skkn một số KINH NGHIỆM đọc HIỂU văn bản văn học TRUNG đại VIỆT NAM TRONG CHƯƠNG TRÌNH lớp 10 - Pdf 37

MỘT SỐ KINH NGHIỆM ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC
TRUNG ĐẠI VIỆT NAM TRONG CHƯƠNG TRÌNH LỚP 10
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Văn học viết Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX còn gọi là văn học
trung đại - tồn tại và phát triển trong xã hội phong kiến. Hai thành phần chủ yếu
của văn học trung đại là văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm. Hai thành phần
văn học này đều đạt được những thành tựu đặc sắc về nội dung và nghệ thuật.
Trong trường phổ thông, văn học trung đại Việt Nam được giảng dạy từ bậc trung
học cơ sở (THCS) đến trung học phổ thông (THPT). Nó đã góp phần hình thành
những phẩm chất tốt đẹp cho thế hệ trẻ, giáo dục cho học sinh lòng yêu nước, yêu
quê hương thiết tha, lòng nhân ái, nhạy cảm trước cái đẹp, đồng cảm với những
con người bất hạnh, biết vượt qua khó khăn, thử thách để vươn tới lý tưởng cao
đẹp.
Văn học trung đại là một trong những thành tựu rực rỡ của nền văn học Việt
Nam. Văn học trung đại Việt Nam không chỉ đa dạng về đề tài, thể loại, phong phú
về số lượng tác phẩm mà còn đạt đến trình độ nghệ thuật tinh tế, điêu luyện. Văn
học trung đại Việt Nam thể hiện hai nội dung lớn là yêu nước và nhân đạo, phát
triển theo quy luật tiếp thu và dân tộc hóa những tinh hoa của văn học nước ngoài,
chủ yếu là văn học Trung Quốc, tiếp thu những thành tựu của văn học dân gian.
Văn học trung đại Việt Nam đã xuất hiện các tài năng lớn như: Phạm Ngũ Lão,
Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia
Thiều,… Các tác phẩm văn học trung đại Việt Nam có một giá trị nhân bản rất cao,
chứa đựng những tư tưởng, tình cảm lớn, những nỗi niềm mà các tác giả muốn gửi
gắm. Đó là những tiếng lòng của các tác giả nên có sức truyền cảm mạnh mẽ, lắng
sâu trong lòng người, tồn tại mãi với thời gian, còn tỏa sáng đến muôn đời sau.
Hiện nay có nhiều đề tài nghiên cứu, nhiều bài viết bàn về việc nâng cao chất
lượng đọc - hiểu văn bản văn học trung đại Việt Nam, nhưng chưa trình bày được
các giải pháp cụ thể, thiếu những dữ liệu minh chứng trong thực tế giảng dạy bộ
môn Ngữ văn, chưa khảo sát đầy đủ chất lượng đọc - hiểu văn bản văn học trung
đại của học sinh THPT trong vài năm gần đây. Văn học trung đại Việt Nam được
giảng dạy trong chương trình lớp 10 và lớp 11, đặc biệt là đối với học sinh lớp 10,

chủ động kiến tạo kiến thức văn học trong giờ học dưới sự tác động của giáo viên,
chứ không phải giáo viên nhồi nhét kiến thức cho học sinh.
Tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị lần thứ 8
Ban chấp hành Trung ương khóa XI của Đảng: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương
pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo
và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một
chiều, ghi nhớ máy móc… Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm
tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan”,
chúng ta thấy việc nâng cao chất lượng đọc - hiểu văn bản văn học, trong đó có
đọc - hiểu văn bản văn học trung đại Việt Nam trong chương trình lớp 10, nhằm
phát huy tính chủ động, tích cực của học sinh trong quá trình dạy và học là mục
đích của giáo dục trong nhà trường phổ thông hiện nay.
2. Cơ sở thực tiễn:
Qua thực tế giảng dạy, người viết nhận thấy năng lực đọc - hiểu văn bản văn
học trung đại Việt Nam trong chương trình lớp 10 không đồng đều. Có nhiều học
sinh có hứng thú học tập, chuẩn bị bài kỹ ở nhà, sưu tầm các tư liệu học tập, tìm
tranh ảnh phục vụ cho bài học… Nhưng cũng có học sinh chưa hứng thú học tập,
ngại tìm hiểu ý nghĩa các từ Hán Việt, từ Việt cổ, các điển cố, điển tích, chuẩn bị
bài mới còn mang tính chất đối phó, thụ động… nên khi làm bài còn tình trạng
dừng từ sai, hiểu sai ý nghĩa của điển cố. Ví dụ: Có học sinh viết: Bình Ngô đại
cáo của Nguyễn Trãi là một tác phẩm bất hữu của nền văn học dân tộc (từ sai: bất
hữu, sửa lại là bất hủ).
- Nhiều học sinh còn học thuộc các ý, các đoạn văn trong sách tham khảo,
ngại suy nghĩ, dành nhiều thời gian cho các môn học tự nhiên, chưa thực sự yêu
thích môn Ngữ văn.
2


- Một số giáo viên chưa phát huy tốt vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo của
học sinh. Vẫn còn tình trạng đọc chép, truyền thụ một chiều.

+ Từ thế kỷ XV đến hết thế kỷ XVII.
+ Từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX.
+ Nửa cuối thế kỷ XIX.
- Những đặc điểm lớn về nội dung:
+ Chủ nghĩa yêu nước.
3


+ Chủ nghĩa nhân đạo.
+ Cảm hứng thế sự.
- Những đặc điểm lớn về nghệ thuật:
+ Tính quy phạm và sự phá vỡ tính quy phạm.
+ Khuynh hướng trang nhã và xu hướng bình dị.
+ Tiếp thu và dân tộc hóa tinh hoa văn học nước ngoài.
Học xong phần Tìm hiểu bài, giáo viên nêu câu hỏi luyện tập tại lớp và hướng
dẫn tự học ở nhà.
Trong quá trình đọc - hiểu tác phẩm văn học trung đại, phải luôn gắn với việc
tìm hiểu giai đoạn văn học mà tác phẩm ra đời, hòan cảnh lịch sử, xã hội, những
tác giả, tác phẩm ra đời trong cùng giai đoạn hoặc các tác phẩm có cùng đề tài, chủ
đề, thể loại, khuynh hướng sáng tác,… Hoặc so sánh với các tác phẩm ở giai đoạn
trước (hoặc giai đoạn sau) để thấy được sự phát triển, kế thừa, tiếp biến về nội
dung tư tưởng và nghệ thuật.
b. Các dữ liệu minh chứng:
Trước khi học bài Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX,
giáo viên nêu câu hỏi cho học sinh chuẩn bị bài ở nhà. Các câu hỏi hướng vào
trọng tâm bài học, giúp học sinh phát triển năng lực, tư duy:
1. Các thành phần của văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX?
2. Các giai đoạn phát triển của văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ
XIX?
3. Những đặc điểm lớn về nội dung của văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết


Tự sự

Chữ Hán
- Sông núi nước Nam (Nam quốc
sơn hà) - tương truyền của Lý
Thường Kiệt.
- Phò giá về kinh (Tụng giá hoàn
kinh sư) - Trần Quang Khải.
- Tỏ lòng (Thuật hoài) - Phạm
Ngũ Lão.
- Phú sông Bạch Đằng (Bạch
Đằng giang phú) - Trương Hán
Siêu.
- Bài ca Côn Sơn (Côn Sơn ca) Nguyễn Trãi.
- Đọc Tiểu Thanh ký (Độc Tiểu
Thanh ký) - Nguyễn Du.
- Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu) Lý Công Uẩn.
- Hịch tướng sĩ - Trần Quốc
Tuấn.
- Đại cáo bình Ngô (Bình Ngô
đại cáo) - Nguyễn Trãi.
-Tựu “Trích diễm thi tập” (Trích
diễm thi tập tự) - Hoàng Đức
Lương.
- Truyền kỳ mạn lục - Nguyễn
Dữ
- Vũ trung tùy bút - Phạm Đình
Hổ.
- Thượng kinh ký sự - Lê Hữu

- Thu nguyệt (trăng thu).
- Thu hoa (hoa thu).
- Thu điểu (chim mùa thu).
- Thu sương (sương thu).
- Ngư ông (người câu cá, ông chài).
- Túy ông (người uống rượu).

Phá vỡ tính quy phạm
- Trời thu xanh ngắt điểm cần trúc lơ
phơ.
- Ao thu lạnh lẽo nước trong veo.
- Làn ao lóng lánh bóng trăng loe.
- Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái.
- Ngỗng trời bay đi tránh rét.
- Làn khói phất phơ lưng giậu, sương
như tầng khói phủ.
- Thu nhỏ hình hài, mang tâm sự thời
thế.
- Say nhưng tỉnh: “Rượu tiếng rằng hay,
hay chẳng mấy”.

Khi giảng dạy bài Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão, giáo viên nêu câu hỏi để học
sinh liên hệ đến hoàn cảnh lịch sử, giai đoạn văn học mà tác phẩm ra đời, nội dung
của văn học giai đoạn văn học mà tác phẩm ra đời so sánh với các tác phẩm khác
cùng giai đoạn văn học, cùng thể loại, cùng chủ đề nội dung… Ví dụ một số câu
hỏi và gợi ý trả lời khi tìm hiểu bài thơ Tỏ lòng (gợi ý trả lời sau khi học sinh trình
bày tại lớp, giáo viên định hướng, chốt ý).
Câu hỏi

Gợi ý trả lời

mang hào khí Đông A.
b. Phân tích, so sánh, đánh giá kết quả giải pháp:
Để đọc - hiểu tác phẩm văn học trung đại có hiệu quả, học sinh phải nắm
vững kiến thức về lịch sử văn học thời trung đại. Văn học trung đại có vị trí rất
quan trọng trong nền văn học Việt Nam, vì từ đây đã hình thành ngôn ngữ văn học,
các thể loại văn học và có được những thành tựu to lớn, làm nền tảng phát triển của
văn học dân tộc sau này. Văn học trung đại gắn bó với vận mệnh đất nước và số
phận con người; tiếp thu nguồn mạch văn học dân gian, tiếp thu và dân tộc hóa văn
học nước ngoài, tạo nên những giá trị văn học đậm đà bản sắc Việt Nam. Các tác
phẩm văn học trung đại được học trong chương trình lớp 10 đều gắn với những nội
dung trên.
Việc nắm vững kiến thức khái quát về lịch sử văn học trung đại giúp cho học
sinh tìm ra phương pháp học tập có hiệu quả, cách đọc - hiểu tác phẩm văn học
trung đại khác với cách đọc - hiểu tác phẩm văn học hiện đại. Tác phẩm văn học
trung đại có tính quy phạm sâu sắc, lối diễn đạt thường mang tính ước lệ, tượng
trưng, lời ít ý nhiều, do đó không thể đọc - hiểu tác phẩm văn học trung đại một
cách dễ dãi, qua loa mà phải suy nghĩ, nghiền ngẫm để hiểu thấu đáo tác phẩm.
Giáo viên cũng nên cung cấp cho học sinh biết vắn tắt vài nét về chế độ phong kiến
nước ta, đặc biệt là cấu trúc ý thức xã hội, hệ tư tưởng phong kiến để lĩnh hội tác
phẩm văn học trung đại được tốt.
2. Giải pháp 2: Hướng dẫn học sinh nắm được những tri thức văn hóa,
tri thức về thể loại của văn bản văn học trung đại:
a. Cách thức tổ chức thực hiện:
- Phạm vi đối tượng: Toàn thể học sinh trong lớp.
- Thời gian thực hiện: Thực hiện từ giữa học kỳ I đến hết năm học.
Đọc - hiểu văn bản văn học trung đại Việt Nam là đi sâu tìm hiểu văn bản với
cấu trúc, hình tượng, ngôn ngữ của văn bản. Nhưng nếu giáo viên cung cấp cho
học sinh những tri thức về văn hóa, về thể loại thì việc đọc - hiểu văn bản sẽ đạt
hiệu quả cao hơn. Thơ trữ tình lấy tâm trạng, cảm xúc làm đối tượng, khác với văn
xuôi tự sự lấy sự kiện, hành động làm đối tượng. Khi đọc - hiểu văn bản thơ trữ

Nguyễn Trãi, giáo viên hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu ý nghĩa của các từ cổ rồi,
tiễn, dắng dỏi, dẽ có, điển cố Ngu cầm, các từ Hán Việt làng ngư phủ, lầu tịch
dương, … Khi đọc - hiểu bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm, giáo viên hướng
dẫn học sinh tìm hiểu điển tích trong hai câu thơ cuối: Rượu đến cội cây, ta sẽ
uống - Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao. Trong văn học trung đại Việt Nam thường
dùng các từ giấc hòe, giấc Hòe An, giấc Nam kha để chỉ giấc mộng của Thuần Vu
Phần dưới gốc cây hòe. Truyện đời Đường kể về Thuần Du Phần là một viên tướng
tài, tính tình phóng khoáng, do xúc phạm thống soái bị quở mắng nên từ chức về
nhà lấy uống rượu làm vui. Một hôm, Thuần Vu Phần say rượu ngủ bên gốc cây
hòe, mơ thấy mình được làm phò mã cho vua Nam Kha, được hưởng giáu sang phú
quý, tỉnh dậy mới biết đó chỉ là một giấc mơ. Tác giả mượn điển tích này để thể
hiện sâu sắc triết lý nhân sinh bằng thái độ xem thường phú quý, coi công danh
phú quý chỉ là giấc chiêm bao. Qua đó, tác giả khẳng định thêm sự lựa chọn
phương châm sống, cách ứng xử của riêng mình.
c. Phân tích, so sánh, đánh giá kết quả:
Chương trình môn Ngữ văn bậc THPT hiện nay được xây dựng và thực hiện
đổi mới phương pháp theo tinh thần tích hợp. Trong đó trọng tâm của yêu cầu dạy
học phần văn học là học sinh phải xác định những nội hàm cụ thể để học sinh thực
hiện một chuỗi thao tác chiếm lĩnh giá trị tác phẩm , hướng tới hiệu quả thực hành
vận dụng và nối kết kiến thức với phần Tiếng Việt, Làm văn. Phần tri thức về văn
hóa và tri thức về thể loại cần được vận dụng linh hoạt. tùy theo nội dung bài học,
8


thời gian được phân phối và đối tượng học sinh mà cung cấp kiến thức cần thiết.
Ví dụ: Các đoạn trích Chí khí anh hùng, Thề nguyền (trích Truyện Kiều của
Nguyễn Du) thuộc thể thơ lục bát, chỉ được dạy trong một tiết, giáo viên có thể
cung cấp những tri thức về văn hóa, về thể loại ngắn gọn, chọn lọc, tránh sa đà, dài
dòng, lan man.
3. Giải pháp 3: Hướng dẫn học sinh đọc - hiểu phần Tiểu dẫn, nắm vững

người ta đi đánh phải lìa nhà, ông cảm thời thế mà làm ra”.
c. Phân tích, so sánh, đánh giá:
- Nắm vững những tri thức trong phần Tiểu dẫn giúp học sinh có cơ sở hiểu
sâu hơn nội dung tác phẩm hay đoạn trích.
9


- Giúp học sinh sử dụng tốt sách giáo khoa, tham khảo thêm tư liệu về tác giả,
tác phẩm.
- Rèn luyện tinh thần tự giác, ý thức tích cực học tập của học sinh. Các em có
thể đọc trước, suy nghĩ về nội dung của phần Tiểu dẫn trước khi đến lớp.
- Phần Tiểu dẫn còn giúp cho học sinh định hướng nội dung bài học, cung cấp
những tri thức khách quan, khoa học về phong cách nghệ thuật, sự thành công
trong các thể loại của tác giả, đặc điểm hồn thơ, nghệ thuật viết văn xuôi, vị trí của
đoạn trích, …
4. Giải pháp 4: Đọc - hiểu chính xác ngữ nghĩa của văn bản:
a. Cách thức tổ chức thực hiện:
- Phạm vi đối tượng: Toàn thể học sinh trong lớp.
- Thời gian thực hiện: Thực hiện từ giữa học kỳ I đến hết năm học.
Đọc - hiểu tác phẩm văn học trung đại bằng chữ Hán, nếu đã được dịch ra chữ
quốc ngữ thì phải nắm vững các khái niệm, giải nghĩa từ trong phần chú thích. Vì
có nhiều từ Hán Việt được dùng trong văn bản văn học trung đại còn xa lạ với học
sinh. Để hiểu sâu hơn nghĩa của từ, giáo viên có thể tra cứu ở các cuốn Từ điển
Hán Việt, Tầm nguyên từ điển… giải thích ý nghĩa của các điển cố, điển tích.
Các bài thơ chữ Hán của văn học trung đại Việt Nam được dạy và học trong
chương trình phổ thông đều được phiên âm theo cách đọc Hán Việt, tiếp theo là
bản dịch và dịch thơ. Trong quá trình đọc - hiểu bài thơ, phải bám sát bản phiên âm
và bản dịch nghĩa, bản dịch thơ, phát hiện những chỗ bản dịch chưa sát với nội
dung hoặc bỏ sót từ trong phiên âm. Phải bám sát kết cấu và cảm xúc chủ đạo của
bài thơ. Nguyên tác bài thơ biểu hiện những tâm tư, tình cảm, ý chí, tài năng nghệ

hiện sau khi nhà Tần thống nhất được thiên hạ, mang tính tự tôn, nhà Hán thay thế
nhà Tần cũng tiếp tục xưng đế, phong cho những người cùng họ là vương, bắt đầu
thể chế đế cao hơn vương, “đế” chỉ có một, “vương” có thể có nhiều. Vì vậy, khi
Nguyễn Trãi dùng chữ đế có một ý nghĩa sâu sắc, thể hiện ý thức ngang hàng, bình
đẳng; cùng song song tồn tại của các triều đại phong kiến của nước ta với các triều
đại phong kiến phương Bắc.
Bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão, câu thơ thứ nhất trong nguyên tác
“Hoành sóc giang sơn kháp kỷ thu” (Cầm ngang ngọn giáo giữ gìn non sông đã
mấy thu), bản dịch thơ của Bùi Văn Nguyên là “Múa giáo non sông trải mấy thu”
làm mất đi vẻ đẹp hiên ngang, vững chãi, lẫm liệt của con người mang hào khí
Đông A. Trong câu thơ thứ hai “Tam quân tì hổ khí thôn ngưu” (Ba quân như hổ
báo, khí thế hùng dũng nuốt trôi trâu”, bản dịch thơ đã bỏ mất chữ tì hổ (hổ báo).
Nhiều học sinh có ý thức học tập tốt, tham khảo thêm nhiều tư liệu, đã đặt câu hỏi
cho giáo viên: Tại sao khí thôn ngưu bản dịch trong sách giáo khoa là “khí mạnh
nuốt trôi trâu” mà không phải là “khí thế át sao ngưu”? Chúng ta phải giải thích
cho học sinh khí thôn ngưu có hai cách dịch: Khí thế nuốt trôi trâu và khí thế át sao
Ngưu. Theo các nhà nghiên cứu, ở đây nên hiểu khí thôn ngưu là khí thế nuốt trôi
trâu. Đỗ Phủ có câu thơ: “Tiểu nhi ngũ tuế, khí thôn ngưu” (Đứa trẻ năm tuổi đã có
khí thế mạnh mẽ nuốt trôi trâu). Nhà thơ Việt Nam Nguyễn Trung Ngạn cũng có
câu thơ “Mậu linh dĩ hữu thôn ngưu chí” (Thuở thiếu niên đã có chí nuốt trôi trâu).
Giáo viên còn phải hướng dẫn học sinh sử dụng sách giáo khoa, tìm hiểu nghĩa của
từ Hán Việt trong bản dịch thơ, liên hệ với thực tiễn lịch sử. Giáo viên đặt câu hỏi
cho học sinh tìm hiểu nghĩa của từ Hán Việt, điển tích. Ví dụ: Ý nghĩa của “nợ
công danh” là gì? Vũ Hầu là nhân vật nào? Tại sao tác giả lại cảm thấy “thẹn” khi
nghe kể chuyện Vũ Hầu? Có thể giải thích cho học sinh một số khái niệm như:
giang sơn, khí, nam nhi… thường xuất hiện trong thơ trung đại.
Trong bài thơ Cảnh ngày hè (Bảo kính cảnh giới - Bài 43) của Nguyễn Trãi,
câu thơ thứ tư có bản phiên âm “Hồng liên trì đã tịn mùi hương”, “Hồng liên trì đã
tạn mùi hương”. Bản phiên âm trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 là “Hồng liên trì
đã tiễn mùi hương”. Tịn mùi hương là đã hết mùi hương, tạn mùi hương là mùi

- Thời gian thực hiện: Thực hiện từ giữa học kỳ I đến hết năm học.
Hình tượng trong văn bản văn học được xây dựng, biểu đạt, sáng tạo bằng
nghệ thuật ngôn từ, qua chi tiết, cốt truyện, hình ảnh, tâm trạng…tùy thể loại mà
có sự khác nhau về chất liệu ngôn tử. Khi đọc – hiểu một số tác phẩm văn học
trung đại, người giáo viên cần hướng dẫn học sinh cảm nhận hình tượng nghệ thuật
từ các hình ảnh, chi tiết, hiểu và cảm nhận một cách tổng thể về hình tượng.
Đọc – hiểu ý nghĩa hình tượng trong một tác phẩm văn học, còn là phải biết
phát hiện được các mặt đối lập trong bản thân hình tượng, lôgic ẩn chứa bên trong
nó mà tác giả muốn gửi gắm.
Nhà văn sáng tác tác phẩm bao giờ cũng thể hiện tư tưởng, bộc lộ tình cảm về
cuộc đồi, về con người. Học sinh phải đọc – hiểu tư tưởng, tình cảm của tác giả vì
đó là linh hồn của tác phẩm, thể hiện qua ngôn ngữ, qua hình tượng nghệ thuật.
b. Các dữ liệu minh chứng:
12


Ví dụ: hình tượng người anh hùng Từ Hải trong đoạn trích Chí khí anh hùng
(trích Truyện Kiều – Nguyễn Du), phẩm chất anh hung của Từ Hải được bộ lộ qua
cách dùng từ ngữ: trượng phu, lòng bốn phương, thoắt, thẳng rong, dứt áo ra đi,
hình tượng chim bằng….. Các từ ngữ, câu thơ trong văn bản cho chúng ta thấy Từ
Hải là người không quên lý tưởng, hành động dứt khoát, quyết đoán, không do dự.
Từ Hải tỏ rõ phẩm chất phi thường của một người anh hùng muốn làm nên sự
nghiệp lớn. Từ Hải cũng là người trân trọng tài năng, nhân cách và sắc đẹp của
Thúy Kiều.
Tìm hiểu ý nghĩa hình tượng còn là tìm hiểu tài năng sử dụng ngôn ngữ, hình
ảnh, sự thống nhất giữa những mặt đối lập trong hình tượng. Các nhà thơ thời
trung đại thường tạo ra cách tiếp cận thế giới từ các quan hệ đối lập. Ví dụ hai câu
thơ mở đầu bài Cáo bệnh, bảo mọi người (Cáo tật thị chúng) của thiền sư Mãn
Giác.
Xuân khứ bách hoa lạc,

nói đến việc làm cho người đọc “có khả năng xây dựng hình tượng”. “có khả năng
tưởng tượng bổ sung vào những bức tranh, những hình tượng, những bóng dáng,
những tích cực mà nhà văn đưa ra, bằng cách rút từ cái vốn kinh nghiệm của bản
thân, từ cái kho dự trữ ấn tượng và kiến thức của người đọc”.
6. Giải pháp 6: Đọc - hiểu văn bản văn học trung đại Việt Nam phải thấy
được sự kế thừa, phát triển thành tựu của văn học dân gian, tiếp thu và dân
tộc hóa tinh hoa văn hóa, văn học nước ngoài, văn học giai đoạn sau tiếp thu
những thành tựu nội dung tư tưởng, nghệ thuật của văn học giai đoạn văn học
trước:
a. Cách thức tổ chức thực hiện:
- Phạm vi đối tượng: Toàn thể học sinh trong lớp.
- Thời gian thực hiện: Thực hiện từ giữa học kỳ I đến hết năm học.
Văn học trung đại Việt Nam luôn kế thừa, phát triển thành tựu của văn học
dân gian. Đó là sự kết tinh tư tưởng, tình cảm, trí tuệ, tài hoa của nhân dân. Các tác
phẩm văn học lớn thường tiếp thu được nhiều nhất những tinh hoa văn học của
nhân dân, sáng tác dựa trên quan điểm về chuẩn mực đạo đức, tư tưởng của nhân
dân, vận dụng sáng tạo nghệ thuật của ca dao, tục ngữ,….
Văn học trung đại Việt Nam phát triển theo quy luật vừa tiếp thu, vừa dân tộc
hóa tinh hoa văn học nước ngoài, chủ yếu là văn học Trung Quốc.
- Tiếp thu tinh hoa văn học Trung Quốc.
+ Về ngôn ngữ: Dùng chữ Hán để sáng tác.
+ Về thể loại: Tiếp thu phú cổ thể, thơ Đường luật, thể cáo, truyền kỳ, sử ký,

+ Về thi liệu: sử dụng điển cố, thi liệu Hán văn.
- Quá trình dân tộc hóa hình thức văn học:
+ Sáng tạo ra chữ Nôm, dùng chữ Nôm để sáng tác văn học.
+ Việt hóa thể thơ Đường luật thành thơ Nôm Đường luật, thất ngôn xen lục
ngôn.
+ Sáng tạo ra các thể thơ dân tộc: lục bát, song thất lục bát, các thể ngâm
khúc, truyện thơ, hát nói.

định khát vọng tình yêu, hạnh phúc.
- Thể thơ lục bát
- Thể thơ lục bát.
- Các thành ngữ: tình máu mủ,lời nước
Ngày xuân em hãy còn dài,
non thề non hẹn biển, tan xương nát
Xót tình máu mủ thay lời nước non.
thịt, ngậm cười chin suối….
Chị dù thịt nát xương mòn
- Các thành ngữ: bạc như vôi, hoa trôi
Ngậm cười chin suối hãy còn thơm lây
bèo dạt, nước chảy hoa trôi….
Phận sao phận bạc như vôi
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
- Nghệ thuật tiểu đối trong ca dao – dân - Khi ngày quạt ước/ Khi đêm chén thề.
ca.
- Duyên này thì giữ/ Vật này của chung.
- Đốt lò hương ấy/ So tơ phìm này.
* Tiếp thu và dân tộc hóa tinh hoa văn học nước ngoài:
Ví dụ: Đọc – hiểu bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi, học sinh cần cảm nhận
được bức tranh thiên nhiên ngày hè và vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi, nhận thức
được nghệ thuật thể thơ Nôm độc đáo của Nguyễn Trãi. Cảm thấy được sự tiếp thu
và dân tộc hóa thơ Đường luật của tác giả.
Thơ Đường luật Trung Quốc
Bài thơ Cảnh ngày hè
- Viết bằng chữ Hán.
- Viết bằng chữ Nôm.
- Thể thơ thất ngôn luật.
- Thể thơ thất ngôn xen lục ngôn.
- Thơ để nói chí: thi dĩ ngôn chí.

quyền.

- Bổ sung thêm các yếu tố: Văn hiến,
phong tục tập quán, lịch sử. Sâu sắc
hơn: ý thức được văn hiến, truyền thống
lịch sử là yếu tố cơ bản nhất, là hạt nhân
để xác định dân tộc.
- Khẳng định “Nam đế” nhằm mục đích - Các triều đại phong kiến nước ta tồn
đối lập với “Bắc đế”.
tại, phát triển song song với các triều đại
phong kiến Trung Quốc.
- Khẳng định chủ quyền, độc lập dân tộc - Khẳng định độc lập chủ quyền dân tộc
dựa vào “thiên thư” (sách trời)
dựa vào lịch sử.
=> Bước tiến của tư tưởng thời đại và
cũng là tầm cao của tư tưởng Nguyễn
Trãi.
c. Phân tích, so sánh, đánh giá kết quả:
- Văn học trung đại Việt Nam luôn gắn bó mật thiết với vận mệnh đất nước và
số phận nhân dân. Các tác phẩm văn học trung đại Việt Nam đã góp phần làm nên
diện mạo văn học dân tộc, tạo tiền đề cho văn học hiện đại phát triển.
- Thấy được sự tiếp thu nguồn mạch văn học dân gian, tiếp thu và dân tộc hóa
tinh hoa văn học nước ngoài của văn học trung đại Việt Nam để càng trân trọng,
yêu quý các tác phẩm quý báu của cha ông để lại, có ý thức học tập say mê, sáng
tạo, góp phần bảo tồn và phát triển nên văn học dân tộc.
7. Giải pháp 7: Tổ chức thảo luận, thuyết trình, lĩnh hội tác phẩm văn
học trung đại Việt Nam.
a. Cách thức tổ chức thực hiện:
- Phạm vi đối tượng: Toàn thể học sinh trong lớp.
- Thời gian thực hiện: Thực hiện từ giữa học kỳ I đến hết năm học.

2. Khi gợi kể lại các chiến tích của quân ta trên sông Bạch Đằng, vì sao các vị
bô lão lại nhắc đến chiến thắng của hai vua Trần (năm 1288) trước rồi mới nhắc
đến chiến thắng Ngô Quyền (năm 1938)?
3. Từ các câu Trận đánh được thua chửa phân - Chiến thắng Bắc Nam chống
đối, anh (chị) hình dung như thế nào về trận đánh giữa quân ta với quân giặc?
4. Nhận xét về thái độ, giọng điệu của các bô lão khi kể về chiến công của
Trùng Hưng nhị thánh trên sông Bạch Đằng?
Học sinh chia thành 4 nhóm thảo luận, lên bảng thuyết trình. Các câu hỏi và
câu trả lời đều hướng vào trọng tâm của đoạn văn, phát huy được năng lực chủ
động, sáng tạo của học sinh trong lớp.
Phát biểu thảo luận còn là hướng vào làm sáng tỏ cái “thần” của ngôn từ, hình
tượng, tìm từng hàm nghĩa của hình anh, ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản. Ví
dụ: Khi đọc - hiểu hai câu luận của bài thơ Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm), Thu ăn
17


măng trúc, đông ăn giá - Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao, giáo viên nêu câu hỏi hướng
dẫn học sinh tìm hiểu vẻ đẹp của ngôn từ, vẻ đẹp của tâm hồn, tư tưởng của tác
giả:
1. Phân tích vẻ đẹp của bức tranh tứ bình được thể hiện ở hai câu thơ?
2. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã triết lý như thế nào về Nhàn trong hai câu thơ?
3. Phân tích điểm tương đồng trong quan niệm sống của các nhân vật trữ tình
được thể hiện trong hai câu thơ trên của Nguyễn Bình Khiêm và hai câu thơ sau
của Nguyễn Trãi:
Cơm ăn chẳng quản dưa muối
Áo mặc nài chi gấm thêu.
4. Trình bày ngắn gọn suy nghĩ của anh (chị) về mối liên hệ giữa con người
với thiên nhiên trong cuộc sống hiện nay?
Câu hỏi tranh luận giúp cho học sinh đọc - hiểu văn bản sâu sắc hơn, vận
dụng kiến thức vào thực tiễn, phát huy được tư duy độc lập, sáng tạo của học sinh.

- Phạm vi đối tượng: Giáo viên - học sinh.
- Thời gian thực hiện: Thực hiện từ giữa học kỳ I đến hết năm học.
Hoạt động tích hợp giúp học sinh hiểu được tính hệ thống của văn bản, liên hệ
kiến thức đã học ở phần này hoặc sẽ học ở phần kia. Mặt khác, trong quá trình đọc
- hiểu văn bản văn học trung đại, giáo viên cần so sánh, liên hệ với các tác phẩm có
cùng đề tài, chủ đề, cảm hứng nghệ thuật để mở rộng, nâng cao kiến thức cho học
sinh. Từ đó, rèn luyện cho học sinh cách tư duy lôgic, chính xác, khoa học, giúp
học sinh tái hiện kiến thức cũ, tiếp cận với kiến thức mới.
Việc tích hợp, so sánh có thể tìm hiểu trong cùng một văn bản hoặc liên hệ
với văn bản khác, có thể với cùng một tác giả, hoặc các tác giả cùng thời kỳ văn
học, so sánh xưa với nay… Và điều quan trọng là phải vận dụng những kiến thức
đã học vào việc giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn cuộc sống. Còn phải
tích hợp với các môn học có liên quan đến bài học như: Giáo dục công dân, Lịch
sử, Địa lý… theo yêu cầu đổi mới nội dung, phương pháp dạy học và kiểm tra
đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh.
b. Các dữ liệu minh chứng:
Ví dụ: Khi đọc - hiểu bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão, giáo viên so sánh
với các bài thơ Tỏ lòng (Ngôn hoài) của Không Lộ thiền sư, Nỗi lòng (Cảm hoài)
của Đặng Dung. Khi đọc - hiểu hai câu đề trong bài thơ Độc Tiểu Thanh ký của
Nguyễn Du, giáo viên cho học sinh tích hợp với tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn
Du mà học sinh đã được học ở THCS. Giáo viên gợi ý cho học sinh tích hợp kiến
thức: Nguyễn Du đến với Tiểu Thanh có phần giống với Thúy Kiều đến với Đạm
Tiên. Nấm mồ Đạm Tiên “Sè sè nấm đất bên đường” gợi lên ở Thúy Kiều bao nỗi
thương tâm, cái gò hoang sơ chôn Tiểu Thanh gợi lên ở Nguyễn Du bao điều thổn
thức. “Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang”. Khi tìm hiểu nỗi “thẹn” trong bài thơ Tỏ
lòng của Phạm Ngũ Lão, giáo viên so sánh, liên hệ với nỗi thẹn của Nguyễn
Khuyến trong bài thơ Thu vịnh (Vịnh mùa thu) “Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào”.
Xưa nay, những người có nhân cách vẫn thường mang trong mình nỗi thẹn. Phạm
Ngũ Lão “thẹn” chưa có tài mưu lược lớn như Gia Cát Lượng thời Hán để trừ giặc
cứu nước. Nguyễn Khuyến bày tỏ nỗi thẹn khi nghĩ đến Đào Tiềm, một danh sĩ cao

trí cùng lực kiệt

mưu phạt tâm công

chuốc tội gây oan

điều binh thủ hiểm

(bị) chặt mũi tiên phong

sai tướng chặn đường

(bị) tuyệt nguồn lương thực

ngày mười tám, trận Chi Lăng

Liễu Thăng thất thế

ngày hai mươi, trận Mã Yên

Liễu Thăng cụt đầu

ngày hăm lăm

Lương Minh bại trận tử vong

ngày hăm tám

Lý Khánh cùng kế tự vẫn


- Tình yêu gắn với tình yêu quê hương, đất nước,…
c. Phân tích, so sánh, đánh giá kết quả:
- Việc so sánh, liên hệ, tích hợp kiến thức giúp học sinh hiểu bài sâu sắc hơn,
nhớ lại kiến thức đã học ở THCS và đã học ở THPT.
- Vận dụng kiến thức vào thực tiễn, giúp cho bài học sinh động, mở ra nhiều
tầng lớp nghĩa. Làm cho bài học không phải là lý thuyết suông, mà gợi cho học
sinh cùng tìm hiểu, khám phá.
- Mỗi bài học trong chương trình văn học trung đại Việt Nam được học ở lớp
10 đều gắn với một giai đoạn lịch sử, một tác giả đầy tài năng và tâm huyết. Các
tác phẩm ngắn gọn, súc tích, có giá trị tư tưởng và giá trị nghệ thuật cao, thể hiện
tinh thần “quý hồ tinh bất quý hồ đa” của văn học trung đại. Đọc - hiểu tác phẩm
văn học trung đại, học sinh càng thêm tự hào về lịch sử vẻ vang của dân tộc, yêu
quý những địa danh đã từng ghi dấu chiến thắng của ông cha: Chương Dương,
Hàm Tử, Chi Lăng, Đông Đô, Bình Than, Lạng Sơn, … Giáo dục cho học sinh
lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc bằng tiết đọc - hiểu văn bản sinh động, bổ sung
nội dung cho những bài giảng chính trị khô khan.
- Trong quá trình trình bày quan điểm của bản thân bằng hình thức nói hoặc
viết, để nội dung trình bày thêm sinh động, học sinh có thể đan xen các yếu tố biểu
cảm, tự sự.
9. Giải pháp 9: Phát huy năng lực học tập của học sinh qua việc sử dụng
tốt trang thiết bị, đồ dùng dạy học, dạy học và ôn tập theo chủ đề:
a. Cách thức tổ chức và thực hiện:
- Phạm vi đối tượng: Giáo viên - học sinh.
- Thời gian thực hiện: Từ giữa học kỳ I đến hết năm học.
Các trang thiết bị, đồ dùng dạy học bộ môn Ngữ văn được trang bị tương đối
tốt: tivi, tranh ảnh, băng đĩa,… Tranh ảnh thì chủ yếu là chân dung, quần thể di
tích, tượng đài, các băng đĩa thì đã cũ, tư liệu chưa phong phú, chưa phục vụ trực
tiếp nội dung bài học. Vì vậy, giáo viên và học sinh phải sưu tầm thêm tranh ảnh,
hình vẽ, nguyên tác chữ Hán, các bản dịch thơ, làm bảng phụ, sưu tầm các đoạn
ngâm thơ,… Học sinh rất hào hứng, hăng say chuẩn bị ở nhà. Đồ dùng dạy học của

hoa trí tuệ tuyệt diệu đằng sau những nhan sắc khuynh thành. Đặt trong hoàn cảnh
xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ, đặc biệt là quan niệm phủ định tài hoa trú
tuệ của người phụ nữ, mới thấy được sự cao cả và chiều sâu nhân đậo trong ngòi
bút Nguyễn Du.
c. Phân tích, so sánh, đánh giá kết quả:
- Sau khi thực hiện giải pháp này, kết quả hiểu văn bản của học sinh được
nâng cao. Có nhiều bài viết đạt điểm cao (điểm 9,0 đến 9,5).
- Học sinh chủ động tìm hiểu bài, nắm vũng kiến thức hơn, liên hệ với các tác
phẩm ngoài chương trình chuẩn khi làm bài. Thực hiện tốt các câu hỏi ôn tập, tích
hợp kiến thức sau khi học xong các chủ đề. Ví dụ:

22


+ Bi kịch của người phụ nữ trong xã hội cũ qua một số tác phẩm văn học
trung đại đã học: Đọc Tiểu Thanh ký (Nguyễn Du), Chinh phụ ngâm (Đặng Trần
Côn - Đoàn Thị Điểm), Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều)?
+ Bài học về nhân cách mà anh (chị) rút ra từ các câu chuyện về Hưng Đạo
Vương Trần Quốc Tuấn và thái sư Trần Thủ Độ?
- Ngoài việc phát triển năng lực chung, học sinh còn được phát triển năng lực,
năng khiếu riêng: đọc diễn cảm, ngâm thơ, vẽ tranh, kể chuyện, sáng tác thơ văn.
10. Giải pháp 10: Củng cố kiến thức, hướng dẫn tự học qua sơ đồ, bảng
biểu, thống kê:
a. Cách thức tổ chức thực hiện:
- Phạm vị đối tượng: Giáo viên - học sinh.
- Thời gian: Từ giữa học kỳ I đến hết năm học.
Việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu, thống kê giúp học sinh ghi nhớ kiến thức một
cách logic, lý giải mối quan hệ nội tại của vấn đề, vận dụng các kỹ năng phân tích,
đối chiếu, tổng hợp kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn.
Sau khi tiến hành đọc - hiểu văn bản, giáo viên hướng dẫn học sinh tổng kết

Bút pháp ước lệ
- Những từ ngữ ẩn - Bướm - ong; lá - Miêu tả cuộc sống
dụ
gió - cành - chim; xô bồ ở lầu xanh,
gió tựa - hoa kề; - thân phận ô nhục
- Các điển tích
- Tống Ngọc - của Thúy Kiều
Trường
Khanh; nhưng tránh tả một
mưa Sở - mây Tần. cảnh tả một cách
- Các từ ngữ
- dập dìu, cuộc trần trụi, vẫn xót
say, trận cười, sớm xa, yêu thương
đưa - tối tìm,…
Thúy Kiều  Chủ
24


Nghệ thuật đối
xứng

- Tiểu đối trong - Bướm lả / ong
cấu trúc bốn chữ.
lơi, lá gió / cành
chim, dày gió /
dạn sương, bướm
chán
/
ong
chường, mưa Sở /

bướm lả / ong lơi
nhấn mạnh cảnh
ngộ của Kiều hơn
là viết bướm ong
lơi lả).
- Gia tăng tính chất
hoàn cảnh của
cuộc sống ê chề
nơi lầu xanh: đau
khổ, chán chường
kéo dài ngày và
đêm, sớm và tối,
lúc tỉnh và say.
- Tạo điều kiện
nhìn nỗi thương
thân, xót phận của
nhân vật từ những
góc độ khác nhau.

c. Phân tích, so sánh, đánh giá kết quả:
- Phương pháp này đối với một số bộ môn khác đã ứng dụng từ lâu như minh
họa bằng hình vẽ, biểu đồ, bản đồ, những mô hình thiết kế khác,…
- Đối với bộ môn Ngữ văn, do đặc trưng của bộ môn nên ít có minh họa bằng
sơ đồ, hình vẽ minh họa, bảng biểu,… Thường là do giáo viên tự tìm tòi, thực hiện,
phần nhiều thường sử dụng khi thao giảng, hội giảng.
- Nếu kỹ năng vận dụng không khéo léo, sẽ làm mất thời gian của người dạy
và người học. Vì vậy, không nhất thiết bài đọc - hiểu văn bản nào cũng sử dụng
phương pháp này.
- Vận dụng phương pháp này một cách linh hoạt, có chọn lọc, thì sẽ làm cho
tiết đọc - hiểu văn học trung đại trở nên sinh động, ghi nhớ kiến thức nhanh. Học


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status