng cao khả năng cảm thụ văn học trong cái nhìn
Khuôn khổ đề tài này người viết chỉ đưa ra một giải pháp duy nhất để giúp
học sinh giỏi rèn luyện và nâng cao khả năng cảm thụ văn học để nâng cao chất
lượng giảng dạy và học tập mà người viết đã áp dụng trong thời gian từ 2012 đến
nay. Nội dung chính của đề tài gồm:
- Trong quá trình giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi, giáo viên gợi cho học
sinh các hình ảnh, chi tiết, vấn đề văn học để học sinh có thể liên tưởng để so sánh.
- Yêu cầu học sinh phát hiện những điểm giống và khác nhau, nét độc đáo
trong các vấn đề so sánh văn học.
- Gíao viên đưa ra nhận xét ý kiến của mình và đánh giá những so sánh văn
học mà học sinh đã thể hiện, trình bày.
1. Giáo viên gợi cho học sinh những chi tiết, vấn đề học sinh có thể liên
tưởng, so sánh
Trong hoạt động giảng dạy, cũng như công việc bồi dưỡng học sinh giỏi văn
ở phần kiến thức văn học cũng như phần nghị luận văn học, ngoaì việc giảng giải,
cung cấp kiến thức văn học cho học sinh và những việc làm khác cần thiết trong
công tác bồi dưỡng học sinh giỏi văn lớp 12, tôi đặc biệt rất quan tâm đến vấn đề
cảm thụ văn học của học sinh qua thể đối sánh các hình ảnh, hình tượng văn học,
các nhân vật, các chi tiết trong trác phẩm văn học .vv.. để học sinh suy nghĩ và từ
đó có sự liên tưởng đến vấn đề có liên quan là các hình ảnh, hình tượng, chi tiết
khác. Đây là bước đầu tiên giúp học sinh động não, để từ đó có những bước suy
nghĩ tiếp theo.
Ví dụ: Đứng trước vẻ đẹp trong hình tượng của một câu thơ trong bài Cảnh
tình ngày hè của Nguyễn Trãi của một đề làm văn có liên quan:
5
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương.
Ngoài việc nghe học sinh cảm nhận vẻ đẹp trong hình tượng của câu thơ và
tâm hồn Ức Trai, giáo viên có thể gợi cho học sinh liên tưởng đến một hình tượng
Ôi những cánh đồng quê chảy máu
Dây thép gai đâm nát trời chiều
Những đêm dài hành quân nung nấu
Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu.
Nếu học sinh chưa phát hiện đầy đủ giáo viên có thể tiếp tục gợi ý trong quá
trình giảng dạy, có thể gợi ý mỗi lúc càng gần hơn, đến khi học sinh phát hiện ra
6
đối tượng cần liên tưởng so sánh phù hợp. Đó là tố chất cần có của một học sinh
giỏi môn văn trong quá trình học văn và làm văn.
Nói cách khác nếu một học sinh giỏi văn lại không có khả năng liên tưởng so
sánh trong làm văn thì đó là một hạn chế vì thiếu khả năng cảm nhận một cách sâu
sắc, tinh tế, ý nhị và thấm thía trong vẻ đẹp của tác phẩm văn học. Như thế bài văn
sẽ không đạt đến tầm sâu rộng, không hấp dẫn và thuyết phục người đọc. Tìm
được hình tượng để so sánh theo tôi đó là thành công bước đầu của học sinh dù
bước đầu có thể có sự gợi ý và giúp đỡ của giáo viên giảng dạy. Sự so sánh và liên
tưởng này khá phong phú trong các tác phẩm văn chương trong nhà trường và cả
tác phẩm văn chương ngoài chương trình sách giáo khoa. Như thế giáo viên sẽ gợi
ý cho học sinh có được cái nhìn đối sánh qua nhiều nhân vật, vấn đề trong chương
trình đã học. Ví dụ khi bồi dưỡng học sinh giỏi 12 có nội dung đề gắn với hình
tượng nhân vật Huấn Cao - người nghệ sĩ, giáo viên yêu cầu học sinh liên hệ so
sánh với một mẫu người nghệ sĩ khác cũng đã được học trong chương trình trung
học phổ thông để thấy được vẻ đẹp nói chung của người nghệ sĩ, nhiều học sinh
giỏi sẽ nhận ra là cần so sánh Huấn Cao trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân
và nhân vật Vũ Như Tô trong vỡ kịch Vũ Như Tô (đoạn trích Vĩnh biệt cữu trùng
đài).Và nhiều nhân vật khác trong chương trình học, giáo viên có thể gợi ý, định
hướng để học sinh cảm nhận và phát hiện như các cặp nhân vật có thể liên kết so
sánh như Cụ Mết trong Rừng xà Nu của Nguyễn Trung Thành và nhân vật Chú
Năm trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi, nhân vật Tnú
Quần tôi có vài mãnh vá
Miệng cùng cười buốt giá chân không giày.
( Đồng chí- Chính Hữu)
Hay khi khám phá vẻ đẹp của hình tượng Sóng trong bài thơ Sóng của Xuân
Quỳnh. Trước hình tượng nghệ thuật mang tính độc đáo, thẩm mĩ là hình tượng
Sóng. Vì qua Sóng toát lên vẻ đẹp của "em"- người con gái trong tình yêu với tâm
hồn trong sáng, mãnh liệt, thủy chung, mạnh mẽ, quyết đoán. Sóng và em tuy hai
mà một, khi soi chiếu vào nhau, khi phân thân, tách bạch, lúc cộng hưởng
v.v...cuối cùng cũng làm ngời lên vẻ đẹp của tâm hồn "em". Cụ thể như những câu
thơ:
Dữ dội và dịu em
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể
Và các câu thơ sau cũng rất ấn tượng về vẻ đẹp của hình tượng Sóng:
Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được...
Từ hình ảnh Sóng trong các câu thơ trên của Xuân Quỳnh, giáo viên có thể
yêu cầu học sinh bằng kiến thức và hiểu biết về văn học của mình có thể liên hệ so
sánh với hình ảnh thơ nào cũng mang ý nghĩa ẩn dụ hình ảnh thiên nhiên với tâm
hồn, tình yêu của người con gái cũng ở trong thơ Xuân Quỳnh. Đã có những học
sinh có kiến thức và sự liên tưởng tốt đã nhận ra hình ảnh thơ có thể liên tưởng để
so sánh, đó là những câu thơ sau trong bài thơ Thuyền và Biển của xuân Quỳnh:
Những đêm trăng hiền từ
Biển như cô gái nhỏ
Thầm thì gửi tâm tư
Bên mạn thuyền sóng vỗ.
8
không. Đó là điều hết sức quan trọng và vô cùng cần thiết tạo nên sự thành công
của bài văn. Gíao viên có thể rèn luyện cho học sinh kĩ năng này trong quá trình
giảng dạy, bồi dưỡng.
Từ những hình tượng, nhân vật,chi tiết, giọng điệu v.v... trong văn bản văn
học giáo viên có thể đặt câu hỏi cho học sinh trình bày những cảm nhận riêng của
mình về các vấn đề đã liên tưởng so sánh qua các vấn đề cụ thể. Sau đó giáo viên
có thể nhận xét, chốt lại vấn đề.
Ví dụ: Giáo viên có thể ra đề văn: Cảm nhận của anh (chị) về hình tượng con
sông Đà qua tùy bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân và hình tượng con
sông Hương qua bài kí Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường.
Học sinh sẽ triển khai ý của bài làm của mình theo yêu cầu của đề. Tất nhiên phần
cảm nhận về vẻ đẹp hình tượng của hai con sông là điều học sinh cần thể hiện
nhưng không được nhắc đến ở đây. Vấn đề chính cần nói đến là học sinh cần cảm
9
nhận về nét giống và khác nhau trong vẻ đẹp của hình tượng hai con sông. Có thể
học sinh sẽ suy nghĩ và trình bày về nét giống nhau trong vẻ đẹp hình tượng của
hai con sông như sau:
- Cả hai con sông đều hàm chứa những nét đẹp hung bạo, dữ dội và trữ tình
thơ mộng qua cách tả của từng tác giả.
- Cách thể hiện vẻ đẹp của hai con sông của hai tác giả cũng có những nét
giống nhau là cả Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường đều dùng thủ pháp so
sánh, nhân hóa sinh động, với trí liên tưởng, tưởng tượng phong phú và tri thức của
nhiều ngành để khám phá các khía cạnh vẻ đẹp và giá trị của con sông quê hương
đất nước. (học sinh sẽ trình bày tất cả các ý trên sẽ kèm với những dẫn chứng cụ
thể từ tác phẩm)
Tương tự như thế học sinh cũng lần lượt trình bày suy nghĩ, cảm nhận của
mình về nét khác nhau trong vẻ đẹp độc đáo của hai con sông trong cách nhìn và
mô tả riêng của từng tác giả:
thơ này mà giáo viên cần yêu cầu học sinh cảm nhận. Có những học sinh sẽ cảm
nhận như sau về những điểm khác nhau về hình ảnh người lính ở hai bài thơ:
- Người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng chịu đựng nhiều gian
khổ, đối mặt với nhiều thách thức, hi sinh, có nét trần trụi, dị hợm, mang dáng vẻ
khắc khổ bi hài qua các hình ảnh: Đoàn binh không mọc tóc, quân xanh màu lá,
mắt trừng, nhưng nét nổi bật độc đáo ở người lính này là chất nghệ sĩ, là vẻ đẹp
lãng mạn, hào hoa qua cách cảm nhận thiên nhiên và giấc mơ rất đỗi đa tình của
họ: Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm. Có lẽ đây là nét mới mẻ và thú vị nhưng
cũng rất nhân văn, rất đáng trân trọng. Nét mới mẻ, độc đáo và chân thật này có lẽ
xuất phát từ nơi xuất thân của người lính là mãnh đất Hà thành.
- Người lính trong bài thơ Đồng Chí của Chính Hữu mang vẻ đẹp mộc mạc,
chân chất, bình dị. Bỡi họ xuất thân từ nơi làng quê nước mặn đồng chua và làng
quê nghèo đất cày lên sỏi đá mà ra đi nên tâm hồn, giấc mơ của các anh cũng chân
chất như nơi người lính xuất thân.
Hay từ câu hỏi của giáo viên về sự cảm nhận các câu thơ trong bài Tây Tiến
về người lính: " Mắt trừng gửi mộng qua biên giới, đêm mơ Hà Nội dáng kiều
thơm" và câu thơ trong Đất Nước của Nguyễn Đình Thi cũng viết về người lính:
"Những đêm dài hành quân nung nấu, bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu". Học
sinh sẽ thấy được điểm gặp nhau lí thú trong vẻ đẹp tâm hồn lãng mạn, hào hoa
của hình ảnh hai người lính trong cách nhìn và cảm nhận mới mẻ mà cũng rất nhân
văn, rất đáng trân trọng về một nét đẹp trong hình ảnh người lính của các nhà thơ
kháng chiến.
Như vậy với cách đặt câu hỏi, gợi vấn đề, giáo viên sẽ tĩm thấy ở học sinh có
sự cảm nhận riêng về các vấn đề có thể cảm nhận qua thể so sánh trong văn bản
văn học. Những cảm nhận đó mặc dù không phải lúc nào cũng sâu sắc, thấu đáo,
đúng hoàn toàn với ý nghĩa bản chất của vấn đề nhưng theo tôi nó rất đáng quý. Vì
học sinh đã bước đầu phát huy được khả năng cảm nhận và cảm thụ văn học của
mình qua cái nhìn đối sánh trước những vấn đề văn học có sự tương đồng, hoặc
tương phản. Đó là cơ sở để tạo nên những bài văn, đoạn văn hay và có sức nặng.
Khác với những bài văn chỉ có sự cảm nhận văn học bình thường, luôn chỉ đặt
đọc nhưng Nguyễn Du đã dùng phép điệp phụ âm đầu "lửa lựu lập lòe" rất giàu sức
tạo hình, gợi nên màu đỏ rực như phát tán của hoa lựu trong lùm cây. Đặc biệt ấn
tượng và tạo hình nhất vẫn là tính từ lập lòe.
Như vậy trong cùng một nội dung và đề tài từ một câu thơ nhỏ Nguyễn Trãi
tài hoa ở động từ "phun", Nguyễn Du độc đáo và tuyệt vời ở một tính từ là từ láy
"lập lòe" rất đơn giản nhưng sức gợi hình, gợi cảm và sức lan tỏa rất lớn. Đó là
những câu thơ chỉ vài từ ít ỏi thiên về tả nhưng đã để lại nhiều dấu ấn khó phai
trong cách cảm nhận vẻ đẹp thiên nhiên và tài hoa của những nhà nghệ sĩ lớn của
dân tộc.
Đó là những trải nghiệm từ thực tế mà tôi đã nhận thấy từ cảm nhận của học
sinh trong sự liên tưởng và so sánh các hình tượng văn học có thể có sự tương
đồng và cả nét khác nhau trong quá trình tiếp nhận và cảm thụ nó.
Trên đây là một số ít ví dụ minh họa trong thực tiễn giảng dạy và bồi dưỡng
học sinh giỏi của tôi. Phương pháp đó cũng là cơ sở giúp học sinh có điều kiện thể
hiện thêm năng lực cảm thụ văn học của mình để góp phần vào thành công chung
của những bài làm văn của các em trong các kì thi, đặc biệt là thi học sinh giỏi.
3. Đưa ra ý kiến nhận xét của mình và đánh giá những so sánh văn học
mà học sinh đã cảm nhận, trình bày.
Kiến thức văn học rất phong phú và sâu rộng. Người giáo viên giảng dạy và
bồi dưỡng học sinh giỏi rất cố gắng vì học sinh, nhưng không phải lúc nào học sinh
cũng học tập tốt, cảm nhận được sâu sắc những hình tượng, nhân vật, từ ngữ, giọng
điệu, chi tiết trong văn học. Trong những trường hợp đó người giáo viên giảng dạy
và bồi dưỡng học sinh giỏi phải rèn luyện và giúp đỡ học sinh. Rất nhiều vấn đề
trong thể so sánh ở văn học, học sinh giỏi cũng chưa thể cảm nhận đúng, hoặc chỉ
12
cảm nhận một phần nào đó của vấn đề. Như vậy, giáo viên cần phải có nhận xét,
định hướng, gợi ý để học sinh thâm nhập và hiểu vấn đề sâu hơn.
Ví dụ trong một đề văn luyện tập là trình bày cảm nhận của anh (chị) về nhân
Cuối cùng Vũ Như Tô phải chết, cửu trùng đài bị đốt phá tan tành và người đời sẽ
lên án, phán xét Vũ Như Tô. Còn ở Huấn Cao ở cuối tác phẩm, nhân vật sẽ vào
kinh lãnh án chém nhưng dòng chữ tài hoa mang thiên lương trong sáng của Huấn
Cao sẽ trở thành bất tử. Huấn Cao sẽ là biểu tượng của hình ảnh người nghệ sĩ mẫu
mực, toàn diện để mọi người kính phục và ngưỡng mộ.
Một ví dụ khác từ một đề văn thi học sinh giỏi lớp 12 của tỉnh Đồng Nai
trong năm 2009 như sau: Sự gặp gỡ tuyệt đẹp giữa khí phách và tâm hồn Việt Nam
qua tác phẩm Tây Tiến của Quang Dũng và Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn
Đình Chiểu.
13
Tôi nghĩ đây cũng là một đề văn hay và khá khó trong một đề thi học sinh
giỏi. Đề văn yêu cầu thí sinh đầu tiên phải có kiến thức khá vững chắc về hai tác
phẩm trên mới có thể viết thành công được. Tuy nhiên điều mà tôi muốn nói đến ở
đây là người viết cần phải có cái nhìn đối sánh ở hai tác phẩm Tây Tiến của Quang
Dũng và Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu mà cụ thể là sự gặp
gỡ của vẻ đẹp độc đáo trong hình tượng người lính Tây Tiến và hình tượng người
nghĩa sĩ nông dân trong tác phẩm văn tế của Nguyễn Đình Chiểu.
Tôi đã dùng đề văn này để luyện tập bồi dưỡng cho học sinh ở những khóa
sau đó. Trong quá trình dạy tôi đã từng đặt câu hỏi để học sinh tìm hiểu điểm gặp
gỡ (nét giống nhau trong hai hình tượng người lính Tây Tiến và người nghĩa sĩ
nông dân là ở những điểm nào). Học sinh đã có những bước đầu cảm nhận và phát
hiện về khí phách và tâm hồn Việt Nam qua các hình tượng nhân vật trên. Nhìn
chung học sinh có cố gắng nhưng cái nhìn chưa thật đầy đủ, toàn diện và thấu đáo
vì vấn đề không phải đơn giản nên giáo viên cần phải phân tích, lí giải vấn đề để
học sinh có cái nhìn liên kết vấn đề một cách đầy đủ hơn. Giáo viên có thể gợi ý
cho học sinh tìm hiểu về hai nhân vật người lính Tây Tiến và hình ảnh người nghĩa
sĩ nông dân có thể thấy ở những nét tương đồng sau:
- Họ đều là những con người tình nguyện ra đi chiến đấu vì tinh thần yêu
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy
Hồn về sầm nứa chẳng về xuôi .
Họ coi cái chết nhẹ tợ lông hồng qua hình ảnh thơ:
- Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời.
- Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.
- Áo bào thay chiếu anh về đất.
(Tây Tiến)
- Tinh thần chiến đấu bền bỉ, trước sau như một họ đều hướng về lí tưởng cao
đẹp mà mình đã chọn dù có thể họ phải hi sinh. Người lính Tây Tiến trong tinh
thần: "ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy, hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi". Còn ở hình
tượng người nghĩa sĩ nông dân trong bài văn tế của Nguyễn Đình Chiểu:
" Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp
nguyện được trả thù kia; sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành,
một chữ ấm đủ đền công đó"
Đó có thể là một số ý trong điểm gặp gỡ tuyệt đẹp trong khí phách và tâm
hồn Việt Nam trong hai tác phẩm văn học đã nói ở trên trong cái nhìn đối sánh hai
hình tượng nhân vật ở hai tác phẩm văn học không cùng thời đại. Điều quan trọng
là giáo viên cần có hướng đi và khơi gợi để học sinh khám phá, nắm bắt vấn đề để
thâm nhập sâu, hiểu và cảm thụ văn học một cách sâu sắc và đúng đắn để từ đó chủ
động trong làm văn, tạo nên sự sắc xảo trong bài viết, góp phần vào thàng công của
bài làm văn.
Trên đây là vài ví dụ để minh họa cho phương pháp mà người viết đã thực
hiện trong quá trình giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi tại cơ sở trong thời gian
qua. Các vấn đề có thể liên tưởng, đối sánh trong văn học thì rất nhiều mà không
thể nói hết ở đây. Có thể so sánh một giọng điệu, một hình ảnh trong cùng bài thơ,
hoặc so sánh nó trong bài thơ này với bài thơ khác, so sánh chi tiết trong các tác
phẩm văn học, nhân vật văn học, cái tôi trữ tình trong bài thơ này với bài thơ khác.
áp dụng đã có tác dụng thúc đẫy học sinh say mê, chú ý trong học tập, khả năng
cảm nhận và cảm thụ văn học của học sinh được nâng cao trong cái nhìn tổng hợp
và đối sánh. Điều đặc biệt là chất lượng trong bài làm văn nghị luận văn học của
học sinh được nâng cao lên, góp phần tạo nên kết quả rất khả quan qua những kì
thi học sinh giỏi.
IV. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài trên đã được tôi nghiên cứu và áp dụng tại đơn vị từ năm 2012 trên
thực tế giảng dạy và đặc biệt là công việc bồi dưỡng học sinh giỏi tại trường. Thực
tế cho thấy đã mang lại được những kết quả rất khả quan. Học sinh có sự yêu thích,
hứng thú hơn trong học tập vì được tiếp xúc với những vấn đề trong môn học ở cái
nhìn và sự cảm nhận sâu rộng, có sự so sánh đối chiếu. Học sinh giỏi đã chủ đông
và tự tin hơn trong việc tiếp cận và giải quyết tốt hơn trong các đề văn về nghị luận
văn học qua các kì thi học sinh giỏi hàng năm. Giờ dạy của giáo viên trong những
buổi bồi dưỡng học sinh giỏi trở nên rất thoải mái và có sự hấp dẫn đối với học
sinh khi đã sử dụng giải pháp này. Không khí bồi dưỡng học sinh giỏi của giáo
viên cũng trở nên sôi động và hứng khỡi hẳn lên. Điều quan trọng nhất là học sinh
biết liên kết so sánh các vấn đề văn học với nhau trong bài văn bằng năng lực cảm
thụ văn học của bản thân mình. Từ đó chất lượng bài làm của học sinh từng bước
được nâng lên qua các kì thi học sinh giỏi hàng năm. Học sinh có thêm nhiều tự tin
trong việc đăng kí vào đội tuyển học sinh giỏi, tham gia bồi dưỡng và thể hiện
16
năng lực của mình qua các kì thi. Đó cũng là niềm vui và phấn khởi của tôi và các
đội tuyển học sinh giỏi trong những năm qua.
Khi chưa áp dụng giải pháp của đề tài thì kết quả bồi dưỡng học sinh giỏi
trong những năm trước đó chưa được cao. Hàng năm đội tuyển học sinh giỏi văn
khối 12 của trường cũng tham gia thi học sinh giỏi nhưng kết quả đạt được rất
khiêm tốn. Có năm chỉ đạt 01 hoặc 02 giải khuyến khích nhưng từ năm học 20122013 khi áp dụng giải pháp của đề tài này thì kết quả được cải tiến. Thống kê cụ
thể qua một số năm học gần đây khi tôi được phân công bồi dưỡng học sinh giỏi
Mục tiêu như đã trình bày ở trên là giáo viên áp dụng một phương pháp của mình
bên cạnh những phương pháp khác để phát triển khả năng cảm thụ văn học cho học
sinh bằng cái nhìn đối sánh. Chính cái nhìn và cách cảm thụ này có thể sẽ tạo nên
nét sắc sảo cho bài làm văn về nghị luận văn học. Thiết nghĩ, đề tài này rất dễ áp
dụng, chỉ yêu cầu giáo viên có sự đầu tư tìm tòi trong chuyên môn nhưng không
cần dùng nhiều đến dụng cụ hay đồ dùng dạy học mà vẫn dễ dàng thực hiện được.
VI. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Phân tích tác phẩm văn học 10,11,12 (Nguyễn Đăng Mạnh chủ biên - nhà
xuất bản giáo dục 1999
- Thiết kế bài học tác phẩm văn chương ở nhà trường phổ thông tập I,II (Phan
Trọng Luận, nhà xuất bản giáo dục 2001)
17
- Một số vấn đề đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy ngữ văn ở
trường THPT( Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên giáo viên THPT chu kì 3)
- 18 chuyên đề văn THPT (Nguyễn Thị Hòa, nhà xuất bản giáo dục 1999)
Người thực hiện
Phạm Quang Đức
18