ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ MẾN
DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN “LÃO HẠC” TRONG
CHƢƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 8
THEO ĐẶC TRƢNG THỂ LOẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN
Hà Nội - 2015
i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ MẾN
DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN “LÃO HẠC” TRONG
CHƢƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 8
THEO ĐẶC TRƢNG THỂ LOẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DA ̣Y HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60 14 01 11
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. HÀ VĂN ĐỨC
DANH MỤC VIẾT TẮT
ĐC
Đối chứng
GV
Giáo viên
HĐ
Hoạt động
HS
Học sinh
SGK
Sách giáo khoa
SGV
Sách giáo viên
THCS
Trung học cơ sở
1.2.1. Thực tiễn dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường hiện nay ...........
24
1.2.2. Thực trạng dạy học tác phẩm Lão Hạc của Nam Cao ở trường
THCS hiện nay ................................................................................................
25
Chƣơng 2: ĐỊNH HƢỚNG DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN LÃO HẠC
36
CỦA NAM CAO THEO ĐẶC TRƢNG THỂ LOẠI .................................
36
2.1. Giới thiệu chung về Nam Cao và truyện ngắn Lão Hạc.....................
2.1.1. Cuộc đời và sự nghiệp...........................................................................
36
2.1.2. Truyện ngắn Nam Cao ..........................................................................
38
2.1.3. Truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao .....................................................
44
2.2. Định hƣớng dạy học truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao theo
47
đặc trƣng thể loại...........................................................................................
2.2.1. Định hướng chung .................................................................................
47
2.2.2. Dạy học truyện ngắn Lão Hạc theo đặc trưng thể loại .........................
51
64
Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM ....................................................
64
3.1. Mục đích thực nghiệm ...........................................................................
64
3.2. Yêu cầu thực nghiệm .............................................................................
65
iv
.........
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1. Tổng hợp từ 5 giáo viên trường THCS Thị trấn Gia Bình và 4
giáo viên trường THCS Quỳnh Phú - Huyện Gia Bình- Tỉnh Bắc Ninh................
30
Bảng 1.2. Tổng hợp 148 phiếu của 2 trường THCS Thị trấn Gia Bình
và THCS Quỳnh Phú - huyện Gia Bình - Tỉnh Bắc Ninh...............................
33
Bảng 3.1. Thống kê kết quả bài kiểm tra 45 phút của học sinh ......................
93
v
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn để tài
1.1. “văn học là nhân học”, M.Gorki, đại văn hào Nga đã từng nhận định như
thế. Thật vậy, ai ai cũng phải học để tiếp thu tri thức, để làm người. Văn học
lại chính là chiếc chìa khóa vạn năng mở rộng lòng nhân ái, phát triển nhân
cách tốt đẹp. Một tác phẩm ra đời không chỉ phản ánh cuộc sống phong phú,
muôn vẻ quanh ta mà còn thể hiện thái độ, tình cảm của nhà văn với vạn vật.
Nhờ thế, văn học không chỉ dừng lại ở giá trị văn chương mà còn là nguyên
liệu xây đắp tình yêu thương giữa con người với con người. Như vậy, có thể thấy
văn học có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống con người. Nhưng thực
tiễn sư phạm cho chúng ta thấy rằng, việc dạy học văn trong nhà trường phổ
nhất giữa hình thức và nội dung, một sự giảng dạy đi đúng với quy luật và bản
chất của văn học, đồng thời bảo đảm hiệu quả giáo dục cao nhất.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành lựa chọn và thực hiện
đề tài: Dạy học truyện ngắn Lão Hạc trong chương trình Ngữ văn lớp 8
theo đặc trưng thể loại. Với đề tài này, chúng tôi hi vọng được góp phần nhỏ
bé của mình để tìm ra những biện pháp, cách thức dạy học thích hợp hơn,
hiệu quả hơn trong dạy học truyện ngắn Lão Hạc nói riêng và các truyện ngắn
khác nói chung trong nhà trường phổ thông.
2.Lịch sử nghiên cứu
Sự nghiệp văn học của Nam Cao vô cùng phong phú, là một di sản có
giá trị và ý nghĩa to lớn về nhiều mặt. Nhiều nhà nghiên cứu phê bình, các
chuyên gia phương pháp, thầy cô giáo giảng dạy văn học và đông đảo bạn đọc
đã rất quan tâm dày công nghiên cứu và tìm hiểu những giá trị trước tác của
ông ở nhiều phương diện, góc độ khác nhau.
2.1. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về Nam Cao
Nam cao cầm bút vẻn vẹn có 15 năm nhưng những giá trị văn chương
của ông ngày càng tỏa sáng. Những tác phẩm của nhà văn đã thực sự “vượt
lên trên tất cả bờ cõi và giới hạn”. Có thể khẳng định rằng trong những thập
kỉ vừa qua, việc nghiên cứu về nhà văn Nam Cao đã đạt được nhiều thành tựu
đáng kể. Giới nghiên cứu phê bình hiện nay khi đọc tác phẩm của Nam Cao
2
đã không dừng lại ở những giá trị có sẵn mà cố gắng “tìm tòi”, “sáng tạo”,
khơi sâu vào những “địa tầng” mới của văn chương Nam Cao. Tiêu biểu phải kể
đến các công trình nghiên cứu, các bài viết của các nhà nghiên cứu Hà Minh Đức,
Phong Lê, Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Đình Sử, Trần Đăng Suyền….
Trong cuốn Nam Cao - nhà văn hiện thực xuất sắc in năm 1961, Hà
Minh Đức đã chỉ ra nét độc đáo trong tác phẩm của Nam Cao và cho rằng:
“Nam Cao thiên về phân tích những biểu hiện nội tâm của nhân vật. Do đó
như thế. Ở loại hình tự sự nhân vật người kể chuyện và nhân vật của tác
phẩm tương ứng với hai loại ngôn ngữ: ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn
ngữ nhân vật”. [40, tr.32]
Nguyễn Văn Hạnh với bài viết Nam Cao và khát vọng về một cuộc
sống lương thiện xứng đáng đã nhận xét: “Với quan điểm nhân đạo sâu sắc
của mình, có thể nói trong văn học nước ta nửa đầu thế kỷ XX, hơn bất kỳ một
nhà văn nào khác, Nam Cao đã đặt ra trực diện vấn đề kiếp người, vấn đề
thân phận con người, vấn đề con người bị tha hoá, không được sống như bản
tính của mình, theo những nhu cầu tự nhiên lành mạnh của mình”. [40, tr. 129]
Trần Đăng Suyền trong bài viết Nam Cao - Nhà văn hiện thực
xuất sắc, nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn đã nhận xét: “Đối với Nam Cao, cái
quan trọng hơn cả trong nhiệm vụ phản ánh chân thật cuộc sống là cái chân
thật của tư tưởng, của nội tâm nhân vật. Xét cho tới cùng, cái quan trọng nhất
trong tác phẩm không phải là bản thân sự kiện, biến cố tự thân mà là con
người trước sự kiện, biến cố” [40, tr.156- 157]
Bên cạnh những bài nghiên cứu, tìm hiểu về tác gia Nam Cao và giá trị
các tác phẩm của ông; giới nghiên cứu, phê bình đã mở rộng tầm nhìn, phạm
vi nghiên cứu để khẳng định một cách khách quan, đúng đắn về tài năng của
Nam Cao qua việc so sánh, đối chiếu những nét tương đồng của
Nam Cao với các nhà văn tên tuổi trên thế giới. Tác giả Trần Ngọc Dung
trong bài viết Gặp gỡ giữa M. Gorki và Nam Cao đã nhấn mạnh: “Đây là sự
gặp gỡ ngẫu nhiên giữa hai tư tưởng nghệ thuật lớn. Chúng ta có căn cứ để
kết luận như vậy: M. Gorki cũng như Nam Cao đều là hai nhà nhân đạo chủ
nghĩa lớn, đều chú ý đến những người cùng khổ, bất hạnh, bị xã hội áp bức
4
bóc lột, đày đoạ đến mức từ nhân tính đến nhân hình dường như bị thui chột
hoặc méo mó đi; đều phát hiện ở những loại người "dưới đáy" cuả xã hội cũ,
không chỉ có nỗi khổ về vật chất, mà còn có nỗi đau đớn về tinh thần do bị xã
sắc như: về nội dung tác phẩm, ngôn ngữ, giọng điệu, kết cấu, thi pháp phong
cách… Song những bài nghiên cứu, chuyên luận nghiên cứu sâu về những nét
riêng thi pháp truyện ngắn Nam Cao chưa có nhiều, đặc biệt là mảng các
truyện ngắn giàu chất hiện thực. Những năm gần đây, có nhiều luận án tiến
sỹ, luận văn thạc sỹ về các tác phẩm của Nam Cao song chưa có công trình
nào trực tiếp bàn về hướng dạy truyện ngắn Lão Hạc. Chính vì vậy, việc đưa
ra hướng dạy học truyện ngắn hiện thực trong văn học Việt Nam 1930-1945
nói chung và truyện ngắn hiện thực Nam Cao nói riêng cần được quan tâm
nghiên cứu để tìm ra hướng dạy học phù hợp đạt hiệu quả. Luận văn của
chúng tôi nghiên cứu về đề tài: Dạy học truyện ngắn Lão Hạc trong chương
trình Ngữ văn lớp 8 theo đặc trưng thể loại. trên cơ sở gợi mở của những
người đi trước.
2.2. Tình hình nghiên cứu dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng
thể loại
Những năm gần đây do yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, GV
Ngữ văn các cấp đã được bồi dưỡng nhiều tri thức các thể loại văn học và dạy
học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại. Bên cạnh đó cũng có nhiều
công trình nghiên cứu, các tài liệu hướng dẫn phân tích tác phẩm văn chương
theo loại thể. Trên cơ sở những thành tựu về loại thể văn học và thi pháp học,
nhiều nhà nghiên cứu, nhà sư phạm tâm huyết đã đề xuất cách thức, con
đường dạy học sinh cảm thụ, tiếp nhận tác phẩm văn chương nói chung; tác
phẩm văn xuôi nói riêng theo đặc trưng thể loại. Các tác giả trong chuyên
luận của mình khi nói về vấn đề giảng dạy và phân tích tác phẩm văn chương
đều không bỏ qua đặc thù thẩm mĩ của thể loại tác phẩm cần phân tích. Tiêu
biểu là các công trình của các tác giả:
- Trần Thanh Đạm: Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể (Nhà
xuất bản Giáo dục, 1971)
6
7
1945). Thời gian sáng tác không dài, khối lượng tác phẩm để lại không đồ sộ
nhưng chúng thực sự đã trở thành “mẫu số vĩnh hằng” trong nền văn học dân
tộc. Các tác phẩm của ông luôn là mối quan tâm trăn trở của nhiều giáo viên
dạy văn và học sinh, đặc biệt là của các nhà nghiên cứu chuyên ngành
phương pháp.
Về tài liệu hướng dẫn giảng dạy và học tập: Bên cạnh các sách giáo
khoa, sách giáo viên và sách thiết kế bài giảng cũng có một số cuốn sách tham
khảo và hướng dẫn của một số nhà phương pháp như: Cuốn Nam Cao - một đời
văn của Lê Tiến Dũng (Hội nghiên cứu và giảng dạy văn học Thành phố Hồ Chí
Minh phát hành năm 2001); Phân tích tác phẩm Nam Cao trong nhà trường của
Nguyễn Văn Tùng (Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2003); Nhà văn và tác
phẩm trong nhà trường – Nam Cao Văn Giá tuyển chọn và biên soạn (Nhà xuất
bản Giáo dục, Hà Nội, 1999); Phương pháp giảng dạy tác phẩm văn chương
theo loại thể Nguyễn Viết Chữ (Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, 2006); … Có
thể nói đây là những tài liệu bổ ích và thiết thực cho công việc giảng dạy và học
tập về các tác phẩm của Nam Cao trong nhà trường phổ thông.
Nghiên cứu, khám phá những tác phẩm của Nam Cao, Nguyễn Thị
Thanh Hương có bài Những tác động thẩm mĩ tiềm tàng trong tác phẩm của
Nam Cao.
Bên cạnh đó còn có một số luận văn, khoá luận nghiên cứu về phương
pháp dạy học các tác phẩm của Nam Cao trong nhà trường phổ thông như: Đỗ
Bích Liên với đề tài Đặc sắc nghệ thuật tác phẩm Chí Phèo và biện pháp giáo
dục thẩm mỹ cho học sinh lớp 11; Nguyễn Văn Thắng với đề tài Một số biện
pháp hướng dẫn học sinh tiếp nhận ngôn ngữ người kể chuyện trong truyện
ngắn Nam Cao ở trường THPT; Trần Thị Thu Hà với đề tài khoá luận Vận
dụng tri thức đọc hiểu để hướng dẫn học sinh đọc tác phẩm Chí Phèo của
Nam Cao trong nhà trường THPT; Phạm Thị Thu với đề tài “Dạy học tác
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là tìm ra hướng dạy học truyện ngắn Lão
Hạc theo đặc trưng thể loại, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc
9
dạy học truyện ngắn này trong chương trình THCS. Đề tài giải quyết các
nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu về tác phẩm văn học, đặc trưng loại hình tác phẩm tự sự, đặc
trưng của thể loại truyện ngắn.
- Tìm hiểu về thực trạng dạy học tác phẩm Lão Hạc của Nam Cao ở
một số trường THCS trên địa bàn huyện Gia Bình- Bắc Ninh.
- Tiến hành nghiên cứu, khảo sát thực tiễn để từ đó xác định hướng dạy
học hợp lý và hiệu quả cho việc dạy học tác phẩm Lão Hạc của Nam Cao ở
trường THCS.
- Khảo sát bằng thực nghiệm, đánh giá kết quả nghiên cứu để có cái
nhìn tổng thể về dạy học tác phẩm Lão Hạc của Nam Cao.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng được lựa chọn nghiên cứu là phương pháp dạy học truyện ngắn
Lão Hạc của Nam Cao theo đặc trưng thể loại.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Căn cứ mục đích khoa học và đối tượng nghiên cứu của đề tài, luận văn
chỉ đi sâu tập trung nghiên cứu trong phạm vi cụ thể là tác phẩm Lão Hạc
của Nam Cao trong chương trình Ngữ văn lớp 8 ở trường THCS. Đối tượng
được áp dụng thực nghiệm nghiên cứu là học sinh lớp 8 ở 2 trường: trường
THCS Thị trấn Gia Bình và trường THCS Quỳnh Phú - huyện Gia Bình Tỉnh Bắc Ninh.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, xây dựng đề tài chúng tôi đã vận dụng nhiều
phương pháp nghiên cứu như:
định trong quá trình phát triển lịch sử văn học, thể hiện ở sự giống nhau về
cách thức tổ chức tác phẩm, về đặc điểm của các loại hiện tượng đời sống
được miêu tả và về tính chất của mối quan hệ của nhà văn đối với các hiện
tượng đời sống ấy.” [12, tr.173 ]
Trong quá trình sáng tác, các nhà văn thường sử dụng những phương
pháp chiếm lĩnh đời sống khác nhau, thể hiện những quan hệ thẩm mĩ khác
nhau đối với hiện thực, có những cách thức xây dựng hình tượng khác nhau.
Các phương thức ấy ứng với những hình thức hoạt động nhận thức khác nhau
của con người - hoặc trầm tư, chiêm nghiệm, hoặc qua biến cố liên tục, hoặc
qua xung đột… làm cho tác phẩm văn học bao giờ cũng có sự thống nhất quy
định lẫn nhau về các loại đề tài, cảm hứng, hình thức nhân vật, hình thức kết
cấu và hình thức lời văn. Người ta có thể tập hợp thành từng nhóm những tác
phẩm văn học giống nhau về phương thức miêu tả và hình thức tồn tại của
chỉnh thể ấy. Đó là cơ sở khách quan tồn tại thể loại văn học và cũng là điểm
xuất phát để xây dựng nguyên tắc phân chia thể loại văn học.
Thể loại văn học trong bản chất phản ánh những khuynh hướng phát
triển vững bền, vĩnh hằng của văn học, và các thể loại văn học tồn tại để gìn
12
giữ, đổi mới thường xuyên các khuynh hướng ấy. Do đó mà thể loại văn học
luôn luôn vừa cũ, vừa mới, vừa biến đổi, vừa ổn định.
Lí luận văn học dựa vào yếu tố ổn định mà chia tác phẩm văn học thành
các loại và thể (hoặc thể loại, thể tài). Loại rộng hơn thể, thể nằm trong loại.
Bất kì tác phẩm nào cũng thuộc một loại nhất định và quan trọng hơn là có
một hình thức thể nào đó. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng có ba loại: tự sự,
trữ tình, kịch. Mỗi loại lại bao gồm một số thể.
Nguyễn Văn Long trong cuốn Phân tích tác phẩm văn học hiện đại Việt
Nam từ góc nhìn thể loại, Nxb Giáo dục cũng chỉ rõ: “Thể loại là một phạm
văn bản.Tên gọi thể loại của tác phẩm cho ta biết: phạm vi và phương thức
tiếp xúc, tái hiện đời sống; hệ thống các phương tiện, phương pháp thể hiện
tương ứng.
Phân loại tác phẩm văn chương chủ yếu dựa vào phương thức tái hiện
đời sống; cấu tạo tác phẩm; loại đề tài; chủ đề; thể văn. Tác phẩm văn học
được chia ra làm ba loại chính: loại tác phẩm tự sự, loại tác phẩm trữ tình, loại
tác phẩm kịch. Mỗi loại tác phẩm văn học lại có một phương thức kết cấu
hình tượng văn học để phản ánh cuộc sống và biểu hiện tư tưởng của nhà văn.
1.1.1.2. Dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại
Thể loại chi phối tất cả các yếu tố của hình thức tác phẩm . Không phải
ngẫu nhiên mà sách giáo khoa hiện hành sắp xếp tác phẩm theo
thể loại và
mỗi khi dạy - học tới một thể loại nào đó sách giáo khoa thường nêu chú thích
về đặc trưng thể loại đó. Có một số thể loại có thể nói lướt qua nhưng cũng có
một số thể loại cần phải được học thật kỹ trên lớp. Vấn đề dạy học theo đặc
trưng thể loại đã được các nhà lý luận nghiên cứu phương pháp quan tâm.
Không thể có chung một loại phương pháp, cách thức dạy và học cho tất cả
các loại tác phẩm nói chung và từng tác phẩm nói riêng. Tác phẩm thuộc thể
loại nào đòi hỏi cách dạy theo đặc trưng của thể loại ấy. Khi xác định đúng
đặc trưng thể loại của tác phẩm thì GV sẽ lựa chọn được cách thức tổ chức,
hướng dẫn, định hướng phù hợp nhằm giúp HS nắm được toàn bộ nội dung và
nghệ thuật của tác phẩm để quá trình dạy học thực sự đạt kết quả.
14
Tìm hiểu thi pháp thể loại là cơ sở để phát hiện nét độc đáo của thi pháp
tác giả, thi pháp tác phẩm. Tiếp cận thi pháp thể loại không tách rời với việc
hiện trong mỗi màn, mỗi hồi kịch. Còn loại tự sự phản ánh đời sống trong tính
khách quan của nó qua con người, hành vi, sự kiện được kể lại bởi một người
kể chuyện nào đó. Tác phẩm tự sự hầu như không bị hạn chế bởi không gian
và thời gian. Nó có thể kể về những khoảnh khắc hay những sự kiện xảy ra
hàng trăm năm. Tầm bao quát cuộc sống trong tác phẩm rộng lớn. Nhân vật tự
sự được khắc họa đầy đặn nhiều mặt: bên trong, bên ngoài, cả điều nói ra và
không nói ra, cả ý nghĩ và cả cái nhìn, cả cảm xúc, tình cảm, ý thức và vô
thức, cả quá khứ, hiện tại và tương lai. Tác phẩm tự sự nào cũng có hình
tượng người trần thuật của nó. Hình tượng người trần thuật, kể chuyện rất đa
dạng: khách quan, ngôi thứ nhất, thông suốt, thông suốt có chọn lựa… và
cũng có khi người kể chuyện như một nhân vật… khi nhập thân, khi gián
cách, khi đứng ngoài, khi hòa nhập… ít nhiều ta vẫn nhận ra thái độ của họ.
Lời văn của loại tự sự có thể là văn vần hay văn xuôi nhưng luôn hướng
người đọc ra thế giới đối tượng, khác hẳn lời trữ tình hướng sự chú ý tới cảm
xúc, ý định chủ quan của người nói, khác hẳn lời thoại trong kịch. Lời nói của
nhân vật tự sự là một thành phần, một yếu tố của văn tự sự. Nó xuất hiện gắn
liền với sự miêu tả. Văn tự sự có chức năng tái hiện, phân tích sự vật qua
miêu tả và thuyết minh. Đặc biệt không bị hạn chế về không gian và thời gian,
nên nhà văn có thể miêu tả những vùng đất khác nhau, có thể lùi về dĩ vãng
hay đắm mình trong hiện tại, có thể lướt qua hoặc tập trung miêu tả một mặt
nào đó mà mình cho là quan trọng.
Trong tác phẩm tự sự hình tượng người trần thuật giữ một vai trò hết sức
quan trọng và luôn luôn muốn hướng dẫn, gợi ý cho người đọc nên hiểu nhân
vật, hoàn cảnh, thế này hoặc thế khác. Nếu truyện ngắn trữ tình với nét nổi bật
là tính “phi cốt truyện”, truyện không kể lại được vì cốt truyện không tiêu
biểu, thì truyện ngắn tự sự cốt truyện rất rõ nét, trong mỗi cốt truyện lại được
đan cài bởi các chi tiết, sự kiện, tình tiết, phản ánh trong mối quan hệ xã hội,
cuộc đời với những xung đột, mâu thuẫn gay gắt. Cốt truyện đóng vai trò
16
vật là lời trực tiếp của nhân vật trong tác phẩm, là thứ ngôn ngữ được miêu tả.
17
Đó thực chất cũng là ngôn ngữ của tác giả nhưng tác giả để cho nhân vật tự
giãi bày về mình. Ngôi kể của nhân vật trần thuật là ngôi thứ hai, thứ ba
nhưng cũng có thể được trần thuật ở ngôi thứ nhất, xưng tôi trong đối thoại.
Ngôn ngữ trần thuật của nhân vật có thể là đối thoại hay độc thoại. Đối thoại
gắn liền với việc những người nói hướng vào nhau và tác động vào nhau; độc
thoại không nhằm hướng đến người khác và tác động qua lại giữa người và
người. Ngôn ngữ trần thuật của nhân vật có nhiều chức năng khác nhau như:
chức năng phản ánh hiện thực, chức năng tự bộc lộ của nhân vật, chức năng là
đối tượng miêu tả của tác giả hoặc chức năng thể hiện nội tâm…. Qua trần
thuật, nhân vật kể lại cuộc đời của mình, bộc lộ tâm tư, suy nghĩ, chiêm
nghiệm về cuộc đời, lẽ sống, giúp người đọc lĩnh hội được tư tưởng, quan
niệm của nhà văn. Trong khi trần thuật, tác giả sử dụng nhiều giọng điệu,
nhiều sắc thái trên cơ sở một giọng điệu cơ bản chủ đạo, chứ không đơn
điệu.Tính chất hiện đại thể hiện trong ngôn ngữ trần thuật gần với ngôn ngữ
đời sống hơn, tính chất văn hoá vùng miền thể hiện ở chất giọng nhà văn,
người trần thuật không những kể chuyện mà còn chuyển tải những giá trị
văn hoá nằm sâu dưới lớp ngôn ngữ, làm cho nội dung trần thuật phong phú,
đặc trưng.
Truyện ngắn: là loại văn xuôi tự sự có hình thức ngắn gọn, nắm bắt và
thể hiện hiện thực cuộc sống. Nhà văn thường hướng tới khắc họa một hiện
tượng, phát hiện một nét bản chất nào đó trong quan hệ nhân sinh hay đời
sống tâm hồn con người. Tập trung về sự kiện, về chủ đề, về ấn tượng, luôn
luôn chú ý vào một vấn đề cơ bản với sự tỉ mỉ, chi tiết, loại bỏ những gì
thiếu súc tích. Nhân vật thường không nhiều và cuộc đời của nhân vật cũng
thường chỉ được miêu tả như một khoảnh khắc, mảnh nhỏ, nhưng lại có ý
nghĩa trong cả cuộc đời nhân vật nên nhịp điệu truyện ngắn khẩn trương, gấp