SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT LONG KHÁNH
Mã số : ………………….
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ KINH NGHIỆM ĐỌC - HIỂU
VĂN BẢN VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
TRONG CHƯƠNG TRÌNH LỚP 10
Người thực hiện: HUỲNH THỊ MỸ TRANG
Lĩnh vực nghiên cứu:
Có đính kèm:
Mô hình
Quản lý giáo dục
Phương pháp dạy học bộ môn: Đọc văn
Phương pháp giáo dục
Lĩnh vực khác
Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia
Thiều,… Các tác phẩm văn học trung đại Việt Nam có một giá trị nhân bản rất cao,
chứa đựng những tư tưởng, tình cảm lớn, những nỗi niềm mà các tác giả muốn gửi
gắm. Đó là những tiếng lòng của các tác giả nên có sức truyền cảm mạnh mẽ, lắng
sâu trong lòng người, tồn tại mãi với thời gian, còn tỏa sáng đến muôn đời sau.
Hiện nay có nhiều đề tài nghiên cứu, nhiều bài viết bàn về việc nâng cao chất
lượng đọc - hiểu văn bản văn học trung đại Việt Nam, nhưng chưa trình bày được
các giải pháp cụ thể, thiếu những dữ liệu minh chứng trong thực tế giảng dạy bộ
môn Ngữ văn, chưa khảo sát đầy đủ chất lượng đọc - hiểu văn bản văn học trung
đại của học sinh THPT trong vài năm gần đây. Văn học trung đại Việt Nam được
giảng dạy trong chương trình lớp 10 và lớp 11, đặc biệt là đối với học sinh lớp 10,
các em vừa vào học năm đầu bậc THPT, còn nhiều bỡ ngỡ về nội dung và phương
pháp giảng dạy mới.
Từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy và học, đổi mới phương pháp kiểm
tra, đánh giá, thực hiện yêu cầu của chuẩn kiến thức - kỹ năng và chương trình
giảm tải, phát triển phẩm chất năng lực học sinh, tôi biên soạn đề tài Một số kinh
nghiệm đọc - hiểu văn bản văn học trung đại Việt Nam trong chương trình lớp 10,
2
góp thêm một ý kiến nhằm nâng cao chất lượng đọc - hiểu văn bản văn học trung
đại Việt Nam trong chương trình lớp 10 trung học phổ thông.
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN:
1. Cơ sở lý luận:
Trong nhà trường phổ thông, mục tiêu của môn Ngữ văn là hình thành và phát
triển ở học sinh năng lực tiếp nhận văn bản và năng lực tạo lập văn bản. Môn Ngữ
văn có một vị trí quan trọng: “Sở dĩ ở nhà trường phổ thông, môn Văn được đặt ở
vị trí hàng đầu, trước hết, đó là công cụ cho tất cả các môn, công cụ tư duy, công
cụ diễn đạt, công cụ học tập” (Lê Trí Viễn). Người giáo viên dạy môn Ngữ văn ở
trường THPT có nhiệm vụ truyền đạt những tri thức từ bộ môn Ngữ văn đến học
dừng từ sai, hiểu sai ý nghĩa của điển cố. Ví dụ: Có học sinh viết: Bình Ngô đại
3
cáo của Nguyễn Trãi là một tác phẩm bất hữu của nền văn học dân tộc (từ sai: bất
hữu, sửa lại là bất hủ).
- Nhiều học sinh còn học thuộc các ý, các đoạn văn trong sách tham khảo,
ngại suy nghĩ, dành nhiều thời gian cho các môn học tự nhiên, chưa thực sự yêu
thích môn Ngữ văn.
- Một số giáo viên chưa phát huy tốt vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo của
học sinh. Vẫn còn tình trạng đọc chép, truyền thụ một chiều.
- Một số giáo viên dạy bám sát phân phối chương trình nhưng chưa chú ý so
sánh, liên hệ, mở rộng nâng cao kiến thức với những tác phẩm cùng đề tài, cùng
chủ đề đã học ở THCS hoặc ngoài chương trình sách giáo khoa.
- Việc dạy học theo các chủ đề của văn học trung đại Việt Nam được vận
dụng vào việc kiểm tra, đánh giá trong các bài viết tại lớp và kiểm tra tập trung
nhưng chưa chuyên sâu.
- Rèn luyện kỹ năng đọc - hiểu văn bản văn học trung đại Việt Nam cho học
sinh lớp 10 góp phần nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi, nâng cao chất
lượng bộ môn. Ngoài ra, còn tạo điều kiện cho học sinh lĩnh hội văn bản văn học
trung đại Việt Nam được tiếp tục giảng dạy và học tập trong chương trình lớp 11.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP:
1. Giải pháp 1: Hướng dẫn học sinh nắm vững kiến thức về lịch sử văn
học:
a. Cách thức tổ chức thực hiện:
- Phạm vi đối tượng: Toàn thể học sinh trong lớp.
- Thời gian thực hiện: Thực hiện từ giữa học kỳ I đến hết năm học.
Trong chương trình lớp 10, sau khi ôn tập văn học dân gian Việt Nam cho học
sinh, có bài Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX (được gọi
là văn học trung đại) dạy và học trong 2 tiết. Giáo viên hướng dẫn cho học sinh
đề, thể loại, khuynh hướng sáng tác,… Hoặc so sánh với các tác phẩm ở giai đoạn
trước (hoặc giai đoạn sau) để thấy được sự phát triển, kế thừa, tiếp biến về nội
dung tư tưởng và nghệ thuật.
b. Các dữ liệu minh chứng:
Trước khi học bài Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX,
giáo viên nêu câu hỏi cho học sinh chuẩn bị bài ở nhà. Các câu hỏi hướng vào
trọng tâm bài học, giúp học sinh phát triển năng lực, tư duy:
1. Các thành phần của văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX?
2. Các giai đoạn phát triển của văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ
XIX?
3. Những đặc điểm lớn về nội dung của văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết
thế kỷ XIX?
4. Những đặc điểm lớn về nghệ thuật của văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến
hết thế kỷ XIX?
Học sinh trả lời, trình bày tại lớp, giáo viên định hướng, chốt ý. Ở phần Luyện
tập, giáo viên hướng dẫn học sinh lập bảng khái quát theo mẫu sau:
Giai đoạn văn học
Nội dung
Nghệ thuật
Sự kiện văn học, tác
giả, tác phẩm
5
Sau khi Luyện tập, đến phần Hướng dẫn tự học¸giáo viên hướng dẫn học sinh
tự học, củng cố lại bài học, nâng cao kiến thức bằng hệ thống câu hỏi. Ví dụ:
Tuấn.
- Đại cáo bình Ngô (Bình Ngô
đại cáo) - Nguyễn Trãi.
-Tựu “Trích diễm thi tập” (Trích
diễm thi tập tự) - Hoàng Đức
Lương.
- Truyền kỳ mạn lục - Nguyễn
Dữ
- Vũ trung tùy bút - Phạm Đình
Hổ.
- Thượng kinh ký sự - Lê Hữu
Trác.
- Hoàng Lê nhất thống chí - Ngô
gia văn phái.
Chữ Nôm
- Cảnh ngày hè (Bảo kính cảnh
giới - Bài 43) - Nguyễn Trãi.
- Nhàn - Nguyễn Bỉnh Khiêm.
- Bánh trôi nước - Hồ Xuân
Hương.
- Qua đèo Ngang - Bà Huyện
Thanh Quan.
- Bản dịch Chinh phụ ngâm của
Đoàn Thị Điểm (?)
- Bạn đến chơi nhà - Nguyễn
Khuyến.
- Truyện Kiều - Nguyễn Du
- Truyện Lục Vân Tiên - Nguyễn
hay chẳng mấy”.
Khi giảng dạy bài Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão, giáo viên nêu câu hỏi để học
sinh liên hệ đến hoàn cảnh lịch sử, giai đoạn văn học mà tác phẩm ra đời, nội dung
của văn học giai đoạn văn học mà tác phẩm ra đời so sánh với các tác phẩm khác
cùng giai đoạn văn học, cùng thể loại, cùng chủ đề nội dung… Ví dụ một số câu
hỏi và gợi ý trả lời khi tìm hiểu bài thơ Tỏ lòng (gợi ý trả lời sau khi học sinh trình
bày tại lớp, giáo viên định hướng, chốt ý).
Câu hỏi
Gợi ý trả lời
- Hoàn cảnh ra đời bài thơ Tỏ lòng - Bài thơ ra đời trong không khí quyết
(Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão?
chiến quyết thắng của quân dân đời
Trần khi giặc Mông - Nguyên xâm lược
nước ta.
- Tác phẩm ra đời trong giai đoạn văn - Tác phẩm ra đời vào thế kỷ XIII, trong
học nào?
giai đoạn văn học từ thế kỷ X đến hết
thế kỷ XIV.
- Nội dung của văn học giai đoạn từ thế - Văn học giai đoạn này mang nội dung
kỷ X đến hết thế kỷ XIV?
yêu nước với âm hưởng hào hùng.
- Tìm một số tác phẩm tiêu biểu trong - Một số tác phẩm tiêu biểu:
giai đoạn văn học từ thế kỷ X đến hết + Vận nước (Quốc tộ) - Pháp Thuận.
thế kỷ XIV mang nội dung yêu nước với + Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu) - Lý
âm hưởng hào hùng?
Công Uẩn.
+ Sông núi nước Nam (Nam quốc sơn
phẩm văn học trung đại được tốt.
2. Giải pháp 2: Hướng dẫn học sinh nắm được những tri thức văn hóa,
tri thức về thể loại của văn bản văn học trung đại:
a. Cách thức tổ chức thực hiện:
- Phạm vi đối tượng: Toàn thể học sinh trong lớp.
- Thời gian thực hiện: Thực hiện từ giữa học kỳ I đến hết năm học.
Đọc - hiểu văn bản văn học trung đại Việt Nam là đi sâu tìm hiểu văn bản với
cấu trúc, hình tượng, ngôn ngữ của văn bản. Nhưng nếu giáo viên cung cấp cho
học sinh những tri thức về văn hóa, về thể loại thì việc đọc - hiểu văn bản sẽ đạt
hiệu quả cao hơn. Thơ trữ tình lấy tâm trạng, cảm xúc làm đối tượng, khác với văn
xuôi tự sự lấy sự kiện, hành động làm đối tượng. Khi đọc - hiểu văn bản thơ trữ
tình phải chú ý đến thế giới nội tâm nhân vật. Khi đọc - hiểu thể loại sử ký, truyền
kỳ phải chú ý đến cách xây dựng nhân vật qua lời nói và củ chỉ, hành động, cách
kể chuyện, lựa chọn các chi tiết,…
Các văn bản văn học trung đại Việt Nam ra đời cách đây khá lâu nên thường
có nhiều từ Hán Việt, từ cổ, điển cố, điển tích. Điều này góp phần vào việc nâng
8
cao khả năng biểu hiện và tính chất hàm súc của ngôn ngữ văn học, hình tượng văn
học. Điển cố, điển tích thường không xa lạ với những trí thức thời xưa thì lại khó
hiểu đối với người đọc và học sinh ngày nay. Cho nên khi đọc - hiểu văn bản văn
học trung đại Việt Nam, cần giúp cho học sinh hiểu rõ các từ cổ, các điển cố, điển
tích, được giới thiệu trong phần chú thích hoặc giáo viên giảng giải thêm khi đọc hiểu văn bản văn học trung đại. Cần lĩnh hội ý tứ sâu xa của điển cố, điển tích và
chú ý sắc thái biểu đạt cổ kính của từ ngữ.
b. Các dữ liệu minh chứng:
Khi đọc - hiểu bài thơ Độc Tiểu Thanh ký, giáo viên cung cấp cho học sinh tri
thức văn hóa: Tiểu Thanh là một người phụ nữ tài sắc có số phận bi thảm, thuộc đề
tài người phụ nữ tài hoa, bạc mệnh trong thơ Nguyễn Du. Nhưng đề tài này lại nằm
trong một phạm vi quan tâm rộng hơn, đó là vấn đề thân phận của những người tài
9
vận dụng và nối kết kiến thức với phần Tiếng Việt, Làm văn. Phần tri thức về văn
hóa và tri thức về thể loại cần được vận dụng linh hoạt. tùy theo nội dung bài học,
thời gian được phân phối và đối tượng học sinh mà cung cấp kiến thức cần thiết.
Ví dụ: Các đoạn trích Chí khí anh hùng, Thề nguyền (trích Truyện Kiều của
Nguyễn Du) thuộc thể thơ lục bát, chỉ được dạy trong một tiết, giáo viên có thể
cung cấp những tri thức về văn hóa, về thể loại ngắn gọn, chọn lọc, tránh sa đà, dài
dòng, lan man.
3. Giải pháp 3: Hướng dẫn học sinh đọc - hiểu phần Tiểu dẫn, nắm vững
kiến thức về tác giả, tác phẩm:
- Phạm vi đối tượng: Toàn thể học sinh trong lớp.
- Thời gian thực hiện: Thực hiện từ giữa học kỳ I đến hết năm học.
Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc - hiểu phần Tiểu dẫn, học sinh phải đọc rõ
ràng, chính xác những thông tin về cuộc đời tác giả, những tác phẩm tiêu biểu,
hoàn cảnh ra đời của tác phẩm. Giáo viên và những học sinh khác chú ý lắng nghe,
đối chiếu với sách giáo khoa. Nhận xét cách đọc, phát hiện, sửa chữa những chỗ
đọc sai dẫn đến những thông tin thiếu chính xác. Sau đó, giáo viên yêu cầu học
sinh tóm tắt những nội dung chính của phần Tiểu dẫn về tác giả, tác phẩm.
Giáo viên có thể cung cấp cho học sinh những tư liệu về tác giả tác phẩm:
tranh chân dung, tranh phong cảnh, những lời nhận định về tác giả, lời bình hay về
tác phẩm,… Mục đích giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn về các tác giả, những đóng
góp về tư tưởng, nghệ thuật, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, vị trí của đoạn trích,…
b. Các dữ liệu minh chứng:
Ví dụ: Khi đọc - hiểu bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão, giáo
viên giới thiệu cho học sinh tư liệu về tác giả. Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết về
Phạm Ngũ Lão: “Ngũ Lão thích đọc sách, người phóng khoáng, có chí làm việc
lớn, thích ngâm thơ, về việc võ hình như ít bận tâm. Nhưng đội quân của ông đều
một lòng thân yêu như cha con, đánh đâu được đấy”. Về hoàn cảnh ra đời của bài
Đọc - hiểu tác phẩm văn học trung đại bằng chữ Hán, nếu đã được dịch ra chữ
quốc ngữ thì phải nắm vững các khái niệm, giải nghĩa từ trong phần chú thích. Vì
có nhiều từ Hán Việt được dùng trong văn bản văn học trung đại còn xa lạ với học
sinh. Để hiểu sâu hơn nghĩa của từ, giáo viên có thể tra cứu ở các cuốn Từ điển
Hán Việt, Tầm nguyên từ điển… giải thích ý nghĩa của các điển cố, điển tích.
Các bài thơ chữ Hán của văn học trung đại Việt Nam được dạy và học trong
chương trình phổ thông đều được phiên âm theo cách đọc Hán Việt, tiếp theo là
bản dịch và dịch thơ. Trong quá trình đọc - hiểu bài thơ, phải bám sát bản phiên âm
và bản dịch nghĩa, bản dịch thơ, phát hiện những chỗ bản dịch chưa sát với nội
dung hoặc bỏ sót từ trong phiên âm. Phải bám sát kết cấu và cảm xúc chủ đạo của
bài thơ. Nguyên tác bài thơ biểu hiện những tâm tư, tình cảm, ý chí, tài năng nghệ
thuật của bài thơ. Đọc - hiểu một bài thơ chữ Hán, giáo viên và học sinh phải xuất
phát từ nguyên tác. Có nhiều bản dịch thơ dùng từ hay, hình ảnh đẹp, nhịp điệu
uyển chuyển nhưng chưa thể hiện đầy đủ tư tưởng, tình cảm, nghệ thuật điêu luyện
của tác giả. Khi bám sát nguyên tác, chúng ta tránh được sự suy diễn tùy tiện, thiếu
căn cứ.
Các bài thơ, đoạn thơ chữ Nôm được học trong chương trình lớp 10 đã được
phiên âm ra chữ quốc ngữ. Việc phiên âm thường có dị bản, một chữ Nôm có khi
đọc thành hai, ba cách khiến cho cách hiểu khác nhau. Giáo viên và học sinh cần
chú ý điều này để cân nhắc, lựa chọn khi đọc - hiểu văn bản thơ chữ Nôm. Nên
chọn cách phiên âm trong sách giáo khoa. Các sách báo nếu phiên âm các từ ngữ
trong văn bản khác với sách giáo khoa thì chọn cách phiên âm trong sách giáo
khoa, cách phiên âm trong sách báo khác chỉ để tham khảo nhằm làm phong phú
thêm vốn từ ngữ.
b. Các dữ liệu minh chứng:
11
Ví dụ: Khi dọc - hiểu tác phẩm Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi (đã dịch ra
chữ quốc ngữ), ngoài các chú thích, điển cố, điển tích đã được chú giải ngắn gọn
câu thơ “Mậu linh dĩ hữu thôn ngưu chí” (Thuở thiếu niên đã có chí nuốt trôi trâu).
Giáo viên còn phải hướng dẫn học sinh sử dụng sách giáo khoa, tìm hiểu nghĩa của
từ Hán Việt trong bản dịch thơ, liên hệ với thực tiễn lịch sử. Giáo viên đặt câu hỏi
cho học sinh tìm hiểu nghĩa của từ Hán Việt, điển tích. Ví dụ: Ý nghĩa của “nợ
công danh” là gì? Vũ Hầu là nhân vật nào? Tại sao tác giả lại cảm thấy “thẹn” khi
nghe kể chuyện Vũ Hầu? Có thể giải thích cho học sinh một số khái niệm như:
giang sơn, khí, nam nhi… thường xuất hiện trong thơ trung đại.
Trong bài thơ Cảnh ngày hè (Bảo kính cảnh giới - Bài 43) của Nguyễn Trãi,
câu thơ thứ tư có bản phiên âm “Hồng liên trì đã tịn mùi hương”, “Hồng liên trì đã
tạn mùi hương”. Bản phiên âm trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 là “Hồng liên trì
12
đã tiễn mùi hương”. Tịn mùi hương là đã hết mùi hương, tạn mùi hương là mùi
hương thoang thoảng. Bản phiên âm trong sách giáo khoa là tiễn mùi hương (ngát
mùi hương) là hợp lý, vì thiên nhiên đang giữa mùa hè, rất sống động, màu sắc
đậm đà. Trong đoạn trích Trao duyên (trích Truyện Kiều - Nguyễn Du) có câu thơ
được phiên âm là “Bây giờ trâm gãy bình tan” và “Bây giờ trâm gãy gương tan”.
Chúng ta nên chọn cách phiên âm thứ hai, vì trâm và gương là những vật nam nữ
xưa thường tặng cho nhau để làm kỷ niệm của tình yêu. Trâm gãy gương tan là
hình ảnh nói về sự tan vỡ của tình yêu.
c. Phân tích, so sánh, đánh giá kết quả:
- Khi bám sát nguyên tác, chúng ta sẽ tránh được sự suy diễn tùy tiện, thiếu
căn cứ. So sánh, đối chiếu nguyên tác với bản dịch thơ giúp chúng ta hiểu sâu sắc
giá trị tư tưởng, giá trị nghệ thuật của tác phẩm, giúp học sinh phát triển tư duy độc
lập và sáng tạo.
- Dịch một tác phẩm văn học chữ Hán sang tiếng Việt vừa đảm bảo ý nghĩa, vừa
hay là một việc rất khó khăn. Vì người dịch phải có vốn từ ngữ phong phú, giỏi
chữ Hán, có khả năng cảm thụ tác phẩm, phát hiện ra cái hay, cái đẹp của tác
phẩm,… Trong quá trình dạy và học tác phẩm văn học chữ Hán, giáo viên phải
cách dùng từ ngữ: trượng phu, lòng bốn phương, thoắt, thẳng rong, dứt áo ra đi,
hình tượng chim bằng….. Các từ ngữ, câu thơ trong văn bản cho chúng ta thấy Từ
Hải là người không quên lý tưởng, hành động dứt khoát, quyết đoán, không do dự.
Từ Hải tỏ rõ phẩm chất phi thường của một người anh hùng muốn làm nên sự
nghiệp lớn. Từ Hải cũng là người trân trọng tài năng, nhân cách và sắc đẹp của
Thúy Kiều.
Tìm hiểu ý nghĩa hình tượng còn là tìm hiểu tài năng sử dụng ngôn ngữ, hình
ảnh, sự thống nhất giữa những mặt đối lập trong hình tượng. Các nhà thơ thời
trung đại thường tạo ra cách tiếp cận thế giới từ các quan hệ đối lập. Ví dụ hai câu
thơ mở đầu bài Cáo bệnh, bảo mọi người (Cáo tật thị chúng) của thiền sư Mãn
Giác.
Xuân khứ bách hoa lạc,
Xuân đáo bách hoa khai
(Xuân qua, trăm hoa rụng,
Xuân tới, trăm hoa nở)
Về nghệ thuật sử dụng và sắp xếp từ ngữ, mỗi từ ngữ đều chứa đựng khả năng
biểu hiện ý tứ sâu sắc. Bách hoa lạc (trăm hoa rụng), bách hoa khai (trăm hoa nở),
chỉ một từ hoa nhưng là biểu tượng cho vạn vật, biểu trưng cho mùa xuân đến,
mùa xuân đi. Nghệ thuật điệp, đối được phát huy cao độ để tạo nên tính hàm súc
cho hai câu thơ. Cách sắp xếp các hình ảnh đối nhau càng làm tăng sự đối lập giữa
sự mất đi và sinh ra của vạn vật, diễn tả quy luật tuần hoàn của tự nhiên.
Sau khi hiểu được vẻ đẹp của ngôn từ và hình ảnh nghệ thuật trong bài Hứng
trở về của Nguyễn Trung Ngạn: cây dâu già lá rụng, nong tằm vừa chin, lúa sớm
trổ bông thoang thoảng hương thơm, cua đang lúc béo….. giàu sức gợi cảm làm
nên những hương vị riêng của thôn quê, học sinh cảm nhận được lòng yêu nước và
niềm tự hào dân tộc sâu sắc của tác giả. Tình yêu ấy thể hiện bằng nỗi nhớ quê
hương và sự gắn bó tha thiết với cuộc sống bình dị ở quê nhà. Nỗi nhớ quê hương
da diết thôi thúc tác giả quay về dù đang sống sung sướng giữa chốn phồn hoa.
c. Phân tích, so sánh, đánh giá kết quả:
- Đọc – hiểu hình tượng văn học trong văn học trung đại đòi hỏi người đọc
hóa tinh hoa văn học nước ngoài, chủ yếu là văn học Trung Quốc.
- Tiếp thu tinh hoa văn học Trung Quốc.
+ Về ngôn ngữ: Dùng chữ Hán để sáng tác.
+ Về thể loại: Tiếp thu phú cổ thể, thơ Đường luật, thể cáo, truyền kỳ, sử
ký,…
+ Về thi liệu: sử dụng điển cố, thi liệu Hán văn.
- Quá trình dân tộc hóa hình thức văn học:
+ Sáng tạo ra chữ Nôm, dùng chữ Nôm để sáng tác văn học.
+ Việt hóa thể thơ Đường luật thành thơ Nôm Đường luật, thất ngôn xen lục
ngôn.
+ Sáng tạo ra các thể thơ dân tộc: lục bát, song thất lục bát, các thể ngâm
khúc, truyện thơ, hát nói.
+ Sử dụng lời ăn tiếng nói, cách diễn đạt của nhân dân trong sáng tác.
15
- Kế thừa, phát triển những đặc sắc về nội dung, nghệ thuật trong các tác
phẩm giai đoạn trước, làm nên sự phong phú, đa dạng của văn học trung đại Việt
Nam.
b. Các dữ liệu minh chứng:
* Văn học trung đại kế thừa, phát huy những thành tựu của văn học dân gian:
Ví dụ: Đọc – hiểu đoạn trích Trao duyên (trích Truyện Kiều – Nguyễn Du),
giáo viên và học sinh cùng tìm hiểu sự tiếp thu, phát triển những đặc sắc về nghệ
thuật trong văn học dân gian của tác giả.
Ca dao – Dân ca
Đoạn trích Trao duyên
- Đề tài tình yêu dang dở, đôi lứa chia
- Đoạn trích đi vào một đề tài truyền
lìa là một đề tài quen thuộc:
thống, nhưng được biểu hiện qua một
* Tiếp thu và dân tộc hóa tinh hoa văn học nước ngoài:
Ví dụ: Đọc – hiểu bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi, học sinh cần cảm nhận
được bức tranh thiên nhiên ngày hè và vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi, nhận thức
được nghệ thuật thể thơ Nôm độc đáo của Nguyễn Trãi. Cảm thấy được sự tiếp thu
và dân tộc hóa thơ Đường luật của tác giả.
Thơ Đường luật Trung Quốc
Bài thơ Cảnh ngày hè
- Viết bằng chữ Hán.
- Viết bằng chữ Nôm.
- Thể thơ thất ngôn luật.
- Thể thơ thất ngôn xen lục ngôn.
- Thơ để nói chí: thi dĩ ngôn chí.
- Bộc lộ nỗi lòng, chí hướng của tác giả.
- Hình ảnh ước lệ, tượng trưng: mùa hè - Hình ảnh thực trong cuộc sống xung
có hoa lan, hoa sen,…
quanh: tán hòe xanh thẫm che rợp, thạch
lựu bên hiên nhà còn phun màu đỏ, sen
16
- Từ tiếng Hán, điển cố, điển tích.
hồng trong ao ngát mùi hương, tiếng lao
xao vọng lại từ làng chài, tiếng ve như
tiếng đàn….
- Từ Hán Việt: làng ngư phủ, lầu tịch
dương, điển cố Ngu cầm, các từ láy
tiếng Việt độc đáo: đùn đũn, lao xao,
dắng dỏi, các động từ mạnh: giương,
phun..
Trãi.
c. Phân tích, so sánh, đánh giá kết quả:
- Văn học trung đại Việt Nam luôn gắn bó mật thiết với vận mệnh đất nước và
số phận nhân dân. Các tác phẩm văn học trung đại Việt Nam đã góp phần làm nên
diện mạo văn học dân tộc, tạo tiền đề cho văn học hiện đại phát triển.
- Thấy được sự tiếp thu nguồn mạch văn học dân gian, tiếp thu và dân tộc hóa
tinh hoa văn học nước ngoài của văn học trung đại Việt Nam để càng trân trọng,
yêu quý các tác phẩm quý báu của cha ông để lại, có ý thức học tập say mê, sáng
tạo, góp phần bảo tồn và phát triển nên văn học dân tộc.
7. Giải pháp 7: Tổ chức thảo luận, thuyết trình, lĩnh hội tác phẩm văn
học trung đại Việt Nam.
a. Cách thức tổ chức thực hiện:
17
- Phạm vi đối tượng: Toàn thể học sinh trong lớp.
- Thời gian thực hiện: Thực hiện từ giữa học kỳ I đến hết năm học.
Việc cho học sinh thảo luận để lĩnh hội văn bản văn học trung đại Việt Nam,
tôi đã tiến hành nhiều năm trong các tiết đọc văn. Tổ chức tốt hoạt động thảo luận
sẽ giúp học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức, vừa nâng cao kỹ năng Đọc - hiểu văn bản,
vừa nâng cao hiểu biết một số tác phẩm ngoài chương trình Ngữ văn 10. Hoạt động
thảo luận tạo cho học sinh có hứng thú trong học tập văn học trung đại.
Có nhiều hình thức nêu câu hỏi thảo luận theo tổ nhóm. Có thể thảo luận về
cuộc đời tác giả, về vẻ đẹp tư tưởng, nghệ thuật của tác phẩm…. Câu hỏi thảo luận
phải hướng vào trọng tâm của bài học, phát huy khả năng tư duy độc lập, sáng tạo
của học sinh, phải hướng đến làm sáng tỏ cái “thần” của câu chữ, của hình ảnh,
cảm nhận được chiều sâu tâm hồn, tư tưởng của tác giả.
Bên cạnh việc nêu câu hỏi thảo luận, giáo viên có thể nêu câu hỏi để học sinh
tranh luận, giúp cho việc đọc - hiểu tác phẩm được sâu sắc hơn. Có thể tích hợp
với kiến thức đã học, kiến thức các phân môn Tiếng Việt, Làm văn để nêu câu hỏi
măng trúc, đông ăn giá - Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao, giáo viên nêu câu hỏi hướng
dẫn học sinh tìm hiểu vẻ đẹp của ngôn từ, vẻ đẹp của tâm hồn, tư tưởng của tác
giả:
1. Phân tích vẻ đẹp của bức tranh tứ bình được thể hiện ở hai câu thơ?
2. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã triết lý như thế nào về Nhàn trong hai câu thơ?
3. Phân tích điểm tương đồng trong quan niệm sống của các nhân vật trữ tình
được thể hiện trong hai câu thơ trên của Nguyễn Bình Khiêm và hai câu thơ sau
của Nguyễn Trãi:
Cơm ăn chẳng quản dưa muối
Áo mặc nài chi gấm thêu.
4. Trình bày ngắn gọn suy nghĩ của anh (chị) về mối liên hệ giữa con người
với thiên nhiên trong cuộc sống hiện nay?
Câu hỏi tranh luận giúp cho học sinh đọc - hiểu văn bản sâu sắc hơn, vận
dụng kiến thức vào thực tiễn, phát huy được tư duy độc lập, sáng tạo của học sinh.
Ví dụ, sau khi học xong bài Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão, giáo viên nêu câu hỏi để
học sinh phát biểu, tranh luận: Học bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ
Lão, có học sinh cho rằng: Sự hổ thẹn của tác giả là quá đáng, kiêu kỳ. Ngược lại,
có học sinh ngợi ca và cho rằng đó là hoài bão lớn lao của người thanh niên yêu
nước. Anh (chị) hãy cho biết ý kiến của mình? Học sinh vận dụng kiến thức bài
học, kiến thức về thao tác lập luận phân tích, bác bỏ trong phân môn Làm văn để
bàn luận về những ý kiến trên.
Một số học sinh khi trình chiếu để bàn luận về những ý kiến trên, hoặc chép
trên bảng phụ, do vội vàng, thiếu cẩn thận nên còn viết sai dấu câu, sai chính tả,
dùng từ… cũng được giáo viên và học sinh trong lớp phát hiện, sửa chữa.
c. Phân tích, so sánh, đánh giá kết quả:
Trong quá trình tổ chức cho học sinh thảo luận, thuyết trình, tranh luận, tôi có
một số ghi nhận sau:
- Không phải tiết học nào cũng tiến hành thảo luận. Trong một tiết học không
nên tổ chức thảo luận nhiều lần.
- Không đưa ra những vấn đề quá dễ, quá đơn giản để thảo luận. Vấn đề thảo
Ví dụ: Khi đọc - hiểu bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão, giáo viên so sánh
với các bài thơ Tỏ lòng (Ngôn hoài) của Không Lộ thiền sư, Nỗi lòng (Cảm hoài)
của Đặng Dung. Khi đọc - hiểu hai câu đề trong bài thơ Độc Tiểu Thanh ký của
Nguyễn Du, giáo viên cho học sinh tích hợp với tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn
Du mà học sinh đã được học ở THCS. Giáo viên gợi ý cho học sinh tích hợp kiến
thức: Nguyễn Du đến với Tiểu Thanh có phần giống với Thúy Kiều đến với Đạm
Tiên. Nấm mồ Đạm Tiên “Sè sè nấm đất bên đường” gợi lên ở Thúy Kiều bao nỗi
thương tâm, cái gò hoang sơ chôn Tiểu Thanh gợi lên ở Nguyễn Du bao điều thổn
thức. “Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang”. Khi tìm hiểu nỗi “thẹn” trong bài thơ Tỏ
lòng của Phạm Ngũ Lão, giáo viên so sánh, liên hệ với nỗi thẹn của Nguyễn
Khuyến trong bài thơ Thu vịnh (Vịnh mùa thu) “Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào”.
Xưa nay, những người có nhân cách vẫn thường mang trong mình nỗi thẹn. Phạm
Ngũ Lão “thẹn” chưa có tài mưu lược lớn như Gia Cát Lượng thời Hán để trừ giặc
cứu nước. Nguyễn Khuyến bày tỏ nỗi thẹn khi nghĩ đến Đào Tiềm, một danh sĩ cao
khiết thời Tấn (Trung Quốc). Đó là nỗi thẹn có giá trị nhân cách.
Có thể thực hiện việc so sánh, tích hợp trong cùng một tác phẩm, cùng một
tác giả. So sánh để làm nổi bật nội dung, tư tưởng, chủ đề của văn bản, những nét
đặc sắc về nghệ thuật. Ví dụ, khi đọc - hiểu tác phẩm Bình Ngô đại cáo (Nguyễn
Trãi), có những từ ngữ, hình ảnh so sánh đặc sắc dùng để miêu tả khí thế chiến
thắng của ta và sự thất bại của giặc.
20
Khí thế chiến thắng của ta
Sự thất bại của giặc
sấm vang chớp giật
máu chảy thành sông
Liễu Thăng thất thế
ngày hai mươi, trận Mã Yên
Liễu Thăng cụt đầu
ngày hăm lăm
Lương Minh bại trận tử vong
ngày hăm tám
Lý Khánh cùng kế tự vẫn
thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá
bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau
Bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi thể hiện tình yêu thiên nhiên, yêu
đời, yêu cuộc sống nhưng trên hết vẫn là tấm lòng của ông tha thiết với dân với
nước. Nhìn cảnh sống của người dân lao động - những người dân chài lam lũ được yên vui, no đủ, Nguyễn Trãi mơ ước có được cây đàn của vua Thuấn để gảy
khúc Nam phong ca ngợi cảnh: Dân giàu đủ khắp đòi phương. Với Nguyễn Trãi,
vui hay buồn, lo âu hay thanh thản, tất cả đều xuất phát từ cuộc sống của nhân dân:
“Vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn - Dường ấy ta đà phỉ sở nguyền” (Tự thán
- Bài 43).
Trong quá trình giảng dạy tác phẩm văn học trung đại, tôi luôn chú ý cho
học sinh vận dụng kiến thức bài học vào thực tiễn cuộc sống hôm nay. Chẳng hạn,
khi giảng dạy bài Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão, tôi liên hệ đến chí làm trai trong bài
thơ Nỗi lòng của Đặng Dung và chí làm trai trong văn học trung đại. Sau đó, liên
nội dung cho những bài giảng chính trị khô khan.
- Trong quá trình trình bày quan điểm của bản thân bằng hình thức nói hoặc
viết, để nội dung trình bày thêm sinh động, học sinh có thể đan xen các yếu tố biểu
cảm, tự sự.
9. Giải pháp 9: Phát huy năng lực học tập của học sinh qua việc sử dụng
tốt trang thiết bị, đồ dùng dạy học, dạy học và ôn tập theo chủ đề:
a. Cách thức tổ chức và thực hiện:
- Phạm vi đối tượng: Giáo viên - học sinh.
- Thời gian thực hiện: Từ giữa học kỳ I đến hết năm học.
Các trang thiết bị, đồ dùng dạy học bộ môn Ngữ văn được trang bị tương đối
tốt: tivi, tranh ảnh, băng đĩa,… Tranh ảnh thì chủ yếu là chân dung, quần thể di
tích, tượng đài, các băng đĩa thì đã cũ, tư liệu chưa phong phú, chưa phục vụ trực
tiếp nội dung bài học. Vì vậy, giáo viên và học sinh phải sưu tầm thêm tranh ảnh,
hình vẽ, nguyên tác chữ Hán, các bản dịch thơ, làm bảng phụ, sưu tầm các đoạn
22
ngâm thơ,… Học sinh rất hào hứng, hăng say chuẩn bị ở nhà. Đồ dùng dạy học của
thầy trò tự làm là chính.
Từ năm học 2014 - 2015, tổ chuyên môn đã tổ chức việc dạy học theo chủ đề:
Trong chương trình văn học trung đại khối 10, tổ chuyên môn thống nhất các chủ
đề.
+ Thơ trung đại Việt Nam.
+ Văn nghị luận trung đại Việt Nam.
+ Truyện trung đại Việt Nam.
+ Truyện thơ Nôm.
Ở mỗi chủ đề, yêu cầu đọc - hiểu phái bám sát đặc điểm thể loại: thơ, truyền
kỳ, phú, cáo, … hiểu được đặc điểm thể loại. Yêu cầu giáo viên và học sinh hiểu
được những đặc sắc về nội dung, phải biết vận dụng những hiểu biết sau khi đọc hiểu các tác phẩm theo chủ đề vào việc làm văn (thuyết minh, nghị luận). Mỗi giáo
viên có thể có phương pháp vận dụng khác nhau, linh hoạt trong việc ra đề, nêu
Côn - Đoàn Thị Điểm), Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều)?
+ Bài học về nhân cách mà anh (chị) rút ra từ các câu chuyện về Hưng Đạo
Vương Trần Quốc Tuấn và thái sư Trần Thủ Độ?
- Ngoài việc phát triển năng lực chung, học sinh còn được phát triển năng lực,
năng khiếu riêng: đọc diễn cảm, ngâm thơ, vẽ tranh, kể chuyện, sáng tác thơ văn.
10. Giải pháp 10: Củng cố kiến thức, hướng dẫn tự học qua sơ đồ, bảng
biểu, thống kê:
a. Cách thức tổ chức thực hiện:
- Phạm vị đối tượng: Giáo viên - học sinh.
- Thời gian: Từ giữa học kỳ I đến hết năm học.
Việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu, thống kê giúp học sinh ghi nhớ kiến thức một
cách logic, lý giải mối quan hệ nội tại của vấn đề, vận dụng các kỹ năng phân tích,
đối chiếu, tổng hợp kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn.
Sau khi tiến hành đọc - hiểu văn bản, giáo viên hướng dẫn học sinh tổng kết
lại bà học, củng cố lại kiến thức. Giáo viên gọi học sinh nêu những đặc sắc về nghệ
thuật, ý nghĩa của văn bản. Sau đó, giáo viên nhận xét, chốt lại ý trọng tâm. Học
sinh có thể sơ đồ hóa, kẻ bảng biểu, bảng thống kê để củng cố lại kiến thức. Trong
phần Luyện tập về nhà, giáo viên có thể cho học sinh phân tích, tìm hiểu một vài
văn bản ngoài sách giáo khoa để nâng cao tri thức về văn học dân tộc và văn học
nước ngoài.
b. Các dữ liệu minh chứng:
Một số ví dụ: Dạy bài Hứng trở về của Nguyễn Trung Ngạn, giáo viên nêu
câu hỏi: Lập sơ đồ những biểu hiện tình yêu quê hương của tác giả, từ đó nêu chủ
đề của bài thơ?
Giáo viên hướng dẫn học sinh lập sơ đồ như sau:
24
- Sau khi đọc - hiểu văn bản Hiền tài là nguyên khí của quốc gia (Thân Nhân