SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT CHUYÊN LƯƠNG THẾ VINH
Mã số: ................................
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG VIDEO CLIP GIẢNG DẠY
MỘT SỐ BÀI TRONG PHẦN
ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN LỚP 10
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Dung
Lĩnh vực nghiên cứu:
Phương pháp dạy học bộ môn Địa lý
Năm học 2015 - 2016
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: Nguyễn Thị Thanh Dung
2. Ngày, tháng, năm sinh: 13 - 02 - 1983
3. Giới tính: Nữ
4. Địa chỉ: 120/74/18A KP6, Tân Tiến, Biên Hòa, Đồng Nai
5. Điện thoại: 0989.777.655
6. Email:
7. Chức vụ: Phó Hiệu trưởng
8. Nhiệm vụ được giao: quản lý; giảng dạy lớp 10 Hóa 1, 10 Anh 2.
9. Đơn vị công tác: THPT chuyên Lương Thế Vinh
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
1.2. Quá trình nắm tri thức của học sinh ................................................... 5
1.3. Phương tiện dạy học .............................................................................. 5
1.4. Vai trò của video clip trong q trình dạy học ...................................... 6
Chương 2 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
2.1. Thực trạng dạy và học Đòa Lí hiện nay ở trường THPT ............................. 7
2.2. Nhận đònh chung về chương trình Đòa Lí tự nhiên lớp 10 ban Cơ bản ........ 8
2.3. Sử dụng video clip giảng dạy một số bài lớp 10 phần Địa Lý tự nhiên .......... 9
2.4. Rút kinh nghiệm khi sử dụng video clip để giảng dạy ................................. 22
2.5. Tổ chức thực nghiệm .................................................................................... 22
PHẦN 3 : KẾT LUẬN – ĐỀ XUẤT ........................................................ 26
Tài liệu tham khảo ........................................................................................... 28
GV : Nguyễn Thò Thanh Dung
1
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015-2016
Trường THPT chun Lương Thế Vinh
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong nhà trường và ngoài xã hội, rất nhiều người nghó Đòa Lý là môn học khô
khan, nhàm chán. Một số người cho rằng học sinh đến tiết học chỉ chép bài; khi trả bài
hoặc được kiểm tra chỉ cần học thuộc; kiến thức đơn điệu, lý thuyết, không ứng dụng
được. Môn Đòa cũng không tác động nhiều đến xu hướng chọn ngành nghề của đa số
học sinh cấp 3 khi lên Đại học. Do đó nhiều em còn thờ ơ, lãnh đạm, thiếu sự háo hức,
đam mê tìm tòi, khám phá và quan tâm đối với Đòa Lý.
GV : Nguyễn Thò Thanh Dung
2
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015-2016
Trường THPT chun Lương Thế Vinh
4. Giới hạn của đề tài
Phạm vi nghiên cứu :
- Đề tài giới hạn việc nghiên cứu, tìm hiểu và mở rộng kiến thức trong việc sử
dụng video clip (trong phạm vi SKKN này, xin được gọi là video clip, hoặc phim ảnh,
đoạn phim, video, clip v.v…) để đổi mới cách thức dạy học ở một số bài học tiêu biểu
trong chương trình Địa Lý tự nhiên lớp 10.
Đối tượng nghiên cứu :
- Một số bài dạy Đòa Lý tự nhiên phù hợp (bài 5,6,8,15).
- Học sinh 2 lớp 10 chun Anh 2 và chun Hóa 1.
GV : Nguyễn Thò Thanh Dung
3
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015-2016
Trường THPT chun Lương Thế Vinh
PHẦN 1
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
nhiều hạn chế trong việc truyền tải thông tin đến học sinh.
Để tiết học Đòa lý có thể thực sự hiệu quả, đạt mục tiêu đề ra, đồng thời gây hứng
thú đối với học sinh, cần sử dụng nhiều phương tiện dạy học khác nhau: bản đồ, quả
GV : Nguyễn Thò Thanh Dung
4
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015-2016
Trường THPT chun Lương Thế Vinh
đòa cầu, Atlat, tranh ảnh v.v… Tuy nhiên tính chất của các phương tiện này vẫn là tónh.
Trong khi đó, các video clip với điểm đặc biệt là kết hợp được cả âm thanh, hình ảnh,
lời nói, truyền tải được kiến thức. Do đó, các video clip sẽ giúp tăng khả năng nhận
thức, tiếp cận các đối tượng đòa lí của học sinh nhiều hơn.
1.2. Quá trình nắm tri thức của học sinh
Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc của con người. Ban đầu,
nhận thức còn đơn giản, cùng với sự phát triển của xã hội, nhận thức của con người
ngày càng phát triển đa dạng, phong phú và sâu sắc, thể hiện tính khoa học và khách
quan hơn.
Theo Lênin, nhận thức của con người trải qua hai giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất
là nhận thức cảm tính thông qua hệ thống các giác quan, vì vậy mang tính chủ quan.
Giai đoạn thứ hai là nhận thức lý tính. Trong giai đoạn này bằng sức mạnh của tư duy
trừu tượng con người sẽ rút ra được những khái niệm, quy luật.
Trong dạy học K.D.Usinxky cũng nói “Việc dạy học không dựa trên những biểu
tượng trừu tượng mà dựa trên những hình ảnh cụ thể do học sinh trực tiếp tri giác
được : những hình ảnh này hoặc do học sinh tri giác ngay khi học dưới sự hướng dẫn
của giáo viên hoặc do các em độc lập quan sát trước đó. Giáo viên sẽ tìm ở các em
những hình ảnh có sẵn mà dạy. Tiến trình dạy học này đi từ cụ thể đến trừu tượng,
2 nhóm: phương tiện dạy học truyền thống và phương tiện dạy học hiện đại.
Trong hệ thống phương tiện dạy học, các video clip được xếp vào nhóm phương
tiện dạy học hiện đại.
1.4. Vai trò của video clip trong quá trình dạy học
So với các phương tiện dạy học khác, các video clip có những vai trò nổi bật:
- Video clip giúp học sinh nắm vững kiến thức và ghi nhớ tốt hơn.
Thật vậy, như mục 1.2 đã trình bày, khả năng tiếp nhận và ghi nhớ kiến thức của
học sinh có được tốt nhất thông qua các tri giác như thính giác, thị giác… Khi xem video
clip, học sinh được tiếp xúc trực tiếp với hình ảnh, âm thanh, lời nói, do đó kiến thức
được truyền tải bằng nhiều đường, nội dung bài học sẽ có hiệu quả, được ghi nhớ nhanh
và khắc sâu tốt hơn.
- Video clip giúp học sinh có thể nắm được các đối tượng địa lý tốt hơn.
Thông qua các đoạn phim, học sinh có thể quan sát các đối tượng, hiện tượng địa lý
ở quá xa không thể trực tiếp đến gần, hoặc quá lớn (như vũ trụ, Trái đất…), quá nhỏ (sự
dịch chuyển của các mảng kiến tạo, phong hóa sinh vật…), không tiếp cận được. Thậm
chí cả những quá trình, hiện tượng khó hình dung như vòng tuần hoàn nước, gió, khí áp
v.v… cũng được diễn tả lại. Các đoạn phim có thể giúp hình dung lại những điều đã xảy
ra trong quá khứ hoặc dự báo những hiện tượng sắp đến trong tương lai. Bằng âm thanh,
hình ảnh, màu sắc, lời nói, các video góp phần giúp học sinh quan sát, tư duy và hiểu về
đối tượng địa lý cũng như sự phát triển của chúng nhiều hơn.
- Video clip có thể được sử dụng rất linh hoạt.
Trong video có kèm theo thuyết minh, giải thích, bình luận, học sinh sẽ tập trung
chú ý lắng nghe vào những vấn đề trọng tâm của clip. Do đó, video có thể sử dụng khi
học tập trên lớp, ở nhà, ôn tập kiểm tra, rất dễ nhớ, nhớ lâu hơn. Giáo viên cũng có thể
dùng các video clip để kiểm tra bài cũ, bằng cách ngắt âm thanh và yêu cầu học sinh trả
lời câu hỏi. Hình thức có thể sử dụng đối với cá nhân, hoặc tập thể lớp. Khi dạy học có
trình chiếu các video clip, thời gian chiếu phim cũng là lúc giáo viên có thể có thời gian
chuẩn bị tốt cho các hoạt động học sắp tới của cả lớp, giúp chủ động, linh hoạt về thời
gian hơn.
Là một loại phương tiện mang tri thức, vai trò của việc dùng video clip trong dạy
Đòa Lý của các em còn khá kém. Còn việc sử dụng video khi giảng dạy thì tùy vào
điều kiện cơ sở vật chất, đặc điểm của học sinh, tùy thuộc vào sự tận tâm tìm kiếm
phương pháp mới khi giảng dạy của các thầy cô. Do đó, việc giảng dạy bằng phương
pháp này chưa thực sự phổ biến.
Đặc biệt là đối với chương trình Đòa Lý tự nhiên lớp 10, có nhiều kiến thức khó
hoặc bò xem là khô khan, nhiều thầy cô còn có tâm lý ngại dạy, khó nói. Trong khi đây
lại là những kiến thức rất thực tế và cần thiết để học sinh nắm bắt và quan sát đồng
thời hiểu được những quy luật trong tự nhiên. Đồng thời đây là nền tảng để em nắm
các kiến thức về kinh tế xã hội cũng như tạo niềm say mê hứng khởi đối với Đòa Lý
trong những năm học về sau. Chính vì thế nên việc sinh động hóa những kiến thức này
bằng cách dùng video clip khi giảng dạy để việc học Đòa Lý trở nên gần gũi, nhẹ
nhàng và được các em quan tâm, đó là điều quan trọng, đòi hỏi sự đầu tư của giáo
viên.
2.1.1. Những vấn đề cụ thể trong việc tổ chức dạy học của giáo viên :
Sách giáo khoa viết theo lối mở, u cầu giáo viên phải cập nhật thơng tin và am
hiểu về các đối tượng, hiện tượng Địa lí, song nhiều giáo viên khi dạy còn rập khn máy
móc, chỉ liệt kê những kiến thức ở sách giáo khoa, khơng giải thích, mở rộng. Khi kiểm
tra, đánh giá chỉ cho học sinh học thuộc những gì được ghi trong vở, còn các kĩ năng, vận
dụng thì khơng thực hiện được dẫn đến học sinh chỉ nắm kiến thức một cách thụ động,
máy móc mà khơng phát huy được tính sáng tạo.
GV : Nguyễn Thò Thanh Dung
7
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015-2016
Trường THPT chun Lương Thế Vinh
Có nhiều cách để học sinh chú ý học tập hơn. Một trong những phương pháp được
nhận thức đúng, thường xun thanh - kiểm tra thì các tiết dạy có tác dụng tốt, kích thích
được ý thức, thái độ học tập của HS và ngược lại.
2.2. Nhận đònh chung về chương trình Đòa Lí tự nhiên lớp 10 ban Cơ bản
Sách giáo khoa là một công cụ thiết yếu, cơ sở để tiến hành hoạt động dạy học
của giáo viên, học sinh. Hình thức trình bày, nội dung kiến thức của sách giáo khoa
ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng dạy và học. Vì thế, khi tiếp cận với thực tế dạy
học Đòa Lí ở trường phổ thông, chúng ta rất cần tìm hiểu về nội dung sách giáo khoa
của chương trình.
Chương trình Đòa lý 10 bao gồm 2 nội dung chính là Đòa lý tự nhiên đại cươngv à
Đòa lý kinh tế-xã hội đại cương. Các nội dung này là tiền đề quan trọng, là nền cơ bản
để học sinh có thể học tốt kiến thức ở những năm sau. Trong đó, phần Đòa Lí tự nhiên
GV : Nguyễn Thò Thanh Dung
8
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015-2016
Trường THPT chun Lương Thế Vinh
đại cương giữ vai trò rất quan trọng trong tổng thể khoa học Đòa Lí lẫn môn Đòa Lí
được giảng dạy trong nhà trường. Tuy nhiên kiến thức khá dài và trừu tượng, nhiều
khái niệm học sinh chưa được tiếp cận nhiều, khó hình dung (ví dụ gió, khí áp, sóng
thần, thuyết kiến tạo mảng v.v…)
Phần Đòa Lý tự nhiên chiếm 17 bài, từ bài 5 đến bài 21, chia làm 3 chương
Chương II – Vũ trụ. Hệ quả các chuyển động của Trái Đất có 2 bài. Chương III – Cấu
trúc Trái Đất. Các quyển của lớp vỏ Đòa Lý gồm 13 bài. Chương IV – Một số quy luật
của lớp vỏ Đòa Lý có 2 bài.
Chương đầu giới thiệu về các chuyển động của Trái Đất, chỉ 2 bài nhưng bao hàm
những kiến thức quan trọng và cũng khá khó truyền đạt. Chương tiếp theo học về toàn
GV : Nguyễn Thò Thanh Dung
9
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015-2016
Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh
clip, không trình bày cả bài giảng vì có rất nhiều phần không liên quan đến mà nội dung
đề tài sáng kiến kinh nghiệm đề cập.
Bài 5 : VŨ TRỤ, HỆ MẶT TRỜI , TRÁI ĐẤT.
HỆ QUẢ CHUYỂN ĐỘNG TỰ QUAY QUANH TRỤC CỦA TRÁI ĐẤT
* Mục tiêu bài học : HS cần
- Nhận thức được Vũ trụ là vô cùng rộng lớn. Hệ Mặt Trời trong đó có Trái Đất chỉ
là một bộ phận bé nhỏ trong Vũ trụ.
- Hiểu khái quát về hệ Mặt Trời, Trái Đất trong hệ Mặt Trời.
- Giải thích được các hiện tượng: sự luân phiên ngày – đêm, giờ trên Trái Đất, sự
lệch hướng chuyển động của các vật thể trên bề mặt Trái Đất.
- Xác định hướng chuyển động của các hành tinh trong hệ Mặt Trời, vị trí của Trái
Đất trong hệ Mặt Trời.
- Xác định các múi giờ, hướng lệch của các vật thể khi chuyển động trên bề mặt đất.
* Phƣơng pháp dùng video clip trong bài
Nội dung bài là giới thiệu về Vũ trụ, Hệ Mặt trời, Trái đất trong hệ Mặt trời, hệ quả
của chuyển động tự quay quanh trục của Trái đất. Đây là các đối tượng địa lí có phạm vi
kích thước rộng lớn, khó tưởng tượng và hình dung, nhưng lại cần xác định được chính
xác hình dạng, vị trí, so sánh kích thước giữa các đối tượng với nhau… Do đó tôi tìm một
đoạn clip ngắn nói về quá trình hình thành vũ trụ để học sinh hình dung được nguồn gốc
ban đầu của các đối tượng địa lí trong bài này, đồng thời nắm được các hình dạng khác
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015-2016
Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh
Mặt Trời. Đồng thời giảng thuật thêm 1 số điều về kích thước của vũ trụ (so sánh bằng
năm ánh sáng và đời người) để học sinh hình dung được độ lớn của không gian.
Sau đó, để chuyển sang phần Hệ quả, tôi chiếu 1 đoạn phim ngắn 1 phút. Đoạn
phim này nói về hiện tượng Trái Đất tự quay quanh trục, có ánh sáng chiếu ban ngày và
ban đêm, có các đường kinh tuyến trên Trái Đất.
Đoạn clip có tác dụng minh họa rất rõ việc chuyển động tự quay quanh trục của Trái
Đất, với ánh sáng chiếu từ một hướng, cho thấy sự luân phiên ngày đêm. Với clip này,
chiếu xong, tôi mới đặt câu hỏi.
Câu hỏi như sau:
- Quan sát đoạn clip xong, em cho biết chuyển động tự quay quanh trục của Trái đất
gây nên hiện tượng gì? Mô tả hiện tượng em quan sát thấy.
Học sinh trả lời hệ quả một: đó là sự luân phiên ngày đêm và mô tả v.v…
Liên hệ phần hệ quả 1 và hệ quả 2, dùng luôn đoạn clip đó, câu hỏi tiếp theo là:
- Các khu vực khác nhau trên Trái đất có ngày và đêm khác nhau, vậy thì giờ ở các
nơi đó như thế nào?
Sau khi học sinh trả lời xong, giáo viên hỏi thêm học sinh về các loại giờ trên Trái
đất, cho dừng đoạn clip tại vị trí như hình để giảng thuật thêm về giờ địa phương (giờ
Mặt Trời), giờ múi… Sau đó là đến giờ GMT, đường chuyển ngày quốc tế v.v…
Phần còn lại là Sự lệch hướng chuyển động của vật thể. Để đảm bảo nội dung kiến
thức được truyền tải phù hợp, tôi dùng phương pháp giảng thuật chứ không dùng video
clip nữa. Dùng video clip trong phần này, bản thân tôi thấy không phù hợp.
Tôi còn sử dụng hình cắt ra từ clip như trên để học sinh làm bài kiểm tra viết hoặc
kiểm tra bài cũ. Ví dụ:
- Quan sát hình cắt ra từ clip, em hãy cho biết hình nói về hiện tượng gì? Mô tả hiện
tượng và nêu nguyên nhân.
Chuyển sang hiện tượng mùa, trước khi vào phần này, cho hs quan sát 4 bức tranh
thời tiết, cảnh vật để hs đốn ra những bức tranh nói về hiện tượng gì. Sau đó u cầu học
sinh giải thích tại sao có các mùa, tại sao 4 mùa lại có thời tiết khác nhau. HS giải thích
xong, giáo viên chiếu tiếp đoạn phim lúc nãy để kiểm chứng. Đoạn phim này nói về
ngun nhân hiện tượng 4 mùa. Nhờ có đoạn phim, phần mơ tả bằng lời của giáo viên sẽ
dễ hiểu, ngắn gọn, học sinh có thể quan sát trực tiếp góc chiếu của tia sáng MT lên mặt
đất, thời gian chiếu sáng ở các mùa của cả 2 bán cầu một cách trực quan hơn, khắc sâu ấn
tượng và dễ nhớ hơn, vì hệ quả này khi giải thích khơng dùng video clip thì khó hình
dung. Khi học sinh xem phim xong, GV chuẩn lại kiến thức.
GV : Nguyễn Thò Thanh Dung
13
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015-2016
Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh
Khi dạy đến phần ngày đêm dài ngắn theo mùa và theo vĩ độ, trước tiên giáo viên
gợi ý để học sinh dễ hình dung : trong thực tế, có những ngày trời tối rất muộn, 6 giờ hơn
trời vẫn còn sáng, nhưng ngược lại có những ngày mới 5 giờ trời đã xẩm tối. Buổi sáng
cũng vậy, có thời gian 4 giờ trời đã hửng sáng, trong khi có mùa phải 6 giờ mới thấy le
lói bình minh. Đồng thời gợi ý hs nhớ lại câu ca dao của Việt Nam có nhắc đến hiện
tượng này. Như vậy là có hiện tượng khi ngày dài, đêm ngắn và ngược lại. Trên thực tế
có những nơi có hiện tượng ngày hoặc đêm dài cả 24 giờ hoặc thậm chí 6 tháng liên tục.
Sau đó GV cho học sinh xem 1 đoạn clip dài khoảng 2 phút, nói rất rõ về hiện tượng
này, cụ thể là hiện tượng đêm trắng.
lời thuyết minh dễ hiểu, ổn định, khơng thay đổi sẽ là những yếu tố thuận lợi để học sinh
học bài và ghi nhớ tốt hơn, khắc sâu bài học dễ dàng hơn.
Bài 8 : TÁC ĐỘNG CỦA NỘI LỰC ĐẾN ĐỊA HÌNH BỀ MẶT TRÁI ĐẤT
* Mục tiêu bài học
Sau bài học, HS cần:
- Trình bày khái niệm nội lực và nguyên nhân sinh ra nội lực
- Trình bày tác động của nội lực thể hiện qua vận động kiến tạo theo phương
thẳng đứng và theo phương nằm ngang
GV : Nguyễn Thò Thanh Dung
15
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015-2016
Trường THPT chun Lương Thế Vinh
- Quan sát hình vẽ, tranh ảnh, băng… về các tác động của nội lực để nêu được kết
quả của sự tác động đó
* Phƣơng pháp dùng video clip trong bài
Trước khi vào bài học, để thu hút sự chú ý và say mê của hs, tơi cho hs quan sát
đoạn phim ngắn về các dạng địa hình khác nhau trên bề mặt TĐ. Sau đó phát vấn hs : tại
sao có nhiều dạng địa hình khác nhau như vậy, nơi là đồng bằng, nơi đại dương, nơi lại là
núi cao, thung lũng… Hs sẽ phát biểu ngun nhân do nội lực. Từ đó đi đến định nghĩa
và nguồn gốc sinh ra nội lực.
Sau đó cho hs xem đoạn phim ngắn trong phim hoạt hình nổi tiếng Ice Age – Kỉ
băng hà, nói về hiện tượng các lục địa bị trơi dạt và tách giãn, ngun nhân chính là do
nội lực trong lòng đất tạo ra. Từ đó dẫn đến phần Các tác động của nội lực.
Về tác động của nội lực, khi nói đến vận động theo phương thẳng đứng, cho hs quan
Bài 15 : THỦY QUYỂN. MỘT SỐ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI
CHẾ ĐỘ NƯỚC SÔNG. MỘT SỐ SÔNG LỚN TRÊN TRÁI ĐẤT
* Mục tiêu bài học
Sau bài học, HS cần:
- Trình bày được khái niệm thủy quyển
- Mô tả được vòng tuần hòan nhỏ và vòng tuần hòan lớn của nứơc trên Trái đất
- Phân tíchhình ảnh để nhận biết các vòng tuần hòan nước
GV : Nguyễn Thò Thanh Dung
18
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015-2016
Trường THPT chun Lương Thế Vinh
- Trình bày được một số nhân tố ảnh hưởng tới chế độ nước của một con sông.
Biết cách phân loại sông theo nguồn tiếp nước
- Phân biệt được mối quan hệ giữa các yếu tố tự nhiên với chế độ dòng chảy của
một con sông
* Phƣơng pháp dùng video clip trong bài
Mở đầu bài học có một nội dung quan trọng, đó là vòng tuần hồn nước. Khi giảng
đến phần này, tơi đặt câu hỏi phát vấn:
- Vòng tuần hồn nước là gì?
- Có mấy vòng tuần hồn nước? Mỗi vòng tuần hồn hoạt động như thế nào, cơ chế
ra sao?
Khi học sinh trả lời xong, tơi chuẩn kiến thức và cho hs xem đoạn clip về vòng ln
chuyển của nước, clip trình bày cả vòng tuần hồn nhỏ và lớn. Hoặc cũng có thể tùy tình
hình lớp, tơi cho xem đoạn clip trước và u cầu học sinh mơ tả các vòng tuần hồn, chu
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015-2016
GV : Nguyeãn Thò Thanh Dung
Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh
21
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015-2016
Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh
Đồng thời khi chiếu các đoạn phim đó xong, yêu cầu nêu ảnh hưởng của rừng hoặc
hồ đối với khả năng điều tiết nước sông. Từ đó giáo dục các em ý thức bảo vệ rừng để
bảo vệ nguồn nước và tính mạng, tài sản con người.
Như vậy, trong 4 bài học trên lấy ví dụ làm mẫu, tôi chủ yếu sử dụng các đoạn clip
có liên quan để thay thế các nội dung kiến thức khô khan, khó hình dung và khó chuyển
tải. Sau đó chèn vào Power Point và trình chiếu. Khi sử dụng cũng linh hoạt, tùy lúc. Có
khi gv trình bày, lúc khác để học sinh sử dụng khai thác kiến thức, hoặc dùng khi hs
thuyết trình, chơi trò chơi. Cũng có thể sử dụng để kiểm tra kiến thức của học sinh sau
khi học xong. Đó là những biện pháp để làm cho tiết học trở nên sinh động, có sức sống,
giúp hs có hứng thú say mê hơn với môn học khi được hoạt động, theo dõi thực tế. Điều
này sẽ giúp các em học tốt, nắm bắt kiến thức nhanh và khắc sâu ấn tượng về những gì
được học. Đồng thời, nó giúp tiết học trở nên bớt khô khan, nhàm chán với những kiến
thức lý thuyết đơn thuần.
2.4. Rút kinh nghiệm khi sử dụng video clip để giảng dạy
Trong quá trình giảng dạy có sử dụng video clip, kinh nghiệm tôi rút ra được là:
- Cần tìm hiểu thật kĩ nội dung bài học, những vấn đề nào thật sự cần thiết, thiết
thực (đối tượng, hiện tượng khó hình dung, trình bày bằng lời không hiệu quả, những vấn
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015-2016
Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh
sâu và ghi nhớ tốt hơn. Ví dụ bài 5,6, lớp 10 Anh 2 học với video clip còn 10 Hóa 1 thì
không.
Kết quả kiểm tra 15 phút (lần 1) sau khi học xong bài 5 như sau:
Lớp
Sĩ số
Điểm
1
3
4
5
6
7
8
9
10 Anh 2
26
9
4
0
Phổ điểm của lớp 10 Anh 2 tương đối đều nhau và không có điểm thấp như lớp 10
Hóa 1. Các lần kiểm tra 15 phút và 45 phút sau đó cũng tương tự. Do đó điểm trung bình
hk 1 của lớp Anh nhìn chung cao hơn. Ở đây xin chỉ phân tích 1 lần kiểm tra và đính kèm
bảng điểm học kì I của cả 2 lớp để tiện cho việc tham khảo, đối chiếu (vì đề tài nghiên
cứu trong phạm vi học kì I nên chỉ để bảng điểm học kì I của học sinh).
Qua thực hiện khảo sát về việc học tập Địa Lí với các bài học có dùng video clip
của học sinh 2 lớp, kết quả thu nhận được tương đối khả quan.
GV : Nguyeãn Thò Thanh Dung
23