skkn đặc TRƯNG CHỦ NGHĨA LÃNG mạn QUA NHỮNG tác PHẨM văn học LÃNG mạn VIỆT NAM TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ văn THPT - Pdf 32

a

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BẢN ĐĂNG KÍ SÁNG KIẾN NĂM HỌC 2014 - 2015
TÊN SÁNG KIẾN: ĐẶC TRƯNG CHỦ NGHĨA LÃNG MẠN QUA
NHỮNG TÁC PHẨM VĂN HỌC LÃNG MẠN VIỆT NAM
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THPT

Giáo viên:

1. Vũ Thị Yến
2. Lê Trâm Anh

Đơn vị công tác: Tổ Ngữ văn
Trường THPT chuyên Lương Văn Tụy

Ninh Bình, tháng 5 năm 2015


BẢN ĐĂNG KÝ SÁNG KIẾN NĂM HỌC 2014 - 2015
I. Tên sáng kiến
ĐẶC TRƯNG CHỦ NGHĨA LÃNG MẠN QUA NHỮNG TÁC PHẨM
VĂN HỌC LÃNG MẠN VIỆT NAM TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN
THPT
II. Đồng tác giả sáng kiến
1. Vũ Thị Yến

2. Lê Trâm Anh


từng tác phẩm cụ thể, mà chưa có cái nhìn tổng thể hay kiến thức lý luận khái quát
về đặc trưng thể loại, hay đặc trưng của trào lưu, phương pháp sáng tác… Vì vậy,
trong quá trình đọc hiểu và làm văn, học sinh chưa có một phương pháp khoa học,
hệ thống, chưa có kỹ năng so sánh các tác phẩm cùng trào lưu, xu hướng trong
những nền văn học khác nhau (theo kiểu so sánh đồng đại và lịch đại).
2


Ví dụ: Sách giáo khoa phổ thông hiện hành đều giới thiệu, chọn lọc những
văn bản ở văn học trong nước và nước ngoài có cùng thể loại nhưng hầu như học
sinh chỉ chú trọng các văn bản văn học Việt Nam, bỏ qua văn học nước ngoài, học
một cách chiếu lệ (vì văn học nước ngoài không sử dụng trong những bài thi, kiểm
tra quan trọng giữa kì, cuối kì). Chính vì vậy khi tìm hiểu các tác phẩm văn học
Việt Nam, thì hầu hết các em chưa có ý thức so sánh với văn học nước ngoài. Đặc
biệt là sự tiếp thu ảnh hưởng của văn học Việt Nam thời trung đại với văn học cổ
Trung Hoa và văn học lãng mạn Việt Nam 1932-1945 với văn học lãng mạn
Pháp…. Nếu có kiến thức lí luận và cái nhìn so sánh, các em sẽ thấy rằng, tuy cùng
viết theo đặc trưng của văn học trung đại hoặc văn học lãng mạn, nhưng các tác giả
văn học Việt Nam đã có sự cách tân, thổi vào trong sáng tác của mình điệu hồn
riêng của con người Việt Nam. Vì vậy, một nhược điểm phổ biến là nhiều bài viết
của học sinh thường khá hời hợt, rơi vào cảm nhận chung chung, không đạt kết quả
cao.
- Một nền văn học mới ra đời bao giờ cũng gắn liền với quan niệm về con
người mới và thể loại hình thức mới của sáng tác nghệ thuật. Mỗi tác giả khi cầm
bút sáng tác, bản thân tác giả đã “hít thở” bầu không khí của thời đại, chứng kiến
những đổi thay của lịch sử, điều đó góp phần không nhỏ khơi nguồn, nuôi dưỡng
cảm hứng sáng tạo cho tác giả. Cũng chính vì thể mà mỗi trang văn đều soi bóng
thời đại mà nó ra đời (Tô Hoài), tác phẩm nào cũng có mối quan hệ mật thiết với
thời đại mà nó sinh ra, đồng thời nó mang dấu ấn phong cách, cá tính sáng tạo của
tác giả, mang dấu ấn kế thừa văn học thời đại trước và dự báo những phát triển tiếp

Chế Lan Viên…, và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu. Bên cạnh đó là
những cây bút văn xuôi lãng mạn như Nguyễn Tuân, Thạch Lam. Họ đều là những
trí thức dân tộc có công lớn trong công cuộc cách tân, hiện đại hoá, đưa văn học
Việt Nam trong một thời gian ngắn ngủi có bước chuyển mình mạnh mẽ, đủ sức
hoà nhập cùng dòng chảy của văn học thế giới hiện đại. Nói về điều này, nhà phê
bình Vũ Ngọc Phan đầy cảm kích : ở nước ta một năm có thể kể như ba mươi năm
của người.
Vì vậy tìm hiểu Đặc trưng của chủ nghĩa lãng mạn chúng ta đã có trong tay
chìa khóa để mở ra thế giới muôn màu sắc của văn chương nhân loại và văn học
Việt Nam. Đặc biệt, với đề tài này chúng tôi sẽ có điều kiện đối chiếu văn học lãng
4


mạn Việt Nam và phương Tây để thẩm thấu được bản sắc riêng của văn học mỗi
dân tộc.
- Khi tìm hiểu Đặc trưng của chủ nghĩa lãng mạn, giáo viên sẽ trang bị cho
học sinh những kiến thức lý luận quan trọng về đặc trưng của một phương pháp
sáng tác lớn trong văn học Việt Nam và văn học nước ngoài, đây là kim chỉ nam
góp phần giúp các em đọc hiểu được các tác phẩm văn học lãng mạn một cách chủ
động và khoa học.
Tìm hiểu Đặc trưng chủ nghĩa lãng mạn qua những tác phẩm cụ thể trong
chương trình, học sinh còn có cái nhìn tích hợp, tổng quát về mối quan hệ giữa tác
phẩm với phong cách tác giả, bối cảnh thời đại (những vấn đề về lịch sử, chính trị
xã hội ảnh hưởng đến tác giả và tác phẩm). Đồng thời học sinh sẽ được so sánh các
hiện tượng vănhọc trong cùng một giai đoạn (mối quan hệ giữa văn học hiện thực
và lãng mạn...)
- Hơn nữa, các tác phẩm văn học lãng mạn (thơ và văn xuôi) được chọn lọc
đọc hiểu trong chương trình THPT đều là những tác phẩm xuất sắc của những tác
giả lớn. Trong xu hướng đổi mới của giáo dục theo hướng phát triển năng lực học
sinh, đây vẫn là những tác phẩm có giá trị vững bền, góp phần không nhỏ trong

6/6
HS
đạt
giải
(2
giải (1 nhất, 4
môn Văn đạt
nhì,
1
ba,
2
khuyến
nhì, 6 ba )
7,87
khích
2011-2012
Lớp 10 Văn: 3/3 hs
đạt giải (2 Ba, 1
khuyến khích)
2012-2013

Lớp 10 Văn: 3/3 hs
đạt giải (1 nhì, 2
ba.)
2013-2014 Lớp 11 và 12 Lớp 11 Văn : 3/3 hs 3/6 hs đạt giải (3 Điểm TB môn
Văn : 15 giải ( 1 đạt giải (2 nhất, 1giải ba )
văn đạt 7,81
nhất, 8 nhì, 6 ba )
ba)
2014-2015 Lớp 12 Văn: 15

1. Cơ sở hình thành
1.1. Cơ sở xã hội
Thời đại của chủ nghĩa lãng mạn là một thời đại đặc biệt giàu biến động
(riêng nước Pháp, một trung tâm quan trọng của nền văn học châu Âu, vào đầu thế
kỉ đã trả qua hai mươi lăm năm liền cách mạng và chiến tranh liên tiếp). Cuộc đại
cách mạng tư sản năm 1789 đánh đổ chế độ phong kiến, thiết lập chế độ tư sản là
một bước ngoặt lịch sử vĩ đại, không những đối với nước Pháp, mà còn đối với cả
châu Âu. “Cả thế kỉ XIX diễn ra dưới khẩu hiệu của cách mạng Pháp” (Lê Nin).
Sự sụp đổ của chế độ phong kiến, và sự kiến tạo những quan hệ xã hội mới đã tác
động sâu xa đến tư tưởng, tình cảm của mọi tầng lớp xã hội. Một mặt, cách mạng
tư sản đã làm dấy lên sự bất mãn của những người đại biểu cho ý thức hệ quý tộc,
bất bình trước trật tự xã hội mới, lo sợ trước phong trào quần chúng, hoang mang
dao động vì tương lai mờ mịt, luyến tiếc thời oanh liệt nay không còn nữa. Mặt
khác, xã hội tư bản ra đời cũng vấp phải sự chống đối của nhiều tầng lớp nhân dân
lao động. Không phải họ chống lại lý tưởng của cách mạng, mà chỉ bất bình với
những thành quả thực tế của cách mạng. Cách mạng tư sản đã giương cao khẩu
hiệu đem lại “tự do – bình đẳng – bác ái” cho con người. Nhưng khi giai cấp tư sản
trở thành ông chủ của xã hội mới, họ đã quy định lại nội hàm của những khái niệm
này: Ai có tiền người ấy có tự do; không có tiền phải bán sức lao động. Xã hội trở
thành một đấu trường khốc liệt, nơi diễn ra những cảnh cá lớn nuốt cá bé. Thương
trường là đấu trường, quan hệ giữa người với người là quan hệ tiền nong sòng
phẳng đến ghê rợn. “Phương châm bác ái được thực hiện bằng những sự lừa bịp
và đố kị trong cạnh tranh… Thay cho thanh kiếm, đồng tiền đã trở nên đòn bẩy
quan trọng nhất của xã hội” (Ăngghen). Tâm lý thời đại dẫn đến sự ra đời của chủ
nghĩa lãng mạn là sự vỡ mộng của nhiều tầng lớp nhân dân trước cơ chế xã hội
8


mới. Nếu như chủ nghĩa hiện thực nhìn thẳng vào thực tại với thái độ phê phán;
văn học cách mạng nhìn vào thực tại với mong muốn cải tạo thế giới; thì chủ nghĩa


Trong bối cảnh đó đã xuất hiện nhiều khuynh hướng, nhiều trào lưu nghệ
thuật, trong đó có chủ nghĩa lãng mạn, có mặt trong lĩnh vực văn chương, hội họa,
âm nhạc...
2. Giới thuyết về khái niệm: chủ nghĩa lãng mạn trong văn học
Từ lãng mạn (romanticism, romantisme) xuất phát từ tình ca (romances) của
thời trung cổ, để chỉ những bài thơ dài nói về những chàng kỵ sĩ, những anh hùng,
về những vùng đất xa xôi và những cuộc tình lỡ làng.... Biêlinxki trong bài Văn
học Nga, năm 1841, định nghĩa: "Chủ nghĩa lãng mạn, đó là thế giới nội tâm của
con người, thế giới của tâm hồn và trái tim".
Chủ nghĩa lãng mạn xuất hiện vào cuối thế kỉ XVIII, nghĩa ban đầu là những
cái không có thực, chỉ tồn tại trong sách vở, trong trí tưởng tượng. Sang thế kỷ
XIX, chủ nghĩa lãng mạn không chỉ dừng lại ở đó, mà trở thành thế giới quan của
thời đại: cách nhìn, cách đánh giá, thẩm định thế giới. Đó là sự phản ứng mang
tính tích cực chống lại sự thống trị của tư sản. Chủ nghĩa lãng mạn là tiếng nói của
những con người có văn hóa, có lương tri, của những trí thức tiến bộ. Họ căm ghét
sự thống trị tư sản, vì giai cấp tư sản đã biến những lời hứa tốt đẹp của những nhà
triết học ánh sáng thành những bức tranh châm biếm, biến xã hội mơ ước thành
hiện thực đau thương, đẫm máu.
Chủ nghĩa lãng mạn như là sự tiếp nối của chủ nghĩa tình cảm. Đặc biệt là
Rút-xô, thể hiện tình yêu thương con người một cách hào hiệp. Nên các nhà văn
lãng mạn đã thể hiện thái độ chống lại thực tại tư sản, tạo ra một xã hội mới, tìm
lối thoát cho nhân loại bằng cách: Tìm về với quá khứ, với ánh hào quang của xã
hội nguyên thủy, với những đấng mình quân của xã hội phong kiến; hoặc tìm đến
một tương lai mới, mà ở đó chưa có giai cấp tư sản. Tuy nhiên cả hai lối thoát này
đều không có thực. Chủ nghĩa lãng mạn đã trở thành thế giới quan của châu Âu,
đem đến một luồng sinh khí, tạo nên sức mạnh cho nhân loại.
Văn học lãng mạn là tiếng nói của cá nhân tràn đầy tình cảm, cảm xúc, đồng
thời phát huy cao độ trí tưởng tượng để diễn tả những khát vọng, ước mơ. Nó coi
con người là trung tâm của vũ trụ, khẳng định “cái tôi” cá nhân, đề cao con người

Nếu như chủ nghĩa hiện thực phản ánh cuộc sống một cách khách quan, thì chủ
nghĩa lãng mạn lại phản ánh cuộc sống một cách chủ quan thông qua tình cảm,
cảm xúc của người nghệ sỹ. Nhà lãng mạn thời kỳ đầu của Pháp Lamactin đã nói:
“Tôi là người đầu tiên làm cho thơ ca rời khỏi núi Pacnatxo (núi thơ). Tôi đã tặng
cho nàng thơ không phải là cây đàn Lia bảy dây quy ước, mà là những thớ của
con tim đang thổn thức.” Đó là cơ sở cho sự phát triển của một thể loại đặc sắc
trong văn học, đó là thơ, đặc biệt là thơ trữ tình.
Nếu chủ nghĩa cổ điển đề cao cái ta lỗi thời thì chủ nghĩa lãng mạn đề cao
cái tôi cá nhân. Con người có điều kiện bộc lộ vẻ đẹp của riêng mình. Đó chính là
một hình thức đề cao con người. Nhưng cái tôi ở đây không phải là cá nhân riêng
tư của một người nào, mà là tiếng lòng của cả một thời đại. Cái tôi mang một phẩm
chất mới, cái tôi cộng đồng, tập thể. Bởi vậy, tiếng nói của trái tim mới đến được
với trái tim và văn học lãng mạn đã trở thành món ăn tinh thần của cả thời đại. V.
Huy-gô đã nói: “Ôi, con người khờ khạo. Anh không biết rằng tôi đang nói về tôi,
chính là đang nói về anh đó”.
Ở Việt Nam những năm 1932 – 1945 đã diễn ra một cuộc cách mạng trong
thi ca, với sự xuất hiện của phong trào thơ Mới lãng mạn. Thơ Mới được hiểu là
thơ đổi mới cả về nội dung lẫn hình thức. Nội dung đổi mới bao gồm: đổi mới cả
tư duy và thi pháp thơ. Thơ Mới là thơ của cái tôi cá nhân cá thể, lần đầu tiên xuất
hiện trên thi đàn Việt Nam. Cái tôi có ý thức về sự tồn tại của chính nó. Tinh thần
12


của thơ Mới là ở cái Tôi cá nhân. Thơ Mới đã làm cho cái Tôi bộc lộ hết sức
phong phú, hấp dẫn như một bản lĩnh tích cực trong cuộc sống, như một chủ thể
sáng tạo độc đáo trong nghệ thuật. Lần đầu tiên trong lịch sử thi ca Việt Nam,
xuất hiện một cái tôi cá thể hóa trong cách cảm thụ tự nhiên và thế giới.
Nền văn học trung đại tồn tại và phát triển trong khuôn khổ của ý thức hệ
phong kiến chủ yếu là một nền văn học phi ngã. Xã hội phong kiến không chấp
nhận con người đề cao cái tôi, đề cao bản ngã. Văn xuôi lãng mạn ra đời đã góp

Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi
…….
Có thể nói sự chân thực, độ nồng nàn của cảm xúc đã tạo nên sức hút riêng,
cái duyên riêng của Xuân Diệu đối với bạn trẻ, khiến cho thơ ông được đón nhận
một cách nhiệt liệt. Và chính thi sĩ đã tâm sự: “Tôi gửi tâm hồn tôi cho những
người trẻ tuổi và nhất là trẻ lòng”. Điều tạo nên cái “mới nhất” của Xuân Diệu so
với các nhà thơ mới là Xuân Diệu luôn khẳng định cái tôi trong quan hệ gắn bó với
cuộc đời trần thế. Thế Lữ nuôi giấc mộng lên tiên, Lưu Trọng Lư ru người đọc
nhập vào thế giới mộng mơ, hư ảo, “cảnh không có ở thời nay mà cũng không có ở
thời nào” (Hoài Thanh). Đến Xuân Diệu, thi nhân đã gạt bỏ giấc mộng sầu man
mác của Lưu Trọng Lư, những nuối tiếc về một thời oanh liệt của Thế Lữ, Huy
Thông, Xuân Diệu say sưa khẳng định cái tôi đứng giữa cuộc đời, Xuân Diệu đã
xây lầu thơ “trên đất của một tấm lòng trần gian” (Thế Lữ) bằng những vật liệu
thực của trần gian. Xuân Diệu là con người của cuộc đời, một người ở giữa muôn
người. Quá trình khẳng định cái tôi của thi sĩ diễn ra song song với quá trình khẳng
định ý nghĩa của cuộc sống hiện tại. Nói như Hoài Thanh: “Xuân Diệu đốt cảnh
bồng lai và xua ai nấy về hạ giới”. Thi sĩ là người duy nhất tìm được lối thoát cho
cái tôi cá nhân giữa cõi trần ai:
- Ta ôm bó cánh tay ta làm rắn
Làm dây da quấn quýt cả mình xuân
Không muốn đi mãi mãi ở vườn trần
Chân hóa rễ để hút mùa dưới đất.
Những vần thơ rạo rực men say của thi sĩ họ Ngô đã thể hiện được một cách sinh
14


động đặc trưng của văn học lãng mạn.
Xuất phát từ khát khao khẳng định cái tôi cá nhân, trong văn học lãng mạn


tâm ra đi vì nghĩa lớn. Gia cảnh nặng nề, đáng lẽ anh phải ở nhà để gánh vác gia
đình, mới làm tròn bổn phận. Nhưng anh lại là một chàng trai mang chí lớn, li
khách rơi vào bi kịch giằng co giữa bổn phận và khát vọng, giữa tình và chí. Khát
vọng giục anh lên đường, bổn phận níu kéo anh ở nhà. Anh phải tự làm rắn lòng
mình, phải dùng cả ý chí và lí trí để dằn lòng, để cưỡng chế tình cảm. Anh phải
quyết lòng dửng dưng, dứt khoát giã từ:
“Một giã gia đình, một dửng dưng…”
Hai chữ “một” điệp lại thể hiện bước chân dứt khoát của li khách, quyết một đi
không trở về, không vương vấn gia đình.
Nếu chỉ lắng nghe khẩu khí bề ngoài, hẳn mọi người sẽ nghĩ li khách là một
kẻ vô tình, vô tâm, bạc bẽo. Nhưng chỉ duy nhất một người hiểu thấu lòng anh, đó
chính là người đưa tiễn – tri âm tri kỉ của anh:
“Ta biết người buồn chiều hôm trước”
“Ta biết người buồn sáng hôm nay”
Ở li khách có sự đối lập giữa bề ngoài và bên trong. Thái độ dửng dưng, dứt khoát
bên ngoài mâu thuẫn với bao tình cảm sâu nặng dành cho người thân yêu ruột thịt.
Tình cảm ấy khiến trong lòng li khách chất chứa bao nỗi buồn dai dẳng, triền miên.
Những trạng ngữ chỉ thời gian nối tiếp “hôm trước, hôm nay” đã diễn tả nỗi nhớ
thương dằng dặc, những dằn vặt, đau đớn đến xé lòng. Và đến tận giây phút chia
tay, nỗi buồn vẫn dâng đầy trong mắt “sao đầy hoàng hôn trong mắt trong”. Thì ra
đằng sau vẻ lạnh lùng, kiêu bạc kia là một trái tim rất nặng tình. Song dẫu tình cảm
gia đình vô cùng quyến luyến, vẫn không lay chuyển được chí lớn của li khách.
Đoạn kết giống như cao trào của cơn sóng lòng đã âm ỉ từ khổ một. Bài thơ kết lại
trong giọng nghẹn ngào, tức tưởi:
“Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say”
Khổ thơ gợi cho ta nhiều cách hiểu khác nhau. Cách hiểu thứ nhất: Người ra đi coi
mẹ, coi chị, coi em là chiếc lá bay, là hạt bụi, là hơi rượu say, anh phải dằn lòng,

Ảnh hưởng thuyết siêu nhân của Nitsơ: siêu nhân là phải biết tàn nhẫn, phải biết
vượt lên thứ luân lý của tình thương, Bạch thích lên giọng khinh bỉ tình cảm gia
đình, những kẻ lên đường bịn rịn, những cuộc tiễn đưa sụt sùi nước mắt. Nhưng
thực tế anh ta vẫn rất nặng lòng với gia đình. Đối với cha, anh ta phải thú nhận:
17


“Lòng thương cha, ai mà không nặng”. Còn đối với vợ, anh ta tìm cách bới móc
mọi khuyết điểm của vợ để có thể li dị, nhưng rồi anh ta lại nhận ra điều đó “thật
không xứng đáng một tí nào với cái vẻ ngây thơ, thành thực của vợ chàng”. Như
vậy, khác với nhân vật trong văn học phương Tây, họ sẵn sàng thoát ly gia đình để
được sống phiêu lưu, mạo hiểm, để khẳng định cái tôi. Nhân vật của Nguyễn Tuân
vẫn mang nặng tình cảm của con người Việt Nam, thoát ly gia đình nhưng vẫn
nặng lòng với người thân. Đáng trân trọng hơn, họ xê dịch quẩn quanh, lẫn vào thú
giang hồ lãng tử, nhưng trong lòng vẫn “yêu thương mà ngợi ca đất nước muôn vẻ
muôn màu của mình”, và ghi lại những phong cảnh tuyệt đẹp của giang sơn Tổ
quốc, trên mỗi bước đường đi qua đều đặt cả tâm hồn mình vào cỏ cây sông nước.
Nhân vật của Nguyễn Tuân chính là hình bóng của nhà văn. “Con người luôn cảm
thấy “thiếu quê hương” ấy, thực sự lại gắn bó tha thiết với quê hương mình bằng
biết bao sợi dây tình cảm tế nhị. Mà chính vì tha thiết với quê hương nên mới cảm
thấy bơ vơ trong hoàn cảnh mất nước và mới có tâm trạng khắc khoải day dứt
“thiếu quê hương… Đó là một tấm lòng An Nam hoàn toàn” (Nguyễn Đăng
Mạnh). Sức hấp dẫn, giá trị muôn đời của những trang văn Nguyễn Tuân là ở đó.
Qua sự phân tích một số ví dụ ở trên đã cho chúng ta thêm căn cứ để hiểu
sâu sắc hơn đặc trưng đầu tiên của chủ nghĩa lãng mạn, đó là đề cao tình cảm của
cá nhân con người, hiểu con người là một “tiểu vũ trụ” với sự phong phú, vô bờ
bến của tâm hồn và trí tuệ.
2. Nhân vật trung tâm
Nhân vật là hình ảnh con người được miêu tả cụ thể trong tác phẩm. Nhân
vật luôn là phương tiện để nhà văn phản ánh hiện thực và ký thác tư tưởng tình

Không có chi bè bạn nổi cùng ta
………….
Ta bỏ đời mà đời cũng bỏ ta
Giữa vắng ngắt, giữa lạnh lùng thê tuyệt.
(Hi Mã lạp sơn – Xuân Diệu)
Xuân Diệu – thi sĩ đại diện đầy đủ nhất cho thời đại chữ Tôi đã tự ví mình với đỉnh
Himalaya, ngọn núi cao nhất thế giới thật kì vĩ biết bao, nhưng cũng cô độc biết
nhường nào!
19


2.2. Kiểu nhân vật tướng cướp - nhân vật nổi loạn
Trong những tác phẩm văn học lãng mạn còn xuất hiện kiểu nhân vật tướng
cướp - nhân vật nổi loạn, nhưng là những tên cướp cao thượng, mang tính lý
tưởng: lấy hành động của mình để cưu mang, cứu vớt đời. Đó là những con người
thừa “đầu thai nhầm thế kỉ”.
Các nhà văn lãng mạn tích cực đều mang thái độ bất mãn sâu sắc với xã hội
tư sản. Họ nhận thức được rõ ràng cái xã hội mới đáng lẽ cho phép từng người biểu
lộ tài năng của mình và “tham gia vào sự thay đổi thế giới”, thì về thực chất lại là
“một xã hội đã bị chắn ngang do sự tàn bạo của đồng tiền, sự tàn bạo này còn
khắc nghiệt hơn cả sự tàn bạo của đẳng cấp và của giống nòi xưa kia”. Nhận thức
sáng suốt đó về thực tại không hề thủ tiêu ý chí của nhân vật trung tâm trong chủ
nghĩa lãng mạn tích cực. Gắn bó với ước vọng của nhân dân về một xã hội tốt đẹp
hơn, hầu hết các nhà lãng mạn tích cực đều đã thể hiện trong tác phẩm của mình
“giấc mơ về hành động thực tế của cá nhân, về chỗ cá nhân có thể thâm nhập vào
thế giới và làm thay đổi được nó.” Nhân vật của họ thường là nhân vật phi
thường, con người nổi loạn. Họ nổi loạn để tạo ra chỗ đứng của mình, nổi loạn để
thế giới phải chú ý tới họ, nổi loạn để chống lại bất công, tiêu diệt cái ác, cho dù là
đơn độc. Những con người này thường sống ngoài rìa pháp luật, sống ngoài xã hội,
vì vậy đã buồn họ lại càng buồn hơn.

chết nhẹ tựa lông hồng. Trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời mình, Huấn
Cao đã không hề run sợ, mà dồn hết tài hoa, thiên lương để cảm hóa, đưa quản
ngục trở về với cuộc sống lương thiện. Qua hình tượng này, Nguyễn Tuân muốn
gửi gắm tới người đọc một thông điệp: trên đời này không chỉ có quyền lực của
nhà tù, mà còn có quyền uy của cái đẹp, đó chính là cái đẹp “nổi loạn”. Huấn
Cao có nguyên mẫu từ Cao Bá Quát, một danh sĩ ở thế kỉ XIX, nổi tiếng hay chữ
và viết chữ đẹp. Ông được tôn là “thánh Quát”, và là niềm tự hào của thời đại trong
vế đối: “Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán”. Cao Bá Quát cũng là người nổi tiếng
phóng túng, ngông ngạo, khao khát đổi thay xã hội trong hoàn cảnh triều đình nhà
Nguyễn bảo thủ, trì trệ. Cuối cùng ông đã đi làm quân sư cho cuộc khởi nghĩa Mĩ
Lương chống lại triều đình. Đó là một con người tài hoa, khí phách ngang tàng và
nhân cách cao đẹp. Lấy Cao Bá Quát làm nguyên mẫu để xây dựng nhân vật chính
cho truyện, Nguyễn Tuân đã thể hiện khuynh hướng của trào lưu lãng mạn, phủ
21


định thực tại xã hội đương thời bằng cách quay về ngợi ca vẻ đẹp của một thời đã
qua nay chỉ còn vang bóng. Đồng thời, tác giả cũng bộc lộ lòng yêu nước thầm kín
khi ca ngợi lãnh tụ khởi nghĩa Huấn Cao, gửi gắm sự ngưỡng mộ của mình với
những anh hùng, hào kiệt dám đứng lên chống Pháp bằng gươm súng.
Như vậy, “mỗi nghệ sĩ có thể đến với văn chương và cuộc đời bằng con
đường riêng của mình. Nhưng… tư duy nghệ thuật dù có đổi mới đến đâu đi nữa
thì cũng không vượt ra ngoài các quy luật của chân thiện mĩ, quy luật nhân bản.
Nhà văn có sứ mệnh khơi nguồn cho dòng sông văn học đổ ra đại dương nhân bản
mênh mông” (Lã Nguyên)
3. Mối quan hệ giữa tính cách và hoàn cảnh
Nếu như các nhà văn hiện thực phê phán phản ánh chân thực đời sống thông
qua những nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình, thì các cây bút lãng mạn
gửi gắm triết lý nhân sinh của mình qua những tính cách phi thường trong những
hoàn cảnh phi thường. V.Huygô – chủ soái của chủ nghĩa lãng mạn Pháp cho

sinh của nhà văn, người đọc không thể nào quên câu nói cuối cùng của ông với Côdet và Mariuyt: “Trên đời này chỉ có một điều ấy thôi, đó là yêu thương nhau”.
Mặc dù quan niệm của tác giả có phần ảo tưởng: dùng tình thương để cảm hóa thế
giới tàn ác, nhưng Giăng-Văn-Giăng vẫn là hình tượng nhân vật phi thường trong
trái tim và khát vọng cứu vớt nhân loại khổ đau. Vì vậy, thiên tiểu thuyết đẹp như
một “bài thơ về lương tâm con người”.
Chính khát vọng vươn tới cái phi thường, cái cao cả đã tạo nên sự tài hoa
trong ngòi bút và tầm vóc vĩ đại của một nhà “nhân đạo từ trong cốt tủy”, cây đại
thụ của chủ nghĩa lãng mạn Pháp đã toả bóng gần khắp thế kỷ XIX - V.Huy-gô.
4. Nghệ thuật tương phản
Theo nhận xét của các nhà phê bình, thì nghệ thuật lãng mạn có khả năng
dung nạp rộng rãi các thủ pháp nghệ thuật đặc thù như tương phản, cường điệu, trữ
tình ngoại đề, sự đối lập giữa cái trác việt (sublime) và cái thô kệch (grotesque)…
Trong đó, một trong những thủ pháp đem lại hiệu quả nghệ thuật cao nhất cho
những tác phẩm văn học lãng mạn chính là nghệ thuật tương phản với những cấp
độ đa dạng. "Tinh thần lãng mạn chính là sự nối kết liên tục các yếu tố đối kháng
nhau: Tự nhiên và nghệ thuât, thơ ca và văn xuôi, sự nghiêm túc và thú vui, kỷ
niệm và dự cảm, tư tưởng trừu tượng và những cảm giác sống động, sự sống và
23


cái chết... hòa lẫn với nhau một cách mật thiết trong thể loại lãng mạn” (A.W
Sleigel).
4.1. Tương phản trong xây dựng hình tượng nhân vật
4.1.1. Tương phản trong một nhân vật
Dưới ngòi bút của các tác giả lãng mạn, nhân vật nhiều khi là sự thống nhất
hài hòa của nhiều mặt đối lập: giữa ngoại hình và phẩm chất, giữa quá khứ và hiện
tại,… Chúng ta không thể không kể đến nhân vật Huấn Cao trong “Chữ người tử
tù” của Nguyễn Tuân, đó là sự kết hợp giữa một nghệ sĩ tài hoa và một anh hùng
“bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Hay Ka-di-mô-đô trong “Nhà thờ
đức bà Pari” có vẻ bề ngoài vô cùng xấu xí, nhưng tâm hồn lại cao đẹp, thánh

tiếng, người kia suốt đời ngưỡng mộ cái tài ấy, bất chấp cả sự an nguy về tính
mạng của mình và gia đình mình, miễn là có chữ của Huấn Cao để thỏa lòng mong
ước. Ở một khía cạnh khác, tình huống này còn là sự đối mặt giữa hai kiểu nhà tù,
hai kiểu tù nhân. Huấn Cao – một người hoàn toàn tự do về nhân cách nhưng đã
mất mọi quyền, kể cả quyền sống. Quản ngục hoàn toàn tự do về thân thể, nhưng
lại bị cầm tù về nhân cách. Hoàn toàn có thể coi đây là cuộc gặp gỡ giữa một tử tù
Huấn Cao và người bị cầm tù chung thân ngay trong môi trường sống của mình.
Chọn tình huống này, nhà văn đã đặt quản ngục vào một sự lựa chọn có tính xung
đột: hoặc làm tròn bổn phận của một ông quan thì phải chà đạp lên tấc lòng tri kỉ,
hoặc muốn trọn đạo tri kỉ thì phải phản lại bổn phận của một viên quan, bất chấp
phép tắc nhà tù, và những quy định của luật pháp triều đình. Quản ngục hành động
theo hướng nào, tư tưởng của truyện sẽ nghiêng theo hướng ấy. Theo cách thứ
nhất, chiến thắng sẽ thuộc về sự tầm thường, đê tiện, độc ác. Theo cách hai, thì cái
đẹp sẽ chiến thắng. Liệu quản ngục có dám thủy chung với tấc lòng tri kỉ, có dám
coi thường bổng lộc và sự an toàn tính mạng của cá nhân và gia đình mình hay
không? Quản ngục có thể thoát khỏi cái nhà tù vô hình vẫn cầm tù nhân cách của
mình hay không? Có dám sống đúng là mình hay không? Tình huống truyện có sức
hấp dẫn, lôi cuốn người đọc tiếp tục theo dõi câu chuyện.
Như vậy, nghệ thuật tương phản có vai trò quan trọng trong việc tạo tình
huống và khắc họa chân dung nhân vật.
4.1.3. Tương phản giữa nhân vật và hoàn cảnh
Trong các tác phẩm văn học, con người không chỉ là “tổng hòa các mối
quan hệ xã hội”, mà chân dung nhân vật còn hiện lên sinh động trong mối quan hệ
25


Trích đoạn Tương phản giữa những tư tưởng Cách thức thực hiện
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status